Tổng quan luận án
Công trình khoa học được giới thiệu là luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học (mã số: 62310640) của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thanh Hảo, được thực hiện tại Trường Đại học Văn hóa Hà Nội năm 2017 dưới sự hướng dẫn khoa học của tập thể cán bộ hướng dẫn gồm PGS.TS. Lê Quý Đức và PGS.TS. Nguyễn Quốc Tuấn. Luận án mang tên: Ảnh hưởng của Phật giáo đối với văn hóa đạo đức các vương triều Lý - Trần.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả xuất phát từ các định hướng chiến lược của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng và phát triển con người, trọng tâm là đạo đức, nhân cách, lối sống được khẳng định tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII (tháng 01/2016), cũng như các nghị quyết về văn hóa và tôn giáo qua các kỳ Đại hội IX, X, XI và Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII. Thực tiễn bối cảnh xã hội cho thấy những diễn biến phức tạp của tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận cán bộ, đòi hỏi sự nghiên cứu thấu đáo nhằm kế thừa các giá trị truyền thống dân tộc. Trong lịch sử, thời đại Lý - Trần là giai đoạn Đại Việt có bước phát triển vượt bậc về chính trị, quân sự, văn hóa và xã hội, đồng thời là thời kỳ phát triển thịnh đạt của Phật giáo khi tôn giáo này giữ vai trò quan trọng trong việc ổn định đời sống tinh thần xã hội và định hình nhân cách của giới cầm quyền. Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về lịch sử, triết học và Phật giáo thời Lý - Trần, tác giả khẳng định khoảng trống học thuật: chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên biệt từ góc độ Văn hóa học về tác động của Phật giáo đối với văn hóa đạo đức của các vương triều Lý - Trần.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ sự tác động của Phật giáo đối với văn hóa đạo đức các vương triều Lý - Trần trong việc thực hiện các nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ nền độc lập, tự chủ, kiến tạo thể chế và hình thành nhân cách của người cầm quyền; từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm cho công tác xây dựng phẩm chất người lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay.
Để đạt được mục đích trên, tác giả xác lập 3 câu hỏi nghiên cứu:
- Phật giáo thời đại Lý - Trần có ảnh hưởng như thế nào đối với văn hóa đạo đức của các vương triều Lý - Trần trong việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị mà dân tộc, thời đại đặt ra đối với hai vương triều?
- Các vương triều đã tiếp thu các ảnh hưởng của Phật giáo Việt Nam để giải quyết các nhiệm vụ ấy ra sao? Bằng cách nào?
- Bài học gì được rút ra từ ảnh hưởng của Phật giáo đến văn hóa đạo đức các vương triều Lý - Trần cho việc xây dựng văn hóa đạo đức cho đội ngũ lãnh đạo nước ta hiện nay?
Các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Tổng quan tài liệu, xác định cơ sở lý luận, đưa ra khái niệm và cơ cấu của văn hóa đạo đức làm khung phân tích.
- Khái quát về các vương triều Lý - Trần và Phật giáo Việt Nam thời đại Lý - Trần.
- Hệ thống hóa, phân tích và đánh giá sự tác động của Phật giáo đối với văn hóa đạo đức các vương triều Lý - Trần.
- Khẳng định giá trị văn hóa đạo đức của hai vương triều và rút ra bài học lịch sử cho việc xây dựng văn hóa đạo đức của đội ngũ lãnh đạo hiện nay.
Đối tượng nghiên cứu là Phật giáo Việt Nam thời đại Lý - Trần và sự tác động của Phật giáo đối với văn hóa đạo đức các vương triều Lý - Trần. Phạm vi nghiên cứu được xác định rõ:
- Về nội dung: Xem xét sự tác động của Phật giáo thông qua văn hóa đạo đức của một số vị vua, quan, tướng lĩnh tiêu biểu của hai vương triều.
- Về không gian và thời gian: Gắn liền với tiến trình tồn tại của vương triều Lý (1009 - 1225, trải qua 9 vị hoàng đế) và vương triều Trần (1225 - 1400, trải qua 12 vị hoàng đế).
