Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đặc điểm sinh học của cá rô phi vằn 1. Phân loại Cá rô phi thuộc: Lớp: Osteichthyes Bộ: Perciformes Họ: Cichlidae Giống: Oreochromis Loài: Oreochromis niloticus Tén tiéng anh: Tilapia Tên thông thường: Cá rô phi van. Nguồn gốc và sự phân bố Cá rô phi phân bó tự nhiên ở châu Phi.
Vào khoảng năm 1924, cá rô phi được nuôi ở Châu Phi. Cá rô phi được nuôi rộng rãi ở các nước trên thế giới vào năm 1940 - 1950, nhất là ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Có 80 loài cá được gọi tên chung là cá rô phi (Tilapia), tuy nhiên người ta tìm thấy chi có 8 hay 9 loài cá rô phi có ý nghĩa quan trong trong nuôi trồng thủy sản (Nguyễn Văn Tư, 2003). Cá rô phi van có tên khoa học là Oreochromis niloticus, được nhập từ Đài Loan vào miền Nam Việt Nam năm 1973, sau đó chuyền ra miền Bắc năm 1977 (Nguyễn Văn Tu, 2003).
Do cá lớn nhanh, sức sinh sản thấp và kích thước thương phẩm lớn, cá rô phi van đã nhanh chóng được chấp nhận và trở thành đối tượng nuôi quan trọng. Đặc điểm hình thái Hình 1. Hình thái bên ngoài của cá rô phi vằn Cá rô phi van toàn thân phủ vay, ở phần lưng có màu xanh xám nhạt, phần bụng có màu trắng ngà hay xanh nhạt. Trên thân có từ 7 — 9 vạch chạy từ phía lưng xuống bụng.
Các vạch đậm doc theo vây đuôi ở từ phía lưng xuống bung rất rõ. Cá rô phi van là loài có kích thước thương phẩm lớn, tốc độ tăng trưởng nhanh, đẻ thưa hơn cá rô phi đen, đây là loài cá được nuôi phổ biến nhất trên thế giới và Việt Nam hiện nay. Đặc điểm môi trường sống Cá rô phi sống thành đàn, hoạt động ở tang giữa và tang đáy. Cá phát triển tốt trong môi trường rộng rãi, thông thoáng.
Khi hoảng sợ, cá hay chui mình xuống đáy ao. Cá rô phi chịu nóng tốt hơn chịu rét. Cá rô phi là loài chịu đựng tốt hơn so với các loài cá nước ngọt khác nuôi phổ biến hiện nay về sự thay đổi độ mặn, nhiệt độ cao, hàm lượng oxy hòa tan thấp và nồng độ NH3 cao. e Nhiệt độ Giới hạn nhiệt độ nước cho sự sinh trưởng bình thường của các loài cá rô phi là 20 — 30°C, thích hợp nhất ở 25°C.
Chúng có thê chịu được nhiệt độ thấp từ 8 — 10°C trong thời gian ngắn, khi nhiệt độ xuống dưới 20°C, thì sự sinh trưởng và sinh sản giảm xuống. Cá ngừng ăn ở nhiệt độ dưới 15°C (Theo Balarin và Haller, 1982). Cá rô phi có thé chịu nhiệt độ tới tận 42°C và chịu lạnh ở 5°C. Ở miền Nam Việt Nam khí hậu tốt cho sự sinh trưởng va phát triển của các rô phi, vì nhiệt độ nước thường cao quanh năm.
e Hàm lượng Oxy hòa tan Cá rô phi có thê sống ở nơi có hàm hượng oxy hòa tan thấp. Hàm lượng Oxygen hòa tan thấp nhất mà cá có thé tồn tại là 0,1mg/L. Tuy nhiên, sự chuyển hóa thức ăn và sự trao đổi chất của cá rô phi đen và cá rô phi van sẽ giảm khi oxygen nhỏ hơn 1,5mg/L và chết khi oxygen hòa tan của ao là 0,3 mg/L (Nguyễn Văn Tư, 2003). s Độ pH Theo Baralin và Haller, cá chịu được pH từ 4 -11, ngoài giới han cá sẽ chết sau 2 gid (Tran Công Doanh, 1996).
