Chương 1: Cơ sở lý luận về nghèo đô thị. Chương 2: Thực trạng nghèo ở huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Chương 3: Phương hướng và những giải pháp giảm nghèo ở huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Sinh viên: Trần Huyền Trang MSV: 11134015 Chuyên đề tốt nghiệp 4 GVHD: TS.
Nguyễn Thị Thanh Huyền LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan chuyên đề tốt nghiệp, đề tài: Phân tích tình trạng nghèo tại huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội là do bản thân thực hiện, không sao chép, cắt ghép các báo cáo hoặc luận văn của người khác; nếu sai phạm tôi xin chịu kỷ luật với Nhà trường. Hà Nội, ngày thang năm 2017 Tác giả chuyên đề Trần Huyền Trang Sinh viên: Trần Huyền Trang MSV: 11134015 Chuyên đề tốt nghiệp 5 GVHD: TS. Nguyễn Thị Thanh Huyền CHUONG 1: CƠ SO LÝ LUẬN VE NGHEO ĐÔ THỊ 1. Lý luận chung về nghèo 1.
Khát niệm nghèo Trong Hội nghị bàn về giảm nghèo đói ở khu vực Chau A Thái Bình Dương, tổ chức tại Băng Cốc — Thái Lan, ESCAP đã đưa ra khái niệm và định nghĩa về nghèo đói: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn các nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của đất nước”. Nhà kinh tế học Mỹ Galbraith cũng quan niệm: "Con người bị coi là nghèo khổ khi mà thu nhập của họ, ngay dù thích đáng dé họ có thé tổn tai, rơi xuống rõ rệt dưới mức thu nhập cộng đồng. Khi đó họ không thể có những gì mà đa số trong cộng đồng coi như cái cần thiết tối thiểu để sống một cách đúng mực." Tại hội nghị thượng đỉnh thé giới về phát triển xã hội tổ chức năm 1995 đã đưa ra định nghĩa về nghèo: "Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới một đô la mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản pham cần thiết dé tồn tại." Theo nhóm nghiên cứu của UNDP, UNFPA, UNICEF trong công trình "Xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam-1995" đã đưa ra định nghĩa: "Nghèo là tình trạng thiếu khả năng trong việc tham gia vào đời sống quốc gia, nhất là tham gia vào lĩnh vực z kinh tê." Ở Việt Nam, đói và nghèo thường được chia ra làm hai khái niém riêng biệt: Nghèo: là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thoả mãn một phần những nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện. Trong hoàn cảnh nghèo thì người nghèo và hộ nghèo cũng chỉ vẫn vật lộn với những mưu sinh hàng ngày và kinh tế vật chất, biểu hiện trực tiếp nhất ở bữa ăn.
Họ không thể vươn tới các nhu cầu về văn hóa- tinh thần hoặc những nhu cầu này phải cắt giảm tới mức tối thiểu gần nhất, gần như không có. Điều này đặc biệt rõ ở nông thôn với hiện tượng trẻ em bỏ học, thất học, các hộ nông dân nghèo không có khả năng dé hưởng thụ văn hóa, chữa Sinh viên: Trần Huyền Trang MSV: 11134015 Chuyên đề tốt nghiệp 6 GVHD: TS. Nguyễn Thị Thanh Huyền bệnh khi 6m đau, không đủ hoặc không thé mua săm thêm quần áo cho nhu cầu mặc, sửa chữa nhà cửa cho nhu cầu ở. Nghèo là khái niệm chỉ tình trạng mà thu nhập thực tế của người dân chỉ dành hau như toàn bộ cho nhu cau ăn, thậm chí không đủ chi cho ăn, phần tích lũy hầu như không có.
Doi: là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu và vật chất để duy trì cuộc sống. Sự nghèo khổ, sự ban cùng được biểu hiện là đói, là tình trạng con người không có cái ăn, ăn không đủ lượng dinh dưỡng tối thiểu cần thiết để duy trì sự sống hàng ngày và không đủ sức để lao động, để tái sản xuất sức lao động. Đói nghèo ở nước ta, ngoài những đặc điểm xét về phương diện kinh tế, còn có những đặc điểm về phương diện xã hội. Nhìn chung, khái niệm nghèo đói là tinh trạng một bộ phận dân cư không có những điều kiện về cuộc sống như ăn, mặc, ở, vệ sinh, y tế, giáo dục, đi lại, quyền được tham gia vào các quyết định của cộng đồng.
Nghèo đói thường được phản ánh dưới ba khía cạnh: Không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản tối thiểu của con người, mức sống thấp dưới mức trung bình của cộng đồng dân cư nơi cư trú, không được hưởng cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển cộng đồng. Nghéo tuyệt đối va nghèo tương đối Nghẻo đói còn được thé hiện trên hai khía cạnh khác nhau là nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối. Neghéo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư thường trực không có khả năng thảo mãn các nhu cầu tối thiểu dé duy trì cuộc sông. Trên thực tế một bộ phận lớn dân cư nghèo tuyệt đối rơi vào tinh trạng đói và thiếu đói.
Nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung bình của cộng đồng tại địa phương. Như vậy sự thiếu thốn của cải trong mối quan hệ với nhu cầu thiết yêu của con người được xem là nghèo tuyệt đối, còn khi xem xét thực trạng mức sống và vị trí (kinh tế, xã hội) các nhóm hoặc các cá nhân khác ở phương diện mức độ tiêu thụ và thu nhập của họ, cơ hội tiếp cận các nguồn lực sẽ cho ta quan niệm về tương đôi. Tuỳ mức độ đảm bảo nhu câu tôi thiêu mà sự nghèo khô của dân cư được chia thành nghèo và rất nghèo, hoặc nghèo bậc 1, bậc 2. Sinh viên: Trần Huyền Trang MSV: 11134015 Chuyên đề tốt nghiệp 7 GVHD: TS.
Nguyễn Thị Thanh Huyền 1. Một số khái niệm khác - Hộ nghèo Khái niệm: Hộ nghèo là những hộ có thu nhập bình quân đầu người trong hộ dưới ngưỡng đói nghèo. Theo quyết định số 59/2015/QĐ-TTg về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020: Hộ nghèo ở khu vực nông thôn cần đáp ứng: Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống hoặc Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiêu hụt tiêp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. Hộ nghèo ở khu vực thành thị cần đáp ứng: Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống hoặc có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.
- Hộ thoát nghèo Hộ thoát nghèo được quy định tại Khoản 2 Điều 2 Thông tư 17/2016/TT- BLĐTBXH hướng dẫn quy trình rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo hằng năm theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành. Hộ thoát nghèo là hộ nghèo thuộc danh sách địa phương quản lý nhưng qua điều tra, rà soát hang năm ở cơ sở được xác định không thuộc nhóm đối tượng hộ nghèo theo tiêu chí về xác định hộ nghèo và được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định công nhận là hộ thoát nghèo. Hộ thoát nghèo bao gồm: - Hộ thoát nghèo và trở thành hộ cận nghèo. - Hộ thoát nghèo vượt qua mức chuẩn hộ cận nghèo là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ mức sống trung bình trở lên (tiêu chí xác định mức sống trung bình theo quy định tại Khoản 3 Điều 2 Quyết định 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ).
Sinh viên: Trần Huyền Trang MSV: 11134015 Chuyên đề tốt nghiệp 8 GVHD: TS. Nguyễn Thị Thanh Huyền - Xã nghèo Là xã có tỷ lệ nghèo cao, không có hoặc rất thiếu những cơ sở hạ tầng thiết yêu như: điện, đường, trường, trạm, nước sạch. trình độ dân trí thấp, ty lệ mù chữ cao. Quan điểm về chuẩn nghèo Chuẩn nghèo là thước đo mức sống của dân cư dé phân biệt trong xã hội ai thuộc diện nghèo và ai không thuộc diện hộ nghèo.
Trên thế giới hình có 03 phương pháp tiếp cận chuẩn nghèo chủ yếu sau: phương pháp dựa vào nhu cầu chỉ tiêu; phương pháp dựa vào thu nhập thực tế; phương pháp dựa vào đánh giá của người dân. Trong 03 phương pháp trên thì 2 phương pháp đầu được các quốc gia sử dụng khá phô biến. Ở Việt Nam, ngày 19/11/2015, Thủ tướng Chính phủ ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020. Cụ thể dựa vào những tiêu chí sau đê xác định mức chuân nghèo: > Tiêu chí vê thu nhập: Chuan mức sống tối thiêu: từ 1.3 triệu đồng/người/tháng trở xuống ở thành thị và | triệu đồng/người/ tháng tại nông thôn.
Chuẩn nghèo chính sách: từ 1 triệu đồng/người/tháng trở xuống tại thành thị và 800.000 đồng/người/ tháng tại nông thôn. Chuan mức sống trung bình: từ 1.95 triệu đồng/người/tháng trở xuống và 1.5 triệu đồng/người/tháng ở nông thôn. > Tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản: Tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản về y té, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, tiếp cận thông tin. Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt bao gồm: trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin.
Ngưỡng thiếu hụt đa chiều đối với một hộ gia đình là từ 1/3 tổng điểm thiếu hụt tiêp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. Sinh viên: Trần Huyền Trang MSV: 11134015 Chuyên đề tốt nghiệp 3 GVHD: TS. Nguyễn Thị Thanh Huyền Dựa vào 2 tiêu chí trên để xác định mức chuẩn nghèo: - Hộ nghèo: là hộ đáp ứng | trong 2 tiêu chí sau: + Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ chuẩn nghèo chính sách trở xuông. + Có thu nhập bình quân đầu người/tháng cao hơn chuẩn nghèo chính sách đến chuẩn mức song tối thiểu và từ 1/3 tổng số điểm thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.
- Hộ cận nghèo: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng cao hơn chuan nghèo chính sách đến chuan mức sống tối thiêu, và dưới 1/3 tổng số điểm thiếu hụt tiép cận các dịch vụ xã hội cơ bản.