Chương 1: Giới thiệu. Tổng quan, trình bày tổng quan về nền tảng nghiên cứu, vấn đề, câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu, phạm vi và phương pháp nghiên cứu đồng thời nêu ý nghĩa của nghiên cứu và kết cấu của nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết. Trong chương này, nhóm nghiên cứu tổng hợp các khái niệm, định nghĩa, các lý thuyết liên quan đến eWOM, Hình ảnh thương hiệu và Ý định lựa chọn.
Đồng thời, nhóm nghiên cứu tóm tắt các mô hình nghiên cứu của các học giả đi trước. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Nội dung của chương này là các vấn đề liên quan đến phương pháp nghiên cứu mà nhóm nghiên cứu sử dụng nhằm đạt được mục tiêu nghiên cứu của đề tài. Cac nôi dung nay bao gôm tư viêc xây dưng mô hinh, thiêt lâp gia thuyêt nghiên cưu, quy trinh nghiên cưu, xây dưng va kiêm đinh thang đo, phân tich mâu nghiên cưu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Sau khi đã xây dưng được cac TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat thang đo các yếu tố của eWOM ảnh hưởng đến hình ảnh thương hiệu và ý định lựa chọn trường ĐH, nhóm tac gia tập trung phân tích mối quan hệ giữa cac yếu tố và mức độ ảnh hưởng, đồng thời tìm ra sự khác biệt giữa các nhóm yếu tố. Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị. Nêu nhưng đanh gia va kêt luân chung cho toàn bộ đề tài.
Nôi dung bao gôm viêc tông kêt nghiên cưu mô ta nhưng kêt qua đa thưc hiên đươc, đưa ra nhân xet va đê xuât hàm ý quản trị. Cuôi cung la nhưng đong gop cua đề tài vê măt khoa hoc, phương phap cung như y nghia thưc tiên, những hạn chế và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. XXI TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat CHƯƠNG 2: CƠ SƠ LY THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨỨ́U 2. TRUYỀN MIỆNG ĐIỆN TỬ 2.
Khái niệm truyền miệng Trong nhiều thế kỷ trước, người ta thường trao đổi trực tiếp với nhau về những kinh nghiệm, thông tin thông qua truyền miệng truyền thống (WOM – Word of Mouth). Luồng thông tin được truyền từ người này sang người kia theo kinh nghiệm của bản thân trong việc xác định hình ảnh thương hiệu hay trải nghiệm về một sản phẩm. Trong lịch sử, WOM đã được công nhận là một trong những nguồn lực có ảnh hưởng nhất của truyền thông (Breazeale, 2009; Godes & Mayzlin, 2004). Sự ảnh hưởng WOM vào việc ra quyết định của người tiêu dùng cũng được hình thành trong các lý luận học thuật (Steffes & Burgee, 2009).
Các đặc điểm chính của WOM là nguồn độc lập - nguồn cung cấp WOM không có lợi ích thương mại và do đó quá trình truyền thông này là đáng tin cậy hơn các thông tin công ty tạo ra (Arndt, 1967). Có rất nhiều các định nghĩa về WOM. Theo Arndt (1967), WOM có nghĩa là “Truyền thông trực tiếp bằng lời nói giữa một người nhận và một người truyền tin liên quan tới một nhãn hiệu, hàng hóa hoặc dịch vụ nào đó và người nhận nhận thức rằng những thông điệp của người gửi có tính chất phi thương mại”. Theo Pride và Ferrell (2004), WOM là sự trao đổi thông tin cá nhân của người tiêu dùng được trao đổi với những người khác liên quan đến hàng hóa, thương hiệu và tổ chức.
