Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu Phật giáo Quảng Nam thế kỉ XVII – XIX do tác giả Lê Xuân Thông thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Bùi Thị Tân, bảo vệ năm 2018 tại Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế. Luận án thuộc chuyên ngành Lịch sử (chuyên ngành Lịch sử Việt Nam / Sử học).
Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vị trí của Phật giáo trong lịch sử văn hóa dân tộc và vùng đất xứ Quảng. Trải qua hai ngàn năm hiện diện tại Việt Nam, Phật giáo bám rễ sâu vào đời sống xã hội. Tại Quảng Nam, từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, sự xác lập quyền cai trị của các chúa Nguyễn và triều Nguyễn gắn liền với quá trình khai hoang, lập làng và thiết lập trật tự xã hội Đàng Trong. Tuy nhiên, trước khi đề tài này được thực hiện, các tài liệu viết về Phật giáo Quảng Nam phần lớn chỉ dừng lại ở mức độ bộ phận, đề cập tản mát ở từng khía cạnh đơn lẻ, hoặc khảo sát cuộc đời của một số nhân vật riêng biệt. Khoảng trống nghiên cứu thể hiện ở việc thiếu vắng một công trình khảo cứu cơ bản, toàn diện và có hệ thống về quá trình truyền nhập, vận động, diện mạo tông phái, hệ thống tự viện và vai trò xã hội của Phật giáo trên địa bàn này qua ba thế kỷ.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là xây dựng bức tranh tổng quan về quá trình truyền nhập, vận động biến đổi và phát triển của Phật giáo trên vùng đất Quảng Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX trong tính hệ thống và toàn diện.
Để thực hiện mục tiêu trên, tác giả xác định bốn nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể, được đánh số theo văn bản:
- Nghiên cứu quá trình truyền nhập, vận động biến đổi và phát triển của các thiền phái;
- Nghiên cứu vấn đề tổ chức, hoạt động Phật sự, nghi lễ và sinh hoạt của đội ngũ tăng ni;
- Nghiên cứu hệ thống chùa chiền với các nội dung về xây dựng, kiến trúc và thờ tự;
- Nghiên cứu đánh giá đặc điểm, vai trò của Phật giáo Quảng Nam từ thế kỉ XVII đến thế kỉ XIX.
Đối tượng nghiên cứu là Phật giáo Quảng Nam, với trọng tâm là sự thăng biến của các phái thiền, hoạt động hoằng dương Phật pháp, sinh hoạt sơn môn của tăng sĩ, và hệ thống chùa chiền. Trong khảo sát tự viện, luận án phân định rạch ròi giữa chùa chính thống (cơ sở của tăng ni) và chùa dân gian (thiết chế tín ngưỡng của dân chúng làng xã).
Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Địa bàn tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng hiện nay. Không gian này dựa trên sự thống nhất về mặt địa - sử - văn hóa của xứ Quảng trong lịch sử, từng nằm chung trong đơn vị hành chính dinh/trấn/tỉnh Quảng Nam trước khi thực dân Pháp biến Đà Nẵng thành nhượng địa vào năm 1888.
- Thời gian: Khung niên đại từ đầu thế kỷ XVII (lấy mốc chúa Nguyễn Hoàng cho xây dựng hai ngôi chùa Long Hưng vào khoảng năm 1602 và Bảo Châu vào khoảng năm 1607) đến cuối thế kỷ XIX (thời điểm chuẩn bị bước vào phong trào chấn hưng Phật giáo đầu thế kỷ XX).
