Đặt Vấn Đề: Giới thiệu chung về lý do và mục đích chọn nghiên cứu để tài, địa bàn nghiên cứu, thời gian nghiên cứu. Chương 2: Cơ Sở Lý Luận và Phương Pháp Nghiên Cứu Nêu lên cơ sở lý luận chính yếu của các nội dung thực hiện trong để tài. Đồng thời nêu rõ phương pháp chính của việc thực hiện dé tài. Chương 3: Tổng Quan Chương 2 ~TM CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Quan điểm về kinh tế hợp tác.
Theo Lê-nin, những người sản xuất nhỏ muốn đi lên Chủ Nghĩa Xã Hội phải đi qua con đường hợp tác, phải kiên trì thực hiện chế độ kinh tế hợp tác. Lênin cho rằng “ chế độ ấy có một ý nghĩa đặc biệt trước hết là về phương diện nguyên tắc, sau hơn nữa là về phương diện bước quá độ sang một chế độ mới bằng con đường đơn giản nhất, dễ dàng nhất, dễ tiếp thu nhất đối với nông dân”. Lênin lại cho rằng: thành phần kinh tế mới hình thành trong thời kỳ quá độ lên Chủ Nghĩa Xã Hội là thành phần kinh tế Xã Hội Chủ Nghĩa bao gồm hai phương thức là: kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể mà nòng cốt là Hợp Tác Xã. Sau đó người đưa ra tính chất xã hội chủ nghĩa của kinh tế tập thể là: % Thứ nhất: các thành viên tham gia HTX tự giác mang tư liệu sản xuất thuộc quyển sở hữu của mình góp vào và sử dung chung vi lợi ích của tất cả các thành viên tham gia chứ không phục vụ lợi ích riêng của một cá nhân nào.
* Thứ hai: chủ thể của quan hệ hợp tác là tất cả các thành viên tham gia đơn vị kinh tế tập thể. Họ cùng lao động, cùng làm việc và quyết định vấn để phân phối những thành quả lao động của các tổ chức đó. Người lao động vừa là chủ tư liệu sản xuất vừa trực tiếp tham gia lao động và quản lý. Vì vậy trong quan hệ hợp tác không có tổn tại quan hệ bóc lột.
trở nên lạc hậu, không còn phù hợp và đáp ứng điều kiện mà nền kinh tế lúc bây giờ. Đến giai đoạn nửa cuối thập kỷ 80, tình hình sản xuất các Hợp Tác Xã đã lâm vào cuộc khủng hoảng trầm trọng, hoạt động kém hiệu quả. Đồng thời với tình trạng bao cấp trong hoạt động sản xuất của Hợp Tác Xã đã làm cho niềm tin của nông dan vào việc tham gia Hợp Tác Xã ngày càng giảm sút. Khi nói đến tham gia Hợp Tác Xã là họ né tránh, không mặn mà lắm đến việc này.
Đây là một vấn để quan trọng trong giai đoạn phát triển nền kinh tế thị trường như hiện nay cần phải định hướng lại vì nó ảnh hưởng vào suy nghĩ điều trên đã in sâu vào quan điểm của nông dân nên rất khó mà thay đổi được cách nhìn của họ. Trong tình hình kinh tế hiện nay, nền kinh tế trị trường dân đang đóng vai trò quan trọng thì việc hợp tác sản xuất, kinh doanh là tất yếu vì có hợp tác thì nông dân mới có cơ hội nhiều hơn trong san xuất và tránh những rủi ro không cần thiết. Với nhiều chính sách của Chính phủ tạo điều kiện cho việc tái hoạt động, khôi phục và thành lập nhiều mô hình Hợp Tác Xã kiểu mới trong thời gian gần đây đã mang lại những giá trị to lốn và dần xoá được nhận thức của nông dân về Hợp Tác Xã và làm cho những mô hình Hợp Tác Xã này ngày càng phát triển. Vì vậy để làm rõ hơn về Hợp Tác Xã nói chung, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Hiện trạng hoạt động và một số giải pháp phát triển Hợp Tác Xã trên địa bàn huyện Thống Nhất - tỉnh Đồng Nai.” nhằm đánh giá được tình hình phát triển Hợp Tác Xã trên địa bàn.
Và tìm hiểu những việc còn tổn đọng trong cơ chế quản lí và hoạt động để đưa ra giải pháp nâng cao hiệu qua sản xuất của những mô hình Hợp Tác Xã trên địa bàn huyện Thống Nhất nói riêng và xa hơn nữa là tỉnh Đồng Nai nói chung. Đưa ra được tình hình chung địa bàn đang điều tra nghiên cứu về ranh giới, vị trí địa lý cho đến tình hình kinh tế — xã hội giúp người đọc nắm tình hình chung về địa bàn nghiên cứu. Chương 4: Kết Quả Nghiên Cứu Và Thảo Luận Đây là phần chính của để tài, vận dụng các cơ sở lý luận để tiến hành phân tích, tổng hợp theo những nội dung đề tài đặt ra, những giải pháp cụ thể để hoần thiện mục tiêu nghiên cứu Chương 5: Kết Luận và Kiến Nghị Sau khi nghiên cứu được kết quả thì tổng kết lại rút ra những kết luận có liên quan và vạch ra những kiến nghị đối với các cấp có liên quan. s* Thứ ba là: khác với kinh tế quốc doanh, kinh tế hợp tác chủ yếu hình thành bằng con đường hợp tác tự nguyện của các thành viên với tư cách là những người chủ sở hữu nhằm mục đích thực hiện lợi ích kinh tế của mình.2 Một số khái niệm về kinh tế hợp tác trong nông nghiệp.