Theo Wangeal và ctv. (1988) pH thích hợp nhất 6 — 8,5, cá chết khi pH là 2 - 3 và pH =4 thì cá sẽ phát triển và sống sót kém hơn khi pH là 5 — 7. se Độ mặn Cá rô phi có thé sinh trưởng và phát triển bình thường ở cả 3 môi trường: ngọt, mặn và lo. Cá có khả năng thích nghi ở độ mặn từ 0 — 32°/o0, khoảng độ mặn thích hợp nhất 0 - -259/oo.
Tuy nhiên, theo Santiago và ctv. (1988) thì sự sinh sản sẽ bị ảnh hưởng và cá đẻ yếu khi ở độ mặn 6 -—149/ạo. Cá rô phi sinh sản và phát triển bình thường ở độ mặn từ 13,5 — 29°/o9 (Balarin và Haller, 1982). e Ammonia (NHs3) và Nitrite (NO2) Ammonia rat độc cho cá, nhưng một sô công trình nghiên cứu cho thay cá rô phi có thê chịu đựng ammonia tot hơn nhiêu so với loài cá khác.
So với các loài cá khác, cá rô phi chịu được ở nguôn nước có hàm lượng amoniac tới 2,4 mg/lit. Nitrite rất độc đối với rất nhiều loài cá bởi vì nó làm giảm khả năng vận chuyển oxygen của hemoglobin. Cá rô phi có khả năng chịu đựng nitrite cao tốt hơn các loài cá nước ngọt khác. Trong hệ thống tuần hoàn, cá rô phi có thê tồn tại ở 0,6 mg/lit nitrite.
Đặc điểm dinh dưỡng và sinh trưởng Cá rô phi có chiều dài ruột dai 6 — 8 lần chiều dài cơ thé, cá có phổ thức ăn rộng. Chúng có thể ăn tảo sợi, các động vật và thực vật phù du, mùn bã hữu cơ, ấu trùng của các côn trùng trong nước, bèo và cả phân hữu cơ. Cá có khả năng ăn thức ăn bô sung như cám gạo, thức ăn viên. Cá bột từ 1 — 5 ngày tuổi ăn phiêu sinh động và phiêu sinh thực vật, tỷ lệ phiêu sinh thực vật tăng dần theo sự tăng trưởng.
Các được xem là loài ăn lọc, vì chúng có thể lọc các loại phiêu sinh từ nước rất hiệu quả do mang tiết chất nhay làm kết dính thức ăn lơ lửng trong nước. Thức ăn tự nhiên cũng đóng vai trò rất quan trọng đối với cá rô phi ngay cả trong ao nuôi thâm canh. Ở những ao có sự trao đổi nước it thì thức ăn tự nhiên có thé đóng góp 1/3 chất dinh dưỡng cho sự phát triển của cá (Thomas Popma và ctv. Loài cá rô phi van (Oreochromis niloticus) là loài thích hợp cho nuôi thương phẩm bởi vì chúng có cường độ tăng trưởng nhanh và khả năng sử dụng tốt thức ăn tự nhiên và thức ăn nhân tao.
Cá đực lớn nhanh và có kích thước lớn hơn cá cái. Sau 5 tháng nuôi, trọng lượng trung bình đạt từ 0,5 — 0,7 kg/con. Cá rô phi vằn đòi hỏi lượng đạm trong khẩu phần ăn từ 20 — 50% tùy theo kích thước. Theo Jauncey và Ross (1982) nhu cầu dinh đưỡng của cá được tóm tắt như sau: Bảng 1.
Nhu cầu dinh dưỡng của cá rô phi Kích cỡ Tỷ lệ protein(%) Cá mới nở — 0,5g 50 Cá từ 0,5g— 35g 35 Ca từ 35g — cỡ thương mai 30 Theo Jantharothai (1993) thì nhu cầu protein ở giai đoạn sinh trưởng như sau: Bảng 1. Nhu cầu protein ở các giai đoạn sinh trưởng Kích cõ(g) Tỷ lệ protein(%) lg — 10g 34 — 36 10g — 100g 28 — 30 >100g 20-25 Ở mức protein tốt nhất làm cho cá tăng trưởng tối đa nhưng không mang lại hiệu quả về mặt kinh tế, tùy qui mô đầu tư mà người ta sử dụng protein thích hợp. Cá rô phi cũng cần 10 loại acid amin thiết yêu cũng như nhu cầu về acid béo như các loài cá khác, đặc biệt là acid béo họ n3 và n6. Nhu cầu về vitamin và khoáng chat trong chế độ dinh dưỡng của cá là rất khó xác định, tuy nhiên hàm lượng phospho cho cá là 0,9% trong khâu phần ăn của cá.
