CHƯƠNG 1 NHỮNG VAN DE CƠ BAN VE QUAN LÝ CHI THUONG XUYÊN NSNN CAP HUYEN TAI VIET NAM 1. Khái quát chung về chi ngân sách nha nước 1. Khái niệm NSNN Ngân sách nhà nước (NSNN) (state budget hay government budget) là một phạm trù kinh tế lịch sử, khách quan, ra đời, ton tại và phát triển cùng với sự ra đời, tôn tại và phát triên của Nhà nước. Theo quy định của Bộ tài chính Australia, ngân sách nhà nước cho biết dự kiến khoản thu và chi của chính phủ trong năm tai chính và cho biết những dịch vụ sẽ được thực hiện.
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, ngân sách nhà nước là bảng cân đối của chính phủ về nhưng khoản thu và chi dự kiến trong một năm tài chính, và thường được cơ quan lập pháp thông qua, cơ quan hành pháp phê duyệt và do Bộ tài chính chuẩn bị. Tài liệu này cho biết những khoản thu va chi dự tính của chính phủ cho năm tài chính hiện hành. Theo Điều 1- Luật NSNN được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt nam khóa XI, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 16/12/2002, Ngán sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chỉ của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thấm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm dé bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Qua các khái niệm trên, hiểu theo một nghĩa chung nhất, NSNN là một kế hoạch tài chính của quốc gia bao gồm chủ yếu các khoản thu và chi của Nhà nước được mô tả dưới hình thức cân đối bằng giá tri tiền tệ.
Phần thu thể hiện các nguồn tài chính được huy động vào NSNN; phần chi thé hiện chính sách phân phối các nguồn tài chính đã huy động được dé thực hiện mục tiêu KT-XH. NSNN được lập và thực hiện cho một thời gian nhất định, thường là một năm va được Quốc hội phê chuẩn thông qua. Hiéu theo nghĩa này, ngân 8 sách nhà nước có thê tôn tại dưới 3 dạng : - Ngân sách cân băng khi nguôn thu của chính phủ băng với các khoản chi. - Ngân sách thang dự khi nguồn thu của chính phủ lớn hon các khoản chi - Ngân sách thâm hụt khi nguồn thu của chính phủ nhỏ hơn các khoản chi Tuy nhiên, NSNN cũng có thê hiểu là quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước hay nguôn lực tài chính của nhà nước.
Quỹ này thé hiện lượng tiền huy động từ thu nhập quốc dân dé đáp ứng cho các khoản chi tiêu của Nhà nước, có hai mặt đó là: mặt tĩnh và mặt động. Mặt tĩnh thé hiện các nguồn tài chính được tập trung vào NSNN mà chúng ta có thể xác định được vào bất kỳ thời điểm nhất nào đó. Trong khi đó, mặt động thể hiện các quan hệ của nhà nước với các chủ thé trong nền kinh tế gắn liền với quỹ tiền tệ tập trung vào NSNN va từ NSNN phân bổ các nguồn tài chính cho thành phan, lĩnh vực, địa phương trong nên kinh tế của mỗi quốc gia. Chính vi vậy lời nói đầu của Luật NSNN năm 2002 mới viết "Dé quản lý thống nhất nền tài chính quốc gia, nâng cao tính chủ động và trách nhiệm của các cơ quan, tô chức, cá nhân trong việc quản ly và sử dụng ngân sách nhà nước, củng cé kỷ luật tài chính, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả ngân sách và tài sản của Nhà nước, tăng tích lũy nhăm thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại;" Khi đó có thé coi NSNN là một hệ thống quan hệ kinh tế tồn tại khách quan.
Hệ thống các quan hệ kinh tế này được đặc trưng bởi quan hệ tiền tệ phát sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính và bằng các quan hệ kinh tế đó mà quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước được tạo lập và sử dụng. Hệ thống các quan hệ kinh tế này bao gồm: - Quan hệ kinh tế giữa NSNN với khu vực doanh nghiệp. 9 - Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các đơn vị hành chính sự nghiệp. - Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các tầng lớp dân cư.
- Quan hệ kinh tế giữa NSNN với thị trường tài chính. Như vậy đăng sau hình thức biéu hiện bên ngoài của NSNN là một loại quỹ tiền tệ của Nhà nước với các khoản thu và các khoản chỉ của nó thì NSNN lại phản ảnh các quan hệ kinh tế trong quá trình phân phối, thé hiện các quan hệ phân phối và các quan hệ lợi ích kinh tế gan với một chủ thé đặc biệt, đó là Nhà nước nhằm tạo lập và sử dụng nguồn tài chính quốc gia dé giải quyết các nhiệm vụ về KT-XH. Hệ thống NSNN là tổng thé các cấp ngân sách có quan hệ hữu cơ với nhau trong quá trình tổ chức huy động, quản lý các nguồn thu và thực hiện nhiệm vụ chỉ của mỗi cấp ngân sách. Ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, hệ thống NSNN được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức bộ máy hành chính của nhà nước.