ỞỞ̉ góc độ khác, theo Armstrong và Kotler (2012), WOM là ảnh hưởng từ các gợi ý của bạn bè trên cá nhân tin cậy, người quen cũng như khách hàng khác về hành vi mua hàng. Trong khi đó, một số nhà nghiên cứu khác đã định nghĩa WOM là giao tiếp trực tiếp giữa các cá nhân về hàng hóa và dịch vụ giữa người tiêu dùng, là một trong những nguồn thông tin có ảnh hưởng nhất trong thị trường cho người tiêu dùng (Alreck & Settle, 1995). WOM là phần chia sẻ thông tin về kinh nghiệm của các cá nhân (Steffes & Burgee, 2009) đã được chứng minh là một công cụ tiếp thị mạnh mẽ và hiệu quả (Sweeney, Soutar, & Mazzarot, 2012). Nó không chỉ ảnh hưởng đến thái độ của người tiêu dùng mà còn cả niềm tin và hành vi của họ (Abrantes, Seabra, & Lages, 2013).
Theo Ao Thu Hoài và cộng sự (2021), WOM là một hoạt động truyền thông TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat marketing tác động tới công chúng mục tiêu thông qua những thông điệp truyền tải trong mạng lưới quan hệ của chính họ. Khái niệm truyền miệng điện tử Ngày nay trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, công nghệ Internet phát triển vượt trội, sự gia tăng của các phương tiện truyền thông, mạng xã hội đã tạo điều kiện cho truyền miệng điện tử (eWOM) phát triển mạnh mẽ. Các công cụ truyền thông marketing giúp cho khách hàng có thể bày tỏ quan điểm, suy nghĩ cũng như là giúp cho nhiều người, nhiều doanh nghiệp phát triển hơn trong các khâu sản xuất, tiến bộ về sản phẩm, thu hút khách hàng, bảo đảm chất lượng và phát triển thương hiệu. EWOM là phương pháp hữu hiệu để người tiêu dùng tham gia vào quảng cáo phi thương mại, chia sẻ và thảo luận kinh nghiệm trực tiếp về sản phẩm và thương hiệu cụ thể (Chevalier & Mayzlin, 2006).
Theo Jalilvand và Samiei (2012), việc sử dụng internet ngày càng nhiều như một công cụ giao tiếp và quảng cáo, quảng cáo eWOM đã phát triển rất lớn. EWOM được xem là các đánh giá trực tuyến, thông báo cho người tiêu dùng về các khía cạnh chức năng và biểu tượng của một thương hiệu (Hu và cộng sự, 2012; Krishnamurthy và Kumar, 2015). Không giống như WOM, eWOM có thể bao gồm các đánh giá tích cực và tiêu cực do người tiêu dùng trước đây, thực tế và tiềm năng về các sản phẩm và dịch vụ qua internet một cách kịp thời (Hennig-Thurau và cộng sự, 2004). EWOM là một hành động tâm lý tác động đến người tiêu dùng trực tuyến thông qua các quy phạm xã hội hoặc các đánh giá, bình luận trong môi trường trực tuyến (Fan & Miao, 2012).
EWOM cho phép người dùng tiếp nhận, chia sẻ và chọn lọc thông tin một cách có hiệu quả, vượt qua những trở ngại cả về không gian và thời gian (Cheung, 2014). Có thể nói, eWOM giúp người tiêu dùng có sức mạnh để ảnh hưởng đến những người mua khác thông qua ý kiến về các hàng hóa hoặc dịch vụ được sử dụng (Chu, 2009; Chu & Kim, 2011; Kozinets & cộng sự, 2010). Trước tình trạng người tiêu dùng ngày càng tiếp xúc với một số lượng của các thông điệp tiếp thị và ngân sách marketing thu nhỏ thì các nhà tiếp thị không thể bỏ qua lợi thế của sức mạnh ảnh hưởng của truyền thông xã hội nói chung và eWOM nói riêng (Hennig-Thurau & XXIII TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat cộng sự, 2004). Theo Lee và Park (2008), eWOM có thể hoạt động trong cả hai phương diện: người cung cấp thông tin và người giới thiệu hàng hóa/ dịch vụ vì họ có thể cung cấp thông tin sản phẩm đáp ứng yêu cầu người tìm thông tin, cũng như đưa ra các khuyến nghị với tư cách là một người từng tiêu dùng hàng hóa/ dịch vụ.
