chương I, mang tính nguyên tắc — Dam bao quyền tự do tín ngưỡng, Sắc lệnh 234/SL nêu rõ: “Điều 1: Chính phủ đảm bảo quyên tự do tín ngưỡng và tự do thờ cúng của nhân dân. Không ai được xâm phạm đến quyên tự do ấy. Mỗi người Việt Nam đều có quyên tự do theo một tôn giáo hoặc không tôn giáo nào. Các nhà tu hành được tự do giảng đạo tại các cơ quan tôn giáo (nha tho, chùa, thánh that, trường giáo lý,.) 20 Điều 2: Các nhà tu hành và các tín đô déu được hưởng mọi quyên lợi của người công dân và phải làm mọi nghĩa vụ của người công đân.
Điều 3: Các nhà tu hành người ngoại quốc mà Chính phú Việt nam Dân chủ cộng hòa cho phép, thi được giảng đạo như các nhà tu hành Việt Nam và phải tuân theo pháp luật của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, như các ngoại kiểu khác. Diéu 4: Các tôn giáo được xuất bản và phát hành những kinh bồn, sách báo có tích chất tôn giáo, nhưng phải tuân theo pháp luật của Chính phủ nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa về việc xuất bản. Diéu 5: Các tôn giáo được mở trường đào tạo những người hoạt động tôn giáo của mình. Điêu 6: Các nhà tho, dén chùa, miéu, thánh thất và các đô thờ, các trường giáo lý của tôn giáo được pháp luật bảo hộ.
Điêu 7: Pháp luật sẽ trừng trị những kẻ nào mượn danh nghĩa tôn giáo dé phá hoại hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, tuyên truyền chiến tranh, phá hoại đoàn kết, ngăn trở tín đồ làm nghĩa vụ công dân, xâm phạm đến tự do tín ngưỡng và tự do tư tưởng của người khác, hoặc làm những việc khác trái pháp luật”. 3 — 4] Từ những quy định chung này, ta có thê thấy sắc lệnh 234/SL đã có những quy định cụ thể về những hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, ruộng đất của các tôn giáo. Đưa ra được mối quan hệ giữa chính quyên và các tôn giáo, giữa người dân và các tôn giáo. “Điều 14: Việc tự do tín ngưỡng, tự do thờ cúng là một quyên lợi của nhân dân.
Chính quyền dân chủ Cộng hòa luôn luôn tôn trọng quyên lợi ay va giúp đỡ nhân dân thực hiện ”. 7] 21 Sắc lệnh 234/SL có thể coi là văn bản quy phạm pháp luật riêng đầu tiên về tôn giáo ở Việt Nam. Sắc lệnh đã đánh dấu một bước quan trong cho sự phát triển của các tôn giáo tương lai, vì các tôn giáo được phép mở và dạy trường tư thục, nhưng vẫn phải dạy trên phương diện theo chương trình chính phủ cho phép. Ngoài ra, ngoài giờ dạy chương trình giáo dục của chính phủ, có thể được dạy thêm giáo lý cho những học sinh muốn học.
Sắc lệnh này cũng đánh dấu bước quan trọng trong quan hệ giữa nhà nước với các tôn giáo, sắc lệnh chủ chương: “Chính quyên không tham dự vào nội bộ các tôn giáo” (Điều 13) [89, tr. Như vậy, các tin đồ tôn giáo và các nha tu hành được hưởng mọi quyên lợi mà một công dân bình thường được hưởng và được thực hiện nghĩa vụ mà mọi công dân được thực hiện; được bầu cử và ứng cử theo quy định của pháp luật; các nhà sư được học tập không bị cam đoán, tu hành tự do, tự do hành đạo, giảng đạo trong các cơ sở tôn giáo (chùa, nhà thờ, thánh thất,.); song song với những quyền này, nhà tu hành phải có trách nhiệm và nghĩa vụ giáo dục tín đồ lòng yêu nước, nghĩa vụ công dân, tôn trọng chính quyền và pháp luật của nhà nước khi truyền bá tôn giáo của mình. Các tôn giáo có thé tổ chức các lễ hội tôn giáo đặc trưng của mình mà không phải xin phép; được hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội sau khi xin phép chính quyền, được chính quyền đồng ý, hợp pháp luật của Nhà nước như mọi tổ chức phổ biến khác. Ngoài ra, các cơ sở tôn giáo như đền, chùa, miếu, nhà thờ, thánh đường, các trường giáo lý của tôn giáo được Nhà nước và pháp luật bảo hộ.