- Chủ thể: Tập trung vào Phật giáo của cộng đồng người Việt, vốn là chủ thể cư dân chiếm tuyệt đại đa số trên vùng đất này.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Lịch sử nghiên cứu Phật giáo Quảng Nam được tác giả hệ thống hóa qua hai giai đoạn:
Giai đoạn trước năm 1975:
Tác phẩm sớm nhất có ý thức trình bày về Phật giáo xứ Quảng là tập Ngũ Hành Sơn lục bằng chữ Hán và Nôm do tú tài Hồ Thăng Doanh cùng thiền sư Ấn Lan Tổ Huệ Từ Trí và cộng sự hoàn thành năm 1916 (Khải Định thứ nhất), ghi chép khái lược về các thiền tăng, nghi lễ và thờ tự tại Ngũ Hành Sơn. Tiếp đó là các bài khảo cứu của học giả Pháp trên tập san Những người bạn cố đô Huế (B.A.V.H), gồm bài viết về Chùa Long Thủ ở Tourane (1920) của Henri Cosserat và chuyên khảo Núi đá hoa cương (Ngũ Hành Sơn) (1924) của Albert Sallet. Đến thập niên 1970, xuất hiện thêm tập sách Sử liệu danh tăng - Tự viện - Thắng cảnh Phật giáo Quảng Nam (1970) của Thích Chơn Phát và Lịch sử Ngũ Hành Sơn - chùa Non Nước (1972) của Thích Hương Sơn, song nội dung còn sơ lược và lẫn lộn chủ đề.
Giai đoạn từ năm 1975 đến đầu năm 2017:
Các bộ thông sử như Việt Nam Phật giáo sử luận (tập II, 1978) của Nguyễn Lang và Lịch sử Phật giáo Việt Nam (1988) của Viện Triết học đã khái quát Phật giáo Đàng Trong nhưng phần viết về Quảng Nam còn ngắn gọn. Năm 1993, Nguyễn Hiền Đức xuất bản cuốn Lịch sử Phật giáo Đàng Trong, dành hẳn chương VII viết về thiền sư Minh Hải Pháp Bảo và dòng Lâm Tế Chúc Thánh, song còn bộc lộ một số sai sót về tư liệu. Năm 1995, Trương Văn Bá thực hiện khóa luận tốt nghiệp Bước đầu tìm hiểu tình hình Phật giáo trên đất Quảng Nam thế kỷ XVII – XVIII.
Từ năm 2000, nghiên cứu nhân vật Phật giáo phát triển với công trình Toàn tập Minh Châu Hương Hải (2000) của Lê Mạnh Thát, cung cấp khảo cứu chi tiết về danh tăng này. Về phái Lâm Tế Chúc Thánh, có các nghiên cứu của Thích Hạnh Thiện (2001), Thích Giải Nghiêm (2005) và cuốn Lịch sử truyền thừa thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh (2009) của Thích Như Tịnh; bên cạnh đó là tập Hành trạng chư thiền đức xứ Quảng (2008) cùng các bài viết bổ chính tư liệu của tác giả này. Về địa bàn Đà Nẵng, có ấn phẩm của Nguyên Lam Chân Tuệ Định (2008) và Thích Đức Trí (2013), song phương pháp xử lý văn bản còn hạn chế. Ở góc độ văn khắc, Ngô Quốc Trưởng (Thích Đồng Dưỡng) công bố nhiều bài viết về bia chùa Phú Thuận, Minh Giác, Hội Phước, bia Thủy Sơn; Phạm Văn Tuấn khảo cứu bia chùa Thái Bình (2017); và Nguyễn Hoàng Thân nghiên cứu văn bia Hán Nôm tỉnh Quảng Nam qua luận án tiến sĩ (2014).
Khoảng trống luận án giải quyết:
Qua điểm luận tư liệu, luận án xác định và giải quyết năm khoảng trống học thuật:
- Xác định tình hình Phật giáo Quảng Nam nửa đầu thế kỷ XVII, vạch rõ mạch nguồn truyền thừa thiền Trúc Lâm Yên Tử từ đất Bắc vào Đàng Trong làm nền tảng trước khi các dòng thiền Trung Hoa du nhập;
- Khảo đính lại vai trò sơ tổ thiền Tào Động Đàng Trong của Quốc sư Hưng Liên Quả Hoằng, làm rõ niên đại đến Đàng Trong của các thiền sