Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu sơ lược về cây dưa lưới Dưa lưới (Cucumis melo L.) là loại rau ăn quả có thời gian sinh trưởng ngắn, trồng được nhiều vụ trong năm với năng suất khá cao. Là loại rau được ưa chuộng vì hình dang và màu sắc dep mắt, ngoài ra dưa lưới còn cung cấp nhiều vitamin A (B — carotene), vitamin C, vitamin E, axit folic là những chất chống oxy hóa quan trọng trong quá trình biến dinh dưỡng của con người. Dưa lưới hiện nay được trồng khá phô biến trên thế giới như Uc, New Zealand, Hàn Quốc, Việt Nam và một số nước khác. Tại Thành phó Hồ Chí Minh dưa lưới được trồng trên nền giá thể, tưới dung dịch dinh dưỡng qua hệ thống tưới hiện đại trong nhà màng.
Tuy nhiên, những năm gan đây tránh sử dụng quá nhiều phân bón hóa học, vừa làm ô nhiễm môi trường, vừa tiêu tốn về mặt đầu tư mọi người bắt đầu tận dụng những phụ phẩm nông nghiệp dé làm giá thé hoặc cung cấp dinh dưỡng thay thé. Phân hữu co mang lại rất nhiều lợi ích như hạn chế ô nhiễm môi trường, giải quyết nguồn rác thải hữu cơ, cung cấp chất min cho dat, hạn chế rửa trôi, xói mòn dat, cân bằng hệ vi sinh.1 Nguồn gốc, phân bồ và phân loại thực vật Dưa lưới (Cucumis melon L.) thuộc nhóm song tử diệp (2n = 24), cây dạng thân leo là cây trồng đã tồn tại hàng ngàn năm. Theo Lim (2012) dua lưới có nguồn gốc ở Châu Phi và An Độ. Người Ai Cập là người đầu tiên trồng loại cây nay, sau đó là người Hy Lạp và Romans.
Cây dưa lưới lần đầu tiên được Cristoforo Colombo đưa đến Bắc Mỹ trên chuyến hành trình lần thứ hai ông đến Tân Thế Giới vào năm 1494. Dưa lưới (Cucumis melon L.) thuộc Giới: Plantae Ngành: Magnoliophyta (Ngành Ngọc lan) Lớp: Dicotyledoneae (Lớp Hai lá mầm) Bộ: Cucurbitales (Bộ Bau bi) Ho: Cucurbitaceae (Ho bau bi) Chi: Cucumis Loài: Cucumis melo Dưa lưới được đưa đến Hoa Ky trong thời thuộc dia nhưng không phát triển thương mại mãi cho đến cuối thế ki XIX. Hiện nay, dưa lưới được trồng rộng rãi trên khắp thé giới như: Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Ky, Ai Cập, Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam. Tại Việt Nam đưa lưới được trồng nhiều ở các khu vực Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ do điều kiện đất đai và khí hậu thích hợp, hầu hết được trồng trong nhà màng và sử dụng hệ thống tưới hiện đại.2 Đặc điểm thực vật học Dưa lưới là rau ăn quả có thời gian sinh trưởng ngắn, từ khi gieo hạt đến ra hoa khoảng 23 — 35 ngày, sau khi đậu quả 30 — 45 ngày có thé thu hoạch, nhưng còn tuỳ thuộc vai giống, thời vụ và chế độ chăm sóc.
Rễ: bộ rễ dua phát triển rất yếu, rễ chi phân bố ở tầng đất mặt 30 — 40 cm. Bộ rễ chính tương đối phát triển, phân bồ ở tầng canh tác có độ sâu từ 0 — 30 cm, rộng 50 — 60 cm. Nếu dat tơi xốp rễ chính có thé ăn sâu từ 60 — 100 cm, nếu trong điều kiện lý tưởng thì rễ có thể ăn sâu nữa. Theo Nguyễn Xuân Linh (1998), rễ đưa lưới là rễ chùm, rễ cây ít ăn sâu mà phát triển theo chiều ngang.
Đầu chóp rễ có sức phân nhánh mạnh, trong điều kiện đất thích hợp thì rất nhanh hình thành bộ rễ có nhiều nhánh, sẽ có lợi cho sự hút nước và dinh dưỡng. Thân: Thân cây dưa lưới là bộ phận tối quan trọng của cây, là con đường vận chuyền nước và chất dinh dưỡng từ rễ đến các phần khác nhau ở cây. Thân cây dưa lưới có chiều cao từ 30—150 cm, có bề mặt khá san sùi, có thể có lông cứng và lông tơ nhỏ, tua cuốn giúp thân bám vào môi trường. Dưa lưới có khả năng phân cành mạnh, số lượng cành có thể lên đến 22-28 cành/cây khi ở điều kiện thuận lợi (Mai Thị Phương Anh, 1996).
Tạ Thu Cúc (2005) cho rằng giai đoạn ra hoa là giai đoạn cây phát triển nhanh nhât về chiêu cao. Lá: lá của cây dưa lưới có hai dạng lá mầm và lá thật. Lá mầm có hình trứng tròn đài làm nhiệm vụ quang hợp tạo vật chất nuôi cây và lá mới. Hai lá mam đầu tiên mọc đối xứng nhau qua đỉnh sinh trưởng, hình trứng.
Lá thật là những lá mọc cách trên thân chính, có màu xanh thẫm, có độ lớn tối đa vào thời kỳ sinh trưởng ra hoa rộ, dạng lá hơi tam giác (hình chân vịt 5 cạnh) hai mặt phiến lá đều có lông, với cuống lá đài 5 — 15 cm, ria nguyên hay có răng cưa. Trên lá và cuống lá có lớp lông phủ dày, lớp lông nay có tác dụng bảo vệ và chống thoát hơi nước (Mai Thị Phương Anh và cs, 1996). Hoa: đơn tính hoặc lưỡng tính, mọc ở nách lá. Hoa đực mọc thành chùm, hoa cái hoặc hoa lưỡng tính mọc riêng lẻ.
Cuống hoa dài 0,5 đến 3 cm, lá đài dài 6 — 8 mm. Tràng hoa hình chuông, hoa năm cánh màu vàng, xẻ năm thùy. Hoa đực xuất hiện trước ở nách lá có thé có một hay nhiều hoa đực, thụ phan nhờ côn trùng. Hoa cái đầu tiên trên nhánh ở vị trí nách lá thứ bảy trở đi dé đậu quả cho quả tốt (Mai Thị Phuong Anh vả cs, 1996) Quả: Quả rất da dang trong kích cỡ và hình dạng, hình cầu hoắc hình thuôn, bang phẳng hoặc có nếp nhăn, vỏ trái không có lông, xù xì và có lưới, màu xanh xám đến vàng sam, vàng nâu hoặc xanh, nhiều hạt.
Kích thước quả tùy thuộc theo giống. Thịt quả có màu vàng, cam hoặc trắng. Quả mọng nước có vị thanh (Phan Quang Hương, 2018). Vân lưới: Vỏ quả dưa lưới có nhiều dạng vân lưới khác nhau, có vân lưới nổi và vân lưới chìm, vân lưới thưa và vân lưới dày, vân lưới to và vân lưới nhuyễn, vân lưới liền và đan đều mặt vỏ quả hoặc dạng vân lưới đứt khúc có một số giống vân lưới bị nứt và một sồ giống không có vân lưới.
Hạt: hạt quả dưa lưới có nhiều hạt dạng hình trứng hoặc bầu dục, màu trăng hoặc trắng ngà, det ( Mai Thi Phương Anh va ctv, 1996) 1.3 Yéu cau sinh thai Nhiệt độ: nhiệt độ tối ưu cho cây phát triển từ 18 — 28°C, phát triển chậm khi nhiệt độ dưới 12°C. Dưa có thé chịu được nhiệt độ lên tới 35°C nhiều giờ mỗi ngày. Ngược lại là cây rất yêu chịu nhiệt thấp nhất là giai đoạn ra hoa và hình thành quả. ở nhiệt độ đưới 15°C có hiện tượng rụng nu, phan không tung và sự thụ phan không được 5 thực hiện.
Nhiệt độ thích hợp dé cây ra hoa là 20 — 22°C vào buổi sáng và 25 — 27°C vào buổi trưa. Ánh sáng: đưa lưới là cây ưu sáng nên cần nhiều ánh sáng trong suốt quá trình sinh trưởng của cây. Cây thiếu sáng sẽ làm giảm tỷ lệ đậu quả, kích thước quả và khả năng tích lũy đường trong quả kém. Trời âm u, mây nhiều dẫn đến chất rắn hòa tan trong quả giảm.
Yêu cầu ánh sáng cho dưa từ 8 — 12 giờ. Quang kì ngắn kết hợp với ánh sáng mạnh sẽ thúc đây cây ra hoa cái nhiều, tăng tỷ lệ đậu quả, quả chín sớm năng suất cao (Mai Thị Phương Anh và cs, 1996) Giá thé: cây phát triển tốt trên đất nhiều mun, pH 6 — 7, không hịu được đất chua va ung nước (Ta Thị Thu Cúc,2005). Am độ: thích hợp từ 75 — 80 %. Dưa lưới ưa thời tiết mát mẻ, không trồng được ở vụ có nền nhiệt độ cao, thời kỳ đậu quả được 15 — 20 ngày không được tưới nước quá am và không dé đọng nước.4 Giá trị dinh dưỡng cây dưa lưới Dưa lưới là rau ăn quả có thời gian sinh trưởng ngắn, trồng được nhiều vụ trong năm với năng suất khá cao.
Dưa lưới chứa ít chất béo, không có cholesterol và là nguồn nguyên liệu cung cấp giàu vitamin A, C, kali và một lượng nhỏ vitamin E, folic acid, sắt và canxi. Dưa lưới có hàm lượng nước cao giúp giải khát và có thể làm món ăn tráng miệng.Dưa lưới cung cấp nhiều chất xơ, có tác dụng hỗ trợ tiêu hóa, chống táo bón và nhuận tràng. 1 Giá trị dinh dưỡng trong 100g dưa lưới Chỉ tiêu Hàm lượng Chỉ tiêu Hàm lượng Calcium 9,0 mg Lipid 0,18 mg Copper 0,085 mg Sugars 7,88 g Iron 0,38mg Protein 0,82 g Magnesium 13,0 mg Carbohydrates 8,16 g Phosphorus 17,0 mg Calories 38 kcal Potassium 157,0 mg Zine 0,44 mg Vitamin A 232,00 ug Vitamin E 0,05 mg Vitamin C 10,90 mg Vitamin B6 0,04 mg (USDA, 2022) 1.5 Sau bệnh hại chính trên dưa lưới Việc tìm hiểu về sâu bệnh hại chính trên từng cây trồng cụ thể là cơ sở cho sự chuẩn bị các biện pháp phòng trừ kịp thời, đúng lúc, lựa chọn loại thuốc phù hợp với cây trồng. Theo sở Khoa học và Công nghệ Tiền Giang (2018).
Bọ trĩ (Thrips palmi Karny): Bọ trĩ xuất hiện ngay từ khi cây còn nhỏ, sau đó phát triển mạnh dan khi cây lớn lên và làm cho thân, cành, lá dan bị xoăn lại, cứng va giòn hơn. Bọ trĩ nằm rải rác trong các mô lá, chúng hút dịch cây. Bọ trĩ có khả năng lẫn tránh nhanh bằng cách giả chết rơi xuống đất hoặc di chuyên nhanh sang lá khác. Chúng hoạt động cả ngày lẫn đêm.
Bọ trĩ đẻ trứng trong lá, cả trùng lặp và trùng lặp thường sống ở mặt dưới lá và hay chui vào những noi gan gũi. Bo trĩ truyền bệnh do virus làm vàng và xoăn lá, cây không chết nhưng ra hoa mà không cho kết quả Ray mềm (4phis gossypii): Âu trùng lẫn thành trùng đều rất nhỏ, độ dài 1 - 2 mm, có màu vàng, sông thành đám đông ở mặt dưới lá non từ khi cây có hai lá mầm đến khi thu hoạch, chích hút nhựa cây làm cho ngọn cây dưa lưới chùn đọt, sinh trưởng kém và lá bị vàng. Rầy còn là mô giới lan truyền bệnh khảm virus cho cây đưa lưới. Sâu xanh ăn lá (Diaphania indica): sinh ra từ loài bướm nhỏ có kích thước khoảng 10 mm.
Sâu xanh trên dưa lưới đi chuyển khá chậm và thường lẫn trốn trong những chiếc lá nên rất khó thấy. Biện pháp phòng trừ: thăm vườn thường xuyên để phát hiện sớm sâu hại; vệ sinh vườn sau thu hoạch tránh dé trứng sâu và nhộng còn tồn lưu trong đất, cỏ đại. Các dich hại chính trên dưa lưới: Bệnh chết rạp cây con (Rhizoctonia solani): Cô rễ thường bị thối nhũn, cây dé ngã, lá non xanh, sau vài ngày cây khô héo. Nam chỉ gây hại ở giai đoạn cây con có 1 - 2 lá thật, bệnh làm thối đít quả.