Khái niệm về hợp tác. Hợp tác là sự kết hợp sức lực của các cá nhân hoặc đơn vị để tạo sức mạnh lớn hơn, nhằm thực hiện những công việc mà mỗi cá nhân, đơn vị hoạt động riêng lẻ sẽ gặp khó khăn, thậm chí không thực hiện được, hoặc thực hiện không có hiệu quả so với hợp tác. Hợp tác là hình thức tất yếu trong lao động sản xuất và hoạt động kinh tế của con người. Hợp tác bắt nguồn từ tính chất xã hội của hoạt động nói chung, của lao động sản xuất và hoạt động kinh tế nói riêng của con người nên sự phát triển của hợp tác gắn lién và bị qui định bởi tiến trình nâng cao trình độ xã hội hóa sản xuất và hoạt động kinh tế.
Trong lao động sản xuất, hợp tác có tác dụng làm tăng năng suất lao động và tác dụng thúc đẩy kinh tế. Cùng với tiến trình phát triển của xã hội, phân công lao động xã hội và chuyên môn hóa sản xuất ngày càng phát triển do đó nhu cầu về hợp tác lao động ngày càng tăng, mối quan hệ hợp tác ngày càng chặt chế và được mở rộng, nó không còn bị ràng buộc trong phạm vi từng đơn vị, từng ngành, địa phương, quốc gia mà còn mở rộng trên phạm vi quốc tế. Hợp tác có nhiều hình thức với các tính chất, đặc điểm và trình độ khác nhau: hợp tác ngẫu nhiên, nhất thời; hợp tác thường xuyên, ổn định; hợp tác lao động; hợp tác giữa các đơn vị, ngành;v. Khái niệm về kinh tế hợp tác: - Kinh tế hợp tác là một hình thức quan hệ kinh tế hợp tác tự nguyện, phối hợp, hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các chủ thể kinh tế, kết hợp sức mạnh của từng thành viên với ưu thế và sức mạnh của tập thể để giải quyết tốt hơn những vấn để của sản xuất — kinh doanh va đời sống kinh tế nhằm nâng cao hiệu qua hoạt động và lợi ích mỗi thành viên.
- Trong lĩnh vực nông nghiệp, kinh tế hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ thì kinh tế hợp tác là một hình thức kinh tế mà từ đó các chú thể kinh tế tự chủ có diéu kiện phát triển. Quan hệ kinh tế hợp tác phải xây dựng trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi và tính tự chủ độc lập của các thành viên tham gia. - Quá trình hợp tác được thực hiện bằng nhiều hình thức từ giản đơn đến phức tạp, từ đơn ngành đến đa ngành. Trình độ xã hội hoá sản xuất ngay càng cao, càng phát triển thì nhu cầu hợp tác ngày càng tăng, mối quan hệ hợp tác ngày càng sâu rộng, do đó tất yếu hình thành và ngầy càng phát triển các hình thức kinh tế hợp tác ở trình độ cao hơn.3 Đặc thù của kinh tế hợp tác - Nông nghiệp là ngành sản xuất gắn liền với sự phát triển của loài người, có nghĩa là ngay từ khi con người xuất hiện thì chính sản xuất nông nghiệp mang lại sự sống cho họ.
Vì thế hợp tác lao động trong nông nghiệp là hình thức hợp tác lao động đầu tiên của loài người. Sản xuất ngày càng phát triển thì sự phân công lao động ngày càng sâu sắc nên xuất hiện nhiều hình thức hợp tác lao động trong các ngành nghề khác nhau. c$ — A DI LS LS SS EES - Đặc thù hợp tác trong các lĩnh vực khác nhau thì không hoàn toàn giống nhau, nó tùy thuộc vào quy định của từng ngành sản xuất. Bao gồm những đặc thù sau: Một là: sản xuất nông nghiệp gắn lién với cơ thể sống mà sự tổn tại và phát triển của nó tuân theo các qui luật sinh học.
Trong quá trình sản xuất nông nghiệp phẩi được phân chia thành nhiều khâu, trong đó những khâu cần thiết phải có sự hợp tác lao động. Song cũng có những khâu từng người làm riêng biệt sẽ có hiệu quả hơn. Vì vậy hợp tác trong nông nghiệp phải hợp tác từng khâu, từng công việc cụ thể. Hai là: sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ, lúc thời vụ khẩn trương thì hợp tác, hợp lực với nhau để sản xuất, lúc nông nhàn thì phát huy tính can cù của từng cá nhân riêng biệt.
Ba là: do sản xuất nông nghiệp chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên nên hợp tác lao động tuỳ thuộc vào tình hình thời tiết. Sản xuất nông nghiệp dién ra ngoài trời nên không gian làm việc rộng lớn, lao động va tư liệu sản xuất luôn đi động và thay đổi theo thời gian, không gian. Vì vậy hợp tác nông nghiệp nông thôn cần tổ chức cho thích hợp với sự di chuyển của các yếu tố san xuất.4 Các hình thức kinh tế hợp tác Trong nền kinh tế nước ta hiện nay tổn tại nhiều loại hình kinh tế hợp tác. Mỗi loại hình phan ảnh đặc điểm trình độ phát triển của lực lượng san xuất và hình thức phân công lao động tương ứng.
Thường bao gồm các loại hình thức sau: 2. Kinh tế hợp tác giản đơn: 2. Tổ, hội nghề nghiệp: Được hình thành trên cơ sở tự nguyện của các chủ thể kinh tế độc lập có hình thức và mục đích hoạt động kinh doanh giống nhau, nhằm cộng tác trao đổi kinh nghiệm, giúp đổ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận của mỗi thành viên. Tổ nghề nghiệp thường gồm từ 5 — 30 thành viên tự nguyện gia nhập hoặc rút khỏi tổ và có thể xây dựng quỹ hội do các thành viên tự thỏa thuận.