Các chức năng thông báo và đề xuất này đóng vai trò quan trọng bởi vì eWOM là kênh do người tiêu dùng quản lý, họ là người gửi độc lập, thông tin được coi là đáng tin cậy, hiệu quả cao hơn các hoạt động tiếp thị truyền thống và giảm rủi ro của người tiêu dùng (Hennig-Thurau & Walsh, 2004). Người tiêu dùng bị ảnh hưởng bởi thông tin họ sử dụng, có nghĩa là eWOM có thể thay đổi hành vi của người tiêu dùng trong mọi thứ, từ sản phẩm họ mua đến các hoạt động mà họ biểu diễn (Chen & Berger, 2016). Nhưng eWOM cũng ảnh hưởng đến các công ty, giống như tranh luận lắng nghe ý kiến của người tiêu dùng liên quan đến thương hiệu và lắng nghe người tiêu dùng trao đổi ý kiến với nhau đã liên tục đưa ra những hiểu biết bất ngờ, từ đó các đề xuất có thể được phát triển. EWOM được cho là sẽ thay thế các phương tiện truyền thống là công cụ ưa thích để tạo ảnh hưởng và tương tác với khách hàng (Yu và cộng sự, 2017).
Để tận dụng yếu tố ảnh hưởng của eWOM, các công ty tăng cường chú trọng vào việc thúc đẩy và quản lý eWOM trong hỗn hợp chiến lược truyền thông của họ (Kim và cộng sự, 2015). Hu và cộng sự (2015) phân eWOM thành 4 loại: (1) eWOM chuyên biệt đề cập đến các đánh giá của khách hàng được đăng trên các trang web so sánh – mua sắm hoặc xếp hạng không tham gia vào việc bán sản phẩm; (2) eWOM liên kết đề cập đến đánh giá của khách hàng liên kết với các trang web bán lẻ, ví dụ đánh giá của khách hàng trên Amazon và eBay; (3) eWOM xã hội chỉ ra bất kỳ thông tin nào liên quan đến thương hiệu/sản phẩm được trao đổi giữa những người sử dụng các trang mạng xã hội; và (4) eWOM khác bao gồm thông tin thương hiệu/sản phẩm được trao đổi trên các nền tảng truyền thông xã hội trực tuyến khác như blog, hội đồng thảo luận, v. TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 2. Các yếu tố nội hàm của eWOM a.
Chuẩn chủ quan Chuẩn chủ quan (Subjective Norms) được định nghĩa là nhận thức của một cá nhân, với những người tham khảo quan trọng của cá nhân đó cho rằng hành vi nên hay không nên được thực hiện (Fishbein & Ajzen, 1975). Chuẩn chủ quan được đo lường bằng mức độ chấp nhận sự ảnh hưởng của những người tham khảo đến cá nhân như người thân, những người bạn hay đồng nghiệp. Mức độ tác động của chuẩn chủ quan lên xu hướng lựa chọn của một cá nhân phụ thuộc vào: mức hộ ủng hộ hay phản đối với sự lựa chọn của người lựa chọn và động cơ của người lựa chọn làm theo mong muốn của những người có ảnh hưởng. Từ phía người tiếp nhận eWOM, sự chấp nhận eWOM là một hành động tâm lý tác động đến người tiêu dùng trực tuyến thông qua các quy phạm xã hội hoặc các đánh giá, bình luận trong môi trường trực tuyến (Fan & Miao, 2012).
Hành vi chấp nhận thông tin là một trong những hoạt động chính mà người dùng tìm cách thực hiện trong cộng đồng ảo (Cheung & cộng sự, 2008). Chất lượng eWOM Chất lượng của eWOM được định nghĩa là chất lượng của một đánh giá dưới các góc độ của tính chất thông tin như: tính liên quan, tính đúng lúc, tính chính xác và tính bao hàm của thông tin đó (DeLone và McLean, 2003). Theo Bhattacherjee và cộng sự (2006), chất lượng eWOM đề cập đến sức mạnh thuyết phục của các bình luận được đề cập trong một thông điệp thông tin.