Ngày 31/12/1959, Quốc hội thông qua Hiến pháp mới, trong đó, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được ghi rõ. “Công dan nước Việt Nam Dân chu Cộng hòa có các quyền tự do tín ngưỡng theo hoặc không theo một tôn giáo nào ” [23] 22 (Điều 26). Hiến pháp năm 1980 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua Hiến pháp 1959 và bổ sung: “Công dân có quyên tự do tin ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Không ai được lợi dụng tôn giáo dé làm trái pháp luật và chính sách của nhà nước” (Điều 68).
[24] Trong hiến pháp này, quyền tự do tín ngưỡng đã được mở rộng theo hướng công dân có thé theo hoặc không theo bat kỳ tôn giáo nào bên cạnh quyền tự do tín ngưỡng. Điều này cho thấy sự tách biệt giữa quyền tự do tín ngưỡng. Đối với các trường lớp của các tôn giáo, Sắc lệnh số 234/SL về chính sách tôn giáo đã quy định ở điều 5, chương I: “Các fôn giáo được mở trường đào tao những người chuyên hoạt động tôn giáo của mình”; Điều 14, chương IV: “Các tổ chức tôn giáo phải tuân theo luật pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa như mọi tổ chức khác nhau của nhân dân;. Dé đảm bảo việc thực hiện đúng chính sách tôn giáo của Chính phủ, ngày 10/12/1957, Thủ Tướng Chính phủ ban hành Thông tư số 593/TTG hướng dẫn về chủ chương đối với các trường, lớp tôn giáo.
Điều 1: “Các tồn giáo muốn mở trường tư thục thì phải theo đúng những điều quy định của Bộ Giáo dục đối với các trường tư thục khác nhau: thể lệ xin mở trường, điều kiện trường sở, điều kiện giáo viên, chương trình, nội dung giảng dạy,.”; điều 2: “Các tôn giáo muốn mở trường đào tạo người chuyên hoạt động tôn giáo của mình, thì gửi đơn xin mở trường chứng thực, để chuyển lên Uy ban hành chính khu xét va cấp giấy công nhân. Đối với những trường hiện có thì vẫn được tiếp tục giảng dạy, nhưng phải khai báo để được sự công nhận chính thức cua Uy ban hành chính khu ”.2] Ngoài ra, các văn bản như: Thông tư số 51/TT-DC ngày 31/05/1958 hướng dẫn thi hành các luật và Nghị định liên quan đến lập hội và hội họp đối với tôn 23 giáo; Chỉ thị số 88/CT-TTG, ngày 26/04/1973 về việc chấp hành chủ trương đối với việc bảo vệ các chùa và tăng, ni,. có ý nghĩa to lớn cho Phật giáo ôn định. Từ những văn bản, quy định trên tiếp tục phát huy tác dụng.
Có thể thấy chính sách nhất quán của Dang và Nhà nước ta là tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo. Điều đó cho thấy năng lực lãnh đạo nhạy bén và sáng suốt của Dang ta trong việc xây dựng quan điểm thống nhất về tôn giáo và thực hiện chính sách tôn giáo, bảo vệ quyền lợi của đồng bào có đạo và củng cô khối đại đoàn kết dân tộc. Trong thời kỳ sau 1975 đến trước năm 1990 này, Đảng và Nhà nước ta đã lãnh đạo ôn định xã hội đặt cơ sở nền tảng, là kim chỉ nam dé Dang va Nhà nước chi dao đúng đắn công tác và hoạt động tôn giáo trong giai đoạn tiếp theo. Tuy vậy, tình hình tôn giáo ở nước ta sau năm 1975 có nhiều thuận lợi, thành tựu nhưng cũng có không ít khó khăn.