- Về nguồn tài liệu: Sử dụng sử liệu thành văn, trước tác tư tưởng, văn chương, nghệ thuật, thư tịch cổ, di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của Phật giáo cùng các tư liệu văn hóa dân gian.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả đã phân loại và tổng thuật khối lượng tư liệu gồm hơn 150 đầu tài liệu, bài báo khoa học, chuyên khảo và luận án liên quan đến đề tài thành 4 nhóm chính:
| Nhóm tài liệu |
Các tác giả, công trình tiêu biểu và nội dung khảo cứu |
| 1. Nghiên cứu về Phật giáo Việt Nam và Phật giáo thời Lý - Trần |
Léopold Cadière (khảo cứu tôn giáo, tín ngưỡng dân gian); Thích Mật Thể (Việt Nam Phật giáo sử lược, 1943); Trần Trọng Kim (Việt Nam sử lược); Vân Thanh (1974); Viện Triết học (Lịch sử Phật giáo Việt Nam, 1991); Thích Minh Tuệ (1993); Nguyễn Lang (Việt Nam Phật giáo sử luận, 3 tập); Thích Hồng Đạo (Pháp Bảo sưu tập, 1971); Nguyễn Tài Thư (chủ biên Lịch sử tư tưởng Việt Nam tập I, 1993; Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam hiện nay); Nguyễn Đăng Thục (Lịch sử tư tưởng Việt Nam tập III và IV, 1998); Thích Trí Quảng (Tư tưởng Phật giáo); Nguyễn Hùng Hậu (Đại cương triết học Phật giáo Việt Nam, 2002); Đinh Lực và Nhất Tâm (2003); Minh Mẫn (2006); Thích Chơn Thiện (2010, 2012); cùng các bài viết trên Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo của Nguyễn Duy Hinh, Lê Đức Hạnh, Đặng Văn Bài, Nguyễn Hồng Dương, Mộng Đắc, Hoàng Minh Đô, Dương Quang Điện. |
| 2. Nghiên cứu về đạo đức Phật giáo |
Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam (Đạo đức học Phật giáo, Thích Minh Châu giới thiệu, 1995); Nguyễn Phan Quang (Có một nền đạo lí Việt Nam); Thích Chân Quang (Tâm lí đạo đức); Thích Đức Nhuận (Đạo Phật và dòng sử Việt); Đỗ Ngây (Luận án Tiến sĩ Tôn giáo học, 2012: Triết lí nhập thế của Phật giáo Việt Nam thời Lý - Trần); Damien Keown (Đạo đức học Phật giáo, Nguyễn Thanh Vân dịch); Chan Khoon San (Giáo trình Phật học); cùng các luận án tiến sĩ triết học nghiên cứu về đạo đức Phật giáo, phạm trù "Tâm" trong việc xây dựng đời sống đạo đức con người Việt Nam. |
| 3. Nghiên cứu về Phật giáo với văn hóa đạo đức Lý - Trần |
Nguyễn Tài Thư (Xu thế nhập thế trong tư tưởng Phật giáo Trần Nhân Tông); Hoàng Tuấn Anh, Nguyễn Chí Bền, Từ Thị Loan, Vũ Anh Tú (Xây dựng nhân cách văn hóa những bài học kinh nghiệm trong lịch sử Việt Nam); Kỷ yếu công trình Phật hoàng Trần Nhân Tông (1258 - 1308) con người và sự nghiệp (2008); các hội thảo khoa học chuyên đề: Hội thảo Tư tưởng Việt Nam thời Lý - Trần (2006), Hội thảo Đức vua - Phật hoàng Trần Nhân Tông (2008), Hội thảo Phật giáo thời Lý với 1000 năm Thăng Long - Hà Nội (2010), Hội thảo quốc tế Phật giáo Châu Á và Việt Nam trong tiến trình phát huy văn hóa dân tộc (2013 tại Quảng Ninh với các báo cáo của Trần Nguyên Việt, Trịnh Doãn Chính, Thích Quảng Tiếp). |
| 4. Nghiên cứu về văn hóa đạo đức |
Giáo trình Cơ sở lí luận văn hóa Mác - Lênin (1981); Đỗ Huy (Tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh, 1997); Hoàng Vinh (2005); Giáo trình Lí luận văn hóa và đường lối văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam (2005); Văn hóa đạo đức ở nước ta hiện nay vấn đề và giải pháp (2005); Trần Đình Hượu (Đến hiện đại từ truyền thống, 1994); Trường Lưu biên tập (Văn hóa đạo đức và tiến bộ xã hội); Thành Duy (Văn hóa đạo đức: Mấy vấn đề lí luận và thực tiễn ở Việt Nam); và cuốn Học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh - Xây dựng nền văn hóa đạo đức ở nước ta hiện nay (2007). |