Nhu cầu về canxi là không cần thiết lắm, do cá có khả năng hấp thu canxi trong nước qua mang tuy nhiên trong môi trường nuôi nước quá mềm thì lượng canxi trong thức ăn là cần thiết vì ảnh hưởng lên sự tăng trưởng của cá. Tốc độ sinh trưởng của cá rô phi van trong điều kiện nuôi (Nguyễn Văn Tu, 2003) Thời gian nuôi Trọng lượng trung bình (g/con) Ghi chú 2 tuân 8 Sử dung thức ăn viên 1 tháng 40 cong TghÖẾp 2 tháng 145 3 tháng 240 4 tháng 330 5 tháng 470 6 tháng 585 1. Dac diém sinh san Cá rô phi bắt dau sinh sản khá sớm (thường khoảng 3 — 4 tháng là cá đã thành thục), đối với cá rô phi đen là 3 tháng tuổi, rô phi van và rô phi xanh là 5 — 6 tháng tuổi với cỡ trọng nhỏ nhất là 40g. Đối với cá rô phi đen và rô phi van, khi sinh sản, cá đực làm tô bằng cách đào hồ trên đáy ao và chiến dau chống lại cá đực khác, con cái thành thục đi đến nơi làm tô mà ở đó con đực đang phô diễn một cách tích cực.
Việc bắt cặp và đẻ trứng nhanh, con cái nhanh chóng nhặt trứng vào miệng ngay khi trứng vừa được thụ tinh bởi con đực. Thời gian tai phát dục thường là 1 — 1,5 tháng. Sức sinh sản thực tế khoảng 500 — 600 trứng/ cá cỡ 300g. Sơ lược về probiotics 1.
Khái niệm Thuật ngữ “probiotics” có nguồn gốc từ Hy Lạp có ý nghĩa là “cho cuộc sống”. Tuy nhiên, định nghĩa về probiotics đã phát triển dần theo thời gian. Thuật ngữ “probiotics” duoc Lilly va Stillwell sử dụng lần đầu tiên (1965) để mô ta các chất kích tăng trưởng được sản sinh bởi một protozoa là ciliate dé kích thích sự sinh trưởng của một ciliate khác. Thuật ngữ này được dua ra bởi Parker (1974): “Probiotics là những vi sinh vật như vi khuân hoặc những chat, gop phan làm cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột” (Lê Thanh Hùng, 2008).
Năm 1989, Fuller định nghĩa probiotics là những thành phan bổ sung vào thức ăn dé cải thiện hệ vi sinh vật đường ruột. Hay probiotics được định nghĩa là “Sự nuôi cây Tiêng lẻ hay hỗn hợp các vi sinh vật sống mà có ảnh hưởng có lợi cho sinh vật chủ bằng cách cải thiện những đặc tinh của vi sinh vật bản địa” (Trần Thị Dân, 2005). Theo định nghĩa của Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) “Probiotics là những vi sinh vật còn sông khi đưa vào cơ thê một lượng đây đủ sẽ có lợi cho sức khỏe của kí chủ”. Tannock (1997) định nghĩa “Probiotics là những tế bào sinh vật sông, được cho vào thức ăn, với mục đích cải thiện sức khỏe”.
Năm 2001, khái niệm probiotics được đưa ra bởi Tổ chức Nông — Lương tế giới (FAO) và Tổ chức y tế thé giới (WHO) như sau: Probiotic là các vi sinh vật sống khi được sử dụng với liều lượng thích hợp thì đem lại lợi ích cho vật chủ (FAO/WHO, 2001). Khái niệm nay được sử dụng rộng rãi và được thông qua bởi Hiệp hội khoa học quốc tế về Probiotics và Prebiotics (Hill và ctv. Phân loại và đặc điểm của probiotics e Phan loại: Probiotics thường là các vi khuẩn và nam. Ngoại trừ một số loại nam men (Saccharomyces cerevisiase, Saccharomyces bourlardii, Candida pintolopesii) và nam sợi (Aspergillus oryzae, A.
niger), phần lớn các vi sinh vat được sử dung như probiotics là vi khuẩn.