Chương 1 : Đặt Vấn Dé. Nêu ly do chọn dé tài, mục tiêu, ý nghĩa, nội dung nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và cấu trúc của luận văn.2 Chương 2 : Cơ Sở Lý Luận Và Phương Pháp Nghiên Cứu. Khái niệm lao động - việc làm - thất nghiệp — đô thị hoá. Tính tất yếu của sự biến đổi cơ cấu lao động trong quá trình phát triển kinh tế - chuyển địch cơ cầu kinh tế.
Phương pháp nghiên cứu.3 Chuong 3 : Tổng Quan. Khái quát về điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội tại địa bàn xã Quảng Tiến.4 Chuong 4 : Nội Dung Nghiên Cứu Và Thảo Luận. Tìm hiểu thực trạng dân số và lao động trên địa bàn xã. Quá trình chuyển đổi ngành nghè của lao động trên địa bàn.
Thực trạng của lao động nhập cư trong quá trình đô thị hoá, tác động của dân nhập cư đến cộng đồng và những khó khăn hạn chế của địa phương. Phân tích thực trạng và nguyên nhân thất nghiệp của lao động tại địa phương. Tìm hiểu tình hình việc làm, giải quyết việc làm của địa phương và những thuận lợi và khó khăn của địa phương trong công tác giải quyết việc làm.5 Chương 5: Kết Luận và Kiến Nghị. CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Các khái niệm lao động- việc làm - đô thị hóa - thất nghiệp.
Khái niệm lao đông: Lao động là quá trình con người vận dụng sức lực và trí tuệ của mình kết hợp với những tư liệu lao động theo những phương pháp và cách thức nhất định để tác động vào đối tượng lao động để tạo ra các sản phẩm. Sức lao động ở đây không thể tách biệt cá lẻ mà mang tính xã hội, là lực lượng lao động xã hội, nó bao gồm nhiều người tham gia vào quá trình tái sản xuất xã hội, có trình độ, có chuyên môn nghề nghiệp, năng khiếu, sở trường, ý chí. khác nhau hợp thành. Lao động là một phạm trù vĩnh viễn, nó ra đời, tồn tại và phát triển cùng với cùng với sự xuất hiện, tồn tại và phát triển của con người.
Quá trình lao động của con người gồm các yếu tố cơ bản: - Đối tượng lao động. - Tư liệu lao động. - Lao động của con người. Lao động khi kết hợp với đối tượng của nó thì được vật chất hóa - tức là nó tồn tại sau quá trình lao động như là một thuộc tính trong sản phẩm.
Lao động là phương tiện dé sinh hoạt, là nguồn chân chính của những thu nhập đảm bảo cho sự tồn tại, phát triển của mỗi thành viên và toàn xã hội. Trong mọi hình thức kinh tế - xã hội, ở mọi trình độ của lực lượng sản xuất, lao động luôn là nhân tố quyết định, chính hình thái kinh tế xã hội lại chỉ phối tính chất cơ chế sử đụng lao động và việc làm. Cơ cấu lao đông: cơ cấu lao động là một tổng thể các bộ phận có quan hệ hữu cơ với nhau được phân định theo nghề nghiệp,trình độ văn hóa, kĩ thuật, độ tuổi, giới tính. hợp thành lực lượng lao động tiến hành tái sản xuất xã hội.
al Khi co cấu lao động được chuyển dich hợp lý — quá trình phổ biến là lao động công nghiệp và dịch vụ, lao động có trình độ văn hóa, tay nghề cao sẽ chiếm tỷ trọng ngày càng lớn và tăng nhanh hơn các bộ phận khác — sẽ có tác dụng to lớn trong việc nâng cao năng suất lao động, khai thác tận dụng các tư liệu sản xuất và hiệu quả tái sản xuất xã hội. Nguồn lao đông : là tất cá những người trong và ngoài độ tuổi lao động, có thể lao động được ở mỗi quốc gia, mỗi vùng hay mỗi địa phương. Số người trong độ tuổi lao động ở nước ta gồm: nam từ 15 — 60 tuổi, nữ từ 15 — 55 tuổi có khả năng lao động. Nguồn nhân lực: là tổng thé các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương, tức là nguồn lực được chuẩn bị kĩ (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những người lao động có kĩ năng, bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của chuyển đổi cơ cấu lao động, chuyển đổi co cấu kinh tế (Hạc, 2001) Thị trường lao đông: theo nghĩa rộng, là nơi mua bán sức lao động diễn ra giữa người lao động (cung lao động) và người sử dụng lao động (cầu lao động).
Còn theo nghĩa hẹp, đựợc hiểu là nơi diễn ra sự trao đổi theo nguyên tắc thỏa thuận về các quan hệ lao động (việc làm, tiền công, và các điều kiện làm việc khác), giữa người lao động và người sử dụng bằng hình thức hợp đồng lao động. Các yếu tố của thị trường lao động bao gồm cung lao động, cầu lao động, giá cả lao động và các thể chế về quan hệ lao động. (Dũng, 2005) Khái niêm việc làm: Theo bộ Luật Lao Động, khái niệm việc làm được xác định là: "mọi hoạt động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật ngăn cấm đều được thừa nhận là việc làm.” Người có việc làm: là người làm việc trong các lĩnh vực, ngành nghề đang họat động đem lại thu nhập hoặc góp phần tao ra thu nhập để nuôi sống bản than, gia đình đồng thời góp một phan cho xã hội và không bị pháp luật ngăn cắm. Trong nền kinh tế, việc làm luôn đi đôi với vấn đề hiệu qua sử dung tài nguyên con người, từ đó dẫn đến các khái niệm việc làm đầy đủ, việc làm hợp lý, tòan dụng nhân lực.