Về vị trí của luận án và khoảng trống lựa chọn giải quyết: Tác giả nhận định các công trình đi trước chủ yếu tiếp cận Phật giáo dưới góc độ lịch sử biên niên, lịch sử triết học, tôn giáo học thuần túy hoặc đạo đức học đại cương. Các nghiên cứu đã chỉ ra sự hỗn dung giữa đạo đức Phật giáo với đạo lý dân gian, tinh thần nhập thế của thiền sư, cũng như vai trò chính trị của Phật giáo thời Lý - Trần. Tuy nhiên, chưa có công trình nào tiếp cận toàn diện từ chuyên ngành Văn hóa học để phân tích văn hóa đạo đức như một chỉnh thể cấu trúc - chức năng của tầng lớp cầm quyền (vua, quan, tướng lĩnh) hai triều Lý - Trần dưới tác động trực tiếp của Phật giáo. Do đó, luận án xác định vị trí nghiên cứu là công trình liên ngành, giải quyết khoảng trống về việc mô hình hóa văn hóa đạo đức vương triều và luận giải các cơ chế tiếp biến giáo lý Phật giáo vào hoạt động trị quốc, an dân của giới tinh hoa phong kiến thời kỳ này.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng hệ thống khái niệm công cụ và khung phân tích lý thuyết văn hóa học như sau:
- Phật giáo: Được xem xét ở hai chiều kích:
- Hình thái ý thức xã hội: Hệ thống quan điểm triết học về thế giới quan, nhân sinh quan; hệ thống lý luận gồm Tam tạng (Kinh, Luật, Luận); các phạm trù vô thường, vô ngã, thuyết duyên khởi, ngũ uẩn, Tứ diệu đế, Bát chính đạo và Tam học (Giới - Định - Tuệ).
- Thực thể văn hóa tinh thần: Tồn tại với tư cách một tiểu văn hóa bao gồm ba thành tố cốt lõi: Giáo lý - giới luật, Nghi lễ, và Tăng đoàn (kế thừa quan niệm của Trác Tân Bình và Nguyễn Hồng Dương).
- Vương triều Lý - Trần và văn hóa đạo đức của vương triều: Vương triều là danh xưng chỉ thể chế quyền lực của một dòng họ vua. Văn hóa đạo đức của vương triều là văn hóa đạo đức của những nhà cầm quyền, quản lý xã hội (hoàng đế, tông thất, văn quan, võ tướng). Xét từ chức năng tổ chức xã hội, đó là văn hóa đạo đức chính trị, gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ sống còn của quốc gia.
- Khái niệm văn hóa đạo đức do tác giả đề xuất: Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc các quan điểm trong giáo trình Cơ sở lí luận văn hóa Mác - Lênin (1981), nghiên cứu của Đỗ Huy, Hoàng Vinh và khung phân tích 4 hệ thống văn hóa của Jean Ladrière (hệ ý niệm, hệ giá trị - chuẩn mực, hệ hành động, hệ biểu hiện ngoại hiện), tác giả định nghĩa:
"Văn hóa đạo đức là một thành tố của văn hóa xã hội thể hiện đặc trưng, trình độ đạo đức của một cộng đồng có vai trò to lớn trong việc tổ chức, quản lí xã hội (cộng đồng) và hình thành nhân cách các thành viên cộng đồng, góp phần bảo đảm cho cộng đồng tồn tại bền vững và an sinh."
- Cơ cấu văn hóa đạo đức gồm 4 thành tố:
- Hệ thống triết lý, tư tưởng đạo đức (thành tố cốt lõi, chi phối);
- Hệ thống giá trị, chuẩn mực, khuôn mẫu đạo đức (cụ thể hóa tư tưởng, dẫn dắt hành vi);
- Hệ thống thực hành đạo đức (thể chế pháp luật, thiết chế xã hội, hành vi đạo đức và các nhân cách tiêu biểu);
- Hệ thống các yếu tố ngoại hiện (các biểu hiện vật thể và phi vật thể mang tính biểu tượng cảm tính).