Ở nước ta bộ máy quản lý hành chính nhà nước được tô chức 4 cấp: trung ương: tỉnh, Thành phố trực thuộc TW; quận, huyện, thị xã, Thành phố thuộc tỉnh và xã, phường, thị tran. Mỗi cấp chính quyền đều phải có ngân sách dé thực hiện các nhiệm vụ được giao theo quy định của pháp luật và phù hợp với khả năng quản lý của cấp chính quyền đó. Quan hệ giữa các cấp ngân sách được thực hiện theo những nguyên tắc cơ bản sau: - Ngân sách TW và ngân sách mỗi cấp chính quyền được phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chỉ cụ thể. - Ngân sách TW đóng vai trò chủ đạo, bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ chiến lược, quan trọng của quốc gia và hỗ trợ các địa phương chưa cân đối được ngân sách.
- Ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu dé chủ động thực hiện những nhiệm vụ được giao. 10 - Nhiệm vu chi thuộc cấp ngân sách nào do cấp ngân sách đó cân đối. Trường hợp cơ quan quản lý nhà nước cấp trên ủy quyền cho cơ quan quản lý nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi thuộc chức năng của mình thì phải chuyên kinh phí từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ đó. - Thực hiện phân chia theo tỷ lệ % đối với các khoản thu phân chia giữa ngân sách các cấp và bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới dé đảm bảo công bằng, phát triển cân đối giữa các vùng, các địa phương.
Tỷ lệ % phân chia các khoản thu và số bé sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới được ôn định từ 3-5 năm. Số bé sung từ ngân sách cấp trên được coi là khoản thu của ngân sách câp dưới. - Ngoài cơ chế bé sung nguồn thu và cơ chế ủy quyền không được dùng ngân sách của câp này đê chi cho nhiệm vụ của câp khác. NSNN được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai minh bạch, có sự phân công, phân cấp quản lý, gan quyền hạn với trách nhiệm, nguyên tac cân đôi.
Các nguyên tac này xuât phat từ các lý do sau: Tổ chức bộ máy hành chính của Nhà nước Việt Nam là thống nhất từ TW đến địa phương dưới sự lãnh đạo và điều hành của Quốc hội và Chính phủ. Ngân sách cấp dưới là một bộ phận không thể tách rời của ngân sách cấp trên; NSTW và NSDP hợp thành một chỉnh thê NSNN thống nhất. Nguồn tài chính quốc gia được tạo ra từ một cơ cau kinh tế thống nhất, được phân bổ trên các vùng lãnh thé của quốc gia cho nên NSNN là một thể thống nhất, bao gồm toàn bộ các khoản thu, các khoản chi của Nhà nước trong một năm dé đảm bảo thực hiện các chức năng nhiệm vu cua Nhà nước. Hệ thống tô chức và quản lý NSNN là thống nhất từ TW đến địa phương dưới sự lãnh đạo và điều hành của Quốc hội và Chính phủ.
Các cơ chế, chính sách thu chi và phương thức quản lý NSNN phải được thực hiện thống nhất do Quốc hội, Chính phủ quy định. 11 Nguyên tắc tập trung được thiết lập nhằm đảm bảo tính thong nhất trong hệ thống NSNN và tăng cường quyền lực của chính quyền TW. Tuy nhiên dé phù hợp với xu thế phát triển nền dân chủ chính trị, đi đôi với việc tăng cường tập trung quyền lực của chính quyền TW cần phải day mạnh thé chế dân chủ thông qua việc phân cấp quản lý NSNN và tăng quyền tự chủ cho các cấp ngân sách trong việc tô chức và khai thác tối đa nguồn lực của địa phương dé thúc đây sự phát triển của địa phương. Việc phân cấp mà nội dung cốt lõi của nó là sự phân quyền nhưng đồng thời phải tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chủ thể quản lý đối với NSNN.
Nguyên tắc công khai, minh bạch trong quản lý NSNN xuất phát từ xu hướng mở rộng dân chủ trong hệ thống chính trị. Người dân nộp thuế cho Nhà nước có quyền yêu cầu Chính phủ phải công khai minh bạch các khoản thu, chi của NSNN dé đánh giá mức độ hiệu quả và trách nhiệm của các cấp chính quyền Nhà nước trong việc sử dụng nguồn lực tài chính công. Và dé thực hiện nội dung này Chính phủ cũng đã có những quy định cụ thé dé công khai ngân sách các cấp. NSNN vừa đảm bảo dân chủ, công khai, minh bạch vừa phải được kiểm tra, kiểm soát theo một cơ chế được tô chức chặt chẽ, thông qua việc sử dụng có hiệu quả các công cụ kế toán, kiểm toán, thanh tra tài chính.
Tổ chức hệ thông ngân sách nhà nước Trong một quốc gia, NSNN được tô chức và quản lý theo hệ thống gồm nhiều cấp ngân sách. Có thé quan niệm hệ thống NSNN là tổng thể các cấp ngân sách có mối quan hệ hữu cơ với nhau trong quá trình tổ chức huy động, quan lý các nguôn thu và thực hiện nhiệm vụ chi của moi cap ngân sách. Ở hau hết các quốc gia trên thế giới, hệ thống NSNN đều được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức bộ máy quản lý hành chính nhà nước. Các quốc gia có hệ thống chính quyền Nhà nước được tô chức theo thé chế liên bang như My, Đức, Malaysia., hệ thống NSNN bao gồm: ngân sách liên bang, ngân sách tiểu bang và NSDP.
Ở các quốc gia như Trung Quốc, Pháp, Việt 12 Nam.