Đó là có một bộ phận tu sĩ, tín đồ bỏ ra nước ngoài hoặc ở lại trong nước tổ chức các nhóm, hoạt động gây rối, chống phá chính quyền làm cho tình hình tôn giáo trong nước trở nên phức tạp, gây nhiều khó khăn cho Đảng và Nhà nước. Điều này đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến nhận thức, đường lối, phương hướng, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta, dẫn đến tâm lý nóng vội, duy ý chí chán nản, muốn xóa bỏ nhanh tôn giáo bằng các biện pháp hành chính và các chính sách có phần nghiêm ngặt, thậm chí có khi vi phạm cả chính sách tự do tôn giáo. Nhưng Đảng và Nhà nước đã không vì thế mà bỏ mặc tôn giáo khó khăn, có những điều chỉnh đúng đắn, đưa ra những chi đạo, định hướng kip thời. Hơn nữa, công tac tôn giáo có sự đồng lòng của các tín đồ theo đạo, những người tích cực tham gia xây dựng và gift nước, tin tưởng và chính sách của Dang va Nhà nước đê ra.
Quan điểm, đường lỗi của Dang và Nhà nước Việt Nam về tôn giáo từ năm 1975 — 1990 Ngày 28/2/1975, bản dự thảo về đường lối, chính sách của Đảng đối với công tác ở miền Nam đã đưa ra nhận định có tính đúc kết dự báo về vấn đề tôn giáo trong cách mạng sắp tới: Vấn đề tôn giáo là vấn đề thuộc về sự khác nhau về tư tưởng trong nhân dân, đồng thời lại là công cụ đấu tranh giai cấp tức là van đề thuộc về chính trị. Do đó, vẫn đề vận động quần chúng tôn giáo là một vấn đề lâu dai, gay go va phức tap. Trước hoàn cảnh đó, sau năm 1975 dé khẳng định một lần nữa quan điểm bình dang, tự do đối với những người theo tôn giáo và các tổ chức hoạt động tôn giáo, tạo lòng tin vững chắc đối với nhân dân theo tôn giáo, văn kiện Đại Hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (1976) đã viết: “Tôn trọng quyển tự do tín ngưỡng của nhân dân, đông thời cương quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu lợi dụng tôn giáo, làm hại đến lợi ích Tổ quốc, lợi ích nhân dân. Đó là cơ sở vững chắc cho sự hoạt động của các tôn giáo và công khai về chính sách tôn giáo của nhà nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ”.
[45] Sắc lệnh 234/SL thực hiện đến ngày miền Nam giải phóng, đất nước thống nhất, sau đó được thay bang Nghị quyết 297/NQ-HDBT, ngày 11/11/1977 Nghị quyết của hội đồng Chính phủ về một số chính sách đối với tôn giáo. Nghị quyết không chia chương và điều mà chia thành ba phan lớn: I — chương nguyên tắc chung, gồm 3 mục; II — một số chính sách cụ thể, gồm 3 mục; III — trách nhiệm của chính quyền các cấp. Kế thừa tư tưởng của Sắc lệnh 234/SL, Nghị quyết nêu rõ nguyên tắc của chính sách tôn giáo là: “1. Chính phủ dam bảo quyên tự do tín ngưỡng và quyên tự do không tín ngưỡng cua nhân dân.
Các nhà tu hành và tín đồ các tôn giáo déu được hưởng mọi quyên lợi và phải làm mọi nghĩa vụ của người công dân. Các tôn giáo và mọi công dan theo đạo hoặc không theo dao đêu bình đăng trước pháp luật.