- Cơ chế ảnh hưởng: Ảnh hưởng được phân tích là tác động để lại dấu ấn; diễn ra qua 4 cơ chế tâm lý - xã hội chủ yếu gồm: ám thị, bắt chước, đồng nhất hóa và lây lan. Tác giả khẳng định hai vương triều Lý - Trần đã tiếp nhận ảnh hưởng Phật giáo một cách tự giác và tương tác hai chiều.
- Lý thuyết cấu trúc - chức năng: Luận án sử dụng lý thuyết cấu trúc - chức năng làm khung lý luận trọng tâm, dựa trên sự tổng hợp quan điểm của ba học giả:
- A. Radcliffe-Brown: Xem xã hội là hệ thống hữu cơ; phân tích chức năng của một hiện tượng xã hội là tìm kiếm sự đóng góp của nó vào việc duy trì tính liên kết và đoàn kết xã hội.
- Bronislaw Malinowski: Nhấn mạnh văn hóa là phương tiện đáp ứng các nhu cầu của cá nhân và cộng đồng; thiết lập khung phân tích thiết chế (điều lệ, chuẩn mực, cơ sở vật chất, hoạt động, chức năng); xác định bốn yêu cầu phổ quát ở cấp độ cấu trúc gồm sản xuất - phân phối, kiểm soát - điều chỉnh hành vi, giáo dục xã hội hóa, và tổ chức - điều hành quan hệ quyền lực.
- Talcott Parsons: Xem văn hóa là hệ thống có tính khuôn mẫu và trật tự biểu tượng, có khả năng thể chế hóa các giá trị thành chuẩn mực xã hội và xã hội hóa nhân cách con người.
Về phương pháp nghiên cứu, luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của triết học Mác - Lênin, kết hợp tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về kế thừa giá trị văn hóa, đạo đức tôn giáo. Các phương pháp cụ thể được triển khai gồm:
- Phương pháp thu thập và phân loại tài liệu: Thu thập, phân loại nguồn sử liệu thành văn (chính sử, trước tác của vua quan và thiền sư thời Lý - Trần, tác phẩm văn học) và phi thành văn (di tích, di vật, truyền thuyết, phong tục tập quán).
- Phương pháp liên ngành của văn hóa học: Vận dụng cách tiếp cận tổng hợp giữa văn hóa học, sử học, đạo đức học, chính trị học và tôn giáo học để khảo sát đối tượng nghiên cứu.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Phân chia đối tượng thành các bộ phận tương ứng với 4 thành tố của văn hóa đạo đức để nghiên cứu sâu, sau đó tổng hợp nhằm khái quát diện mạo chung của văn hóa đạo đức vương triều.
- Các phương pháp bổ trợ: Phương pháp tiếp cận lịch sử, so sánh - đối chiếu, phương pháp logic và lịch sử.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu và cơ sở lí luận của luận án
Chương này dành cho việc tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề từ đầu thế kỷ XX đến thời điểm thực hiện đề tài; phân loại các nhóm tài liệu theo hướng tiếp cận lịch sử, triết học, đạo đức học và văn hóa học. Tác giả chỉ ra khoảng trống nghiên cứu và khẳng định tính cần thiết của đề tài. Về mặt lý luận, tác giả hệ thống hóa các khái niệm công cụ: Phật giáo như một thực thể văn hóa tinh thần; vương triều Lý - Trần với tư cách chủ thể nắm quyền lực chính trị; bản chất và 4 cơ chế ảnh hưởng xã hội (ám thị, bắt chước, đồng nhất hóa, lây lan). Trọng tâm lý luận của chương là việc xây dựng định nghĩa văn hóa đạo đức từ góc độ văn hóa xã hội và xác lập khung mô hình 4 thành tố (triết lý, giá trị/chuẩn mực, thực hành, ngoại hiện). Chương 1 cũng trình bày chi tiết việc vận dụng lý thuyết cấu trúc - chức năng của A. Radcliffe-Brown, B. Malinowski và Talcott Parsons để lý giải cơ chế Phật giáo tham gia duy trì sự cố kết xã hội Đại Việt thời phong kiến.