Việc làm đầy đủ: là trạng thái của nền kinh tế trong đó mọi cá nhân có nhu cầu và khả năng làm việc có thể tìm được việc. Theo văn phòng lao động thì đây là “trạng thái một người có khả năng lao động và đang tìm việc có nhiều cơ hội nhanh chóng tìm được một công việc mà hòan cảnh và tiêu chuẩn thông thường ở nước đó — đối với con mắt của mọi người có ly trí - công việc đó tỏ ra thích hợp. “ Việc làm hợp lý: là trang thái của nền kinh tế trong đó đã tồn tại việc làm đầy đủ và mọi cá nhân đều được làm việc đúng với khả năng, ngành nghề được đào tạo. Toàn dung nhân lực: là trạng thái đạt được khi có việc làm hợp lý, mọi thành phan của nguồn nhân lực đều được sử dung và sử dụng có hiệu quả.
Thiếu việc làm: đây là hiện tượng mà người lao động không làm hết thời gian cần thiết (quy định) hoặc đủ thời gian nhưng thu nhập thấp hơn mức tối thiểu và không đủ sống. Trong cả hai trường hợp người lao động mong muốn tìm kiếm việc làm thêm, trường hợp làm không đủ thời gian gọi là thiếu việc làm nhìn thấy (hữu hình), trường hợp việc làm có thu nhập không đủ sống, năng suất thấp, không phát huy được năng lực. gọi là thiếu việc làm không nhìn thấy (vô hình). Tóm lại: việc làm là những hoạt động có ích mà không bị pháp luật ngăn cấm, nhằm đem lại thu nhập cho gia đình va bản thân người lao động.
Khái niệm thất nghiệp: Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi một số người trong lực lượng lao động muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm ở mức tiền công đang thịnh hành. Người thất nghiệp: Theo các nhà thống kê của ILO thì người thất nghiệp là tất cả những người đã qua một hạn tuổi được ấn định và trong một ngày hay một tuần lễ nhất định được xếp vào một trong những trường hợp sau: - Người lao động đủ khả năng, điều kiện và có nhu cầu làm việc mà hợp đồng lao động đã chấm dứt hoặc tạm thời đình chí, hiện không có việc làm và đang tìm kiếm việc làm có lương. - Những người trước đây chưa từng làm việc hoặc đã ngưng làm việc bây giờ sẵn sàng làm việc và đang tìm việc làm có lương. - Những người không có việc làm sẵn sàng nhận việc ngay và đang khởi sự một công việc mới khác vào một thời gian nhất định.
Thất nghiệp cơ cấu: Khi có sự mắt cân đối về mặt cơ cấu giữa cung — cầu lao động giữa các vùng, ngành hoặc do sự thay đổi cơ cấu kinh tế. Vùng, ngành này cần nhiều lao động trong khi vùng, ngành khác thừa lao động không dễ chuyển đổi nghề nghiệp hoặc đi chuyển từ nơi này đến nơi khác để có việc làm. Thất nghiệp dai dang: Đây là mức thất nghiệp luôn có trong xã hội gồm những người đang đi tìm việc làm. Đôi khi người ta còn xếp cả người thất nghiệp do mắt sức, tàn tật và thất nghiệp thời vụ vào loại này.
Thất nghiệp chư kì: Khi tổng cung lao động lớn hơn cầu lao động thì xảy ra thất nghiệp chu kì. Nguyên nhân do dân số tăng nhanh hơn mức tăng trưởng kinh tế, do khủng hoảng kinh tế làm sản xuất giám, quán lý không hiệu quả hoặc nhiều nguyên nhân khác. Tóm lại: Khái niệm người thất nghiệp ở Việt Nam được hiểu là người trong tuổi lao động, có khả năng lao động, trong tuần lễ tham khảo không có việc làm, đang có nhu cầu tìm việc làm và có đăng ký tìm việc theo quy định. Sự phân chia người có việc làm và người thất nghiệp thực tế phức tạp hơn vì có những người đang làm việc nhưng không hết thời gian và vẫn muốn có việc làm thêm, có người không chính thức tham gia vào việc làm nào vẫn có sự đóng góp dưới nhiều hình thức.
Khái niêm đô thi hóa Đô thị: Mặc dù đô thị là một thực thể quá rõ ràng, song cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất. - Từ điển Labert, các tác giả: J. Deffortanes cho rằng: “đô thị là những tụ điểm dan cư mà ở đó dân cư dùng phần lớn thời gian của mình ở ngay trong lòng tụ điểm ấy. - Từ điển Larousse năm 1964 thì định nghĩa:” đô thị là các tụ điểm dân cư mà phan lớn dan cư thường làm thương nghiệp, công nghiệp hoặc hành chánh “.
- Năm 1984 cũng từ điểm này đã định nghĩa:” đô thị là các tụ điểm dân cư tương đối quang trọng mà những người ở đó có những hoạt động nghề nghiệp đa đạng đặc biệt là trong khu vực dịch vụ”. Tuy nhiên trên thực tế tạm thời có 3 tiêu thức được quy ước để quy định 1 tụ điểm dân cư có tính chất đô thị hay nông thôn: - Quy mô dân số. - Mật độ dân số. - Tính chất hoạt động lao động của tụ điểm ấy.