Chương 2: Khái lược về các vương triều Lý - Trần và Phật giáo Việt Nam thời đại Lý - Trần
Chương 2 trình bày bối cảnh lịch sử ra đời và vai trò của vương triều Lý (1009 - 1225, qua 9 đời vua) và vương triều Trần (1225 - 1400, qua 12 đời vua) trong sự nghiệp bảo vệ nền độc lập dân tộc trước họa ngoại xâm (kháng chiến chống Tống, ba lần kháng chiến chống quân Mông - Nguyên), xây dựng thiết chế quân chủ tập quyền và phát triển nền kinh tế, văn hóa quốc gia. Song song với tiến trình chính trị, chương này khái quát lịch sử du nhập và bản địa hóa của Phật giáo Việt Nam, sự hình thành các dòng thiền thời Lý (Tì Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường) và sự thống nhất thành Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử thời Trần do Phật hoàng Trần Nhân Tông sáng lập. Tác giả luận giải vị thế của Phật giáo thời kỳ này như một tôn giáo giữ vai trò hệ tư tưởng chủ đạo, có tính chất quốc giáo trong thực tế; phân tích sự gắn bó mật thiết giữa Tăng đoàn với triều đình thông qua vai trò cố vấn của các quốc sư, thiền sư (như Vạn Hạnh, Viên Thông, Minh Không, Từ Đạo Hạnh) và việc các vị vua, quý tộc trực tiếp tu thiền, trước tác giáo lý, tạo nên sự dung hợp đặc thù giữa vương quyền và thần quyền.
Chương 3: Dấu ấn của Phật giáo trong văn hóa đạo đức các vương triều Lý - Trần
Đây là chương nội dung cốt lõi của luận án, được cấu trúc theo 4 thành tố văn hóa đạo đức đã xác lập ở Chương 1:
- Dấu ấn trong yếu tố triết lý, tư tưởng đạo đức: Tinh thần Phật giáo đã thấm sâu vào nhận thức của giới lãnh đạo thông qua quan niệm về chữ "Tâm", đức "Từ bi", nguyên lý "Nhân quả - Nghiệp báo" và tư tưởng "Vô ngã". Tác giả phân tích các trước tác kinh điển của người cầm quyền như Khóa hư lục của Trần Thái Tông, Cư trần lạc đạo phú của Trần Nhân Tông, và Phật tâm ca của Tuệ Trung Thượng Sĩ để chứng minh sự dung hợp giữa giải thoát tâm linh và trách nhiệm cứu đời, biến triết lý xuất thế của đạo Phật thành triết lý nhập thế hành động vì quốc gia, dân tộc.
- Dấu ấn trong các giá trị, chuẩn mực, khuôn mẫu đạo đức: Hình thành các giá trị cốt lõi như lòng khoan dung, tinh thần hiếu sinh, đức nhân ái, và đạo lý thân dân. Các chuẩn mực ứng xử truyền thống của Nho giáo như Trung, Hiếu được làm mềm hóa và nhân bản hóa bằng tinh thần từ bi, bình đẳng của nhà Phật. Khuôn mẫu người cầm quyền thời Lý - Trần được định hình theo mẫu hình vị vua - Phật tử (hoặc Phật hoàng), lãnh đạo quốc gia bằng văn đức và lòng thương dân hơn là sự hà khắc chuyên chế.
- Dấu ấn trong thực hành đạo đức: Được thể hiện rõ nét qua ba bình diện:
- Thể chế và luật pháp: Tinh thần từ bi chuyển hóa thành chính sách hình luật nhân đạo, giảm bớt các nhục hình tàn khốc, cho phép chuộc tội bằng tiền, thực hiện các đợt ân xá, giảm thuế; tiêu biểu là tấm lòng của Lý Thánh Tông thương xót tù nhân chịu rét mướt trong ngục mùa đông và coi dân như con đẻ.
- Thiết chế xã hội: Thiết lập các hoạt động cứu tế người nghèo, phát chẩn khi mất mùa đói kém, tổ chức y tế chăm sóc sức khỏe cho dân chúng.
- Hành vi đạo đức và nhân cách tiêu biểu: Thái độ ứng xử độ lượng, khoan dung đối với hàng binh, tù binh chiến tranh (thời Trần); sự gương mẫu, cần kiệm của vua tôi; cùng các nhân cách đạo đức mẫu mực của các cá nhân tiêu biểu như Lý Thái Tổ, Lý Thánh Tông, Lý Thường Kiệt, Trần Thái Tông, Trần Hưng Đạo, và Trần Nhân Tông.
- Dấu ấn trong các yếu tố ngoại hiện: Biểu hiện qua việc triều đình huy động nguồn lực xây dựng hàng loạt công trình kiến trúc chùa tháp quy mô lớn (chùa Một Cột, chùa Diên Hựu, tháp Báo Thiên thời Lý; tháp Phổ Minh thời Trần); hoạt động đúc chuông, tô tượng, khắc bia ký ca ngợi công đức; việc sử dụng biểu tượng hoa sen trong nghệ thuật điêu khắc hoàng cung; các lễ hội tôn giáo dân tộc (lễ hội tắm Phật, Phật đản); và việc tôn xưng các danh hiệu mang đậm tinh thần đạo hạnh Phật giáo cho người cầm quyền.
Chương 4: Bài học lịch sử từ ảnh hưởng của Phật giáo đến văn hóa đạo đức các vương triều Lý - Trần với vấn đề xây dựng văn hóa đạo đức cho đội ngũ lãnh đạo nước ta hiện nay
Chương 4 tập trung rút ra các giá trị ứng dụng hiện đại:
- Cơ sở tiếp thu bài học kinh nghiệm: Xuất phát từ yêu cầu khách quan của công cuộc đổi mới, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế và đấu tranh ngăn chặn tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, các biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong đội ngũ cán bộ, đảng viên theo tinh thần các văn kiện Đảng.
- Vận dụng kinh nghiệm lịch sử vào xây dựng văn hóa đạo đức lãnh đạo:
- Bài học về tinh thần "thân dân", lấy dân làm gốc, đặt lợi ích của nhân dân và đất nước lên trên hết trong hoạch định chính sách và thực thi quyền lực.
- Bài học về tu dưỡng cái "Tâm", rèn luyện đức tính liêm chính, từ bi, vô ngã, biết kiềm chế lòng tham quyền lực và vật chất của người đứng đầu.
- Bài học về kết hợp hài hòa giữa "đức trị" nhân văn và "pháp trị" nghiêm minh trong quản trị quốc gia.
- Bài học về củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy tinh thần hòa hợp, khoan dung tôn giáo vì mục tiêu phát triển bền vững của đất nước.
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục chuẩn mực đạo đức công vụ, xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực và phát huy vai trò nêu gương của cán bộ lãnh đạo, quản lý hiện nay.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học lý luận và thực tiễn như sau:
- Về mặt lý luận:
- Đưa ra quan niệm về văn hóa đạo đức dưới góc độ văn hóa xã hội (văn hóa tổ chức, quản lý xã hội), khắc phục hạn chế của các quan niệm trước đó vốn chỉ coi văn hóa đạo đức thuộc phạm trù ý thức tinh thần thuần túy.
- Xây dựng mô hình cấu trúc văn hóa đạo đức hoàn chỉnh gồm 4 thành tố (triết lý, tư tưởng; giá trị, chuẩn mực, khuôn mẫu; thực hành đạo đức; hệ thống yếu tố ngoại hiện).
- Vận dụng lý thuyết cấu trúc - chức năng để phân tích một hiện tượng lịch sử văn hóa cụ thể, làm sáng tỏ vai trò của tôn giáo trong việc duy trì trật tự và liên kết xã hội phong kiến.
- Về mặt thực tiễn:
- Hệ thống hóa, phân tích toàn diện và chứng minh bằng các cứ liệu lịch sử tin cậy về những biểu hiện ảnh hưởng của Phật giáo trong toàn bộ cấu trúc văn hóa đạo đức của các vương triều Lý - Trần.
- Đánh giá khách quan, khoa học vai trò tích cực của Phật giáo đối với sự hưng thịnh của quốc gia Đại Việt thời kỳ Lý - Trần; khẳng định sự kết hợp hài hòa giữa đạo pháp và dân tộc, giữa tinh thần xuất thế và nhập thế.
- Đúc kết các bài học lịch sử có giá trị thực tiễn sâu sắc, cung cấp luận cứ khoa học cho Đảng và Nhà nước trong công tác xây dựng văn hóa đạo đức cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý giai đoạn hiện nay.
- Kiến nghị và giải pháp đề xuất: Luận án kiến nghị tăng cường giáo dục phẩm chất liêm chính, vô ngã, lấy dân làm gốc cho cán bộ; lồng ghép các giá trị nhân văn, khoan dung truyền thống vào xây dựng pháp luật; hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực và phát huy vai trò giám sát của cộng đồng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về hạn chế nghiên cứu, văn bản luận án chỉ rõ những giới hạn mang tính khách quan và chủ quan:
- Nguồn sử liệu thời Lý - Trần trải qua chiến tranh và thời gian bị thất tán, hủy hoại đáng kể, nhiều tài liệu chỉ còn lại dưới dạng trích dẫn gián tiếp hoặc huyền tích dân gian, gây khó khăn cho việc phục dựng toàn diện hành vi đạo đức thường nhật của toàn bộ hệ thống quan lại các cấp.
- Phạm vi nội dung của luận án chủ yếu tập trung khảo sát văn hóa đạo đức của các nhân vật lãnh đạo tiêu biểu ở cấp thượng tầng triều đình (các vị vua, đại thần, danh tướng), chưa có điều kiện khảo sát sâu rộng đến tầng lớp quan lại cấp cơ sở ở các địa phương.
Về hướng nghiên cứu tiếp:
- Tiếp tục khảo sát, so sánh chuyên sâu sự khác biệt và bước chuyển tiếp về diện mạo văn hóa đạo đức giữa vương triều Lý và vương triều Trần.
- Nghiên cứu mở rộng mối quan hệ tương tác, tích hợp giữa Phật giáo với Nho giáo và Đạo giáo (Tam giáo đồng nguyên) trong việc định hình văn hóa chính trị và đạo đức cầm quyền của xã hội Đại Việt trung đại.
- Tiếp cận thêm các nguồn tư liệu khảo cổ học và văn bia Phật giáo mới được phát hiện để bổ sung cứ liệu thực chứng cho các thành tố ngoại hiện của văn hóa đạo đức.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn đối với nhiều nhóm đối tượng:
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Văn hóa học: Chương 1 là phần đáng tham khảo nhất về mặt phương pháp luận, cung cấp khung lý thuyết 4 thành tố của văn hóa đạo đức và mô hình vận dụng lý thuyết cấu trúc - chức năng vào nghiên cứu văn hóa xã hội.
- Đối với giới nghiên cứu Lịch sử, Triết học và Tôn giáo học: Chương 2 và Chương 3 cung cấp nguồn tư liệu lịch sử được tổng hợp công phu, giúp người đọc nắm bắt hệ thống dẫn chứng cụ thể về các trước tác của Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ, cũng như các sự kiện lập pháp, thực thi chính sách nhân đạo của vua tôi thời Lý - Trần.
- Đối với các nhà hoạch định chính sách, cán bộ làm công tác tư tưởng, tuyên giáo, tôn giáo và quản lý cán bộ: Chương 4 là phần tham khảo trực tiếp, gợi mở những bài học kinh nghiệm lịch sử trong việc rèn luyện tư cách người lãnh đạo, kết hợp đạo đức và pháp luật, và huy động nguồn lực văn hóa tôn giáo phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước.
Câu hỏi thường gặp
1. Khái niệm văn hóa đạo đức được luận án xác định như thế nào và gồm những thành tố nào?
Luận án định nghĩa văn hóa đạo đức là một thành tố của văn hóa xã hội, thể hiện đặc trưng và trình độ đạo đức của một cộng đồng, có vai trò to lớn trong tổ chức, quản lý xã hội và hình thành nhân cách thành viên, bảo đảm sự tồn tại bền vững và an sinh của cộng đồng. Cấu trúc văn hóa đạo đức gồm 4 thành tố có quan hệ hữu cơ: (1) Hệ thống triết lý, tư tưởng đạo đức; (2) Hệ thống giá trị, chuẩn mực, khuôn mẫu đạo đức; (3) Hệ thống thực hành đạo đức (thể chế, thiết chế, hành vi và nhân cách tiêu biểu); (4) Hệ thống các yếu tố ngoại hiện.
2. Lý thuyết cấu trúc - chức năng được luận án vận dụng thông qua quan điểm của những học giả nào?
Luận án vận dụng quan điểm của ba học giả tiêu biểu: A. Radcliffe-Brown (phân tích chức năng duy trì sự liên kết và đoàn kết xã hội của các thiết chế); Bronislaw Malinowski (phân tích văn hóa như phương tiện đáp ứng các nhu cầu xã hội, mô hình phân tích thiết chế và bốn yêu cầu cấu trúc phổ quát); và Talcott Parsons (văn hóa là hệ thống khuôn mẫu biểu tượng định hướng hành động, thể chế hóa các giá trị thành chuẩn mực xã hội).
3. Luận án chỉ ra những cơ chế tâm lý - xã hội nào trong việc tiếp nhận ảnh hưởng của Phật giáo thời Lý - Trần?
Luận án chỉ ra 4 cơ chế ảnh hưởng chủ yếu: ám thị (tiếp nhận thông tin và hành động dưới tác động tâm lý từ uy quyền hợp pháp), bắt chước (lặp lại các hành vi, hoạt động của cá nhân hoặc nhóm đi trước), đồng nhất hóa (quá trình chủ thể thống nhất bản thân với hình mẫu khác và chuyển các giá trị của họ vào thế giới nội tâm), và lây lan (sự chuyển giao trạng thái cảm xúc trong cộng đồng). Luận án khẳng định các vương triều Lý - Trần tiếp nhận ảnh hưởng Phật giáo một cách tự giác và tương tác hai chiều.
4. Dấu ấn Phật giáo trong thực hành thể chế và luật pháp thời Lý - Trần được thể hiện qua các sự kiện tiêu biểu nào?
Dấu ấn này thể hiện rõ qua xu hướng nhân đạo hóa hình luật: việc bãi bỏ bớt các nhục hình tàn khốc, ban hành chính sách chuộc tội bằng tiền, và các lệnh đại xá. Sự kiện tiêu biểu nhất được dẫn chứng là trường hợp vua Lý Thánh Tông vào mùa đông giá rét đã nghĩ đến những người tù trong ngục thiếu ăn thiếu mặc mà ban lệnh cấp chăn chiếu, phát cơm ăn, và bày tỏ tấm lòng thương xót bầy tôi, xem muôn dân như con đẻ của mình.
5. Luận án lựa chọn những nhân vật lịch sử tiêu biểu nào để phân tích văn hóa đạo đức người cầm quyền?
Luận án khảo sát văn hóa đạo đức thông qua các vị vua, quý tộc và danh tướng tiêu biểu của hai vương triều gồm: Lý Thái Tổ, Lý Thánh Tông, Thái úy Lý Thường Kiệt (thời Lý); Trần Thái Tông, Tiết chế Quốc công Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, và Đức vua - Phật hoàng Trần Nhân Tông (thời Trần).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thanh Hảo là công trình khoa học chuyên khảo tiếp cận mối quan hệ giữa Phật giáo và văn hóa đạo đức các vương triều Lý - Trần dưới góc nhìn chuyên ngành Văn hóa học. Bằng việc xây dựng khung lý thuyết 4 thành tố của văn hóa đạo đức và vận dụng lý thuyết cấu trúc - chức năng, tác giả đã làm sáng tỏ cơ chế tác động và những dấu ấn sâu đậm của Phật giáo trong tư tưởng, chuẩn mực, thực hành thể chế và biểu tượng ngoại hiện của giai cấp cầm quyền Đại Việt thời trung đại. Công trình không chỉ hệ thống hóa các giá trị văn hóa đạo đức lịch sử mà còn đúc kết những bài học kinh nghiệm có giá trị thực tiễn đối với công tác xây dựng tư cách, phẩm chất cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ta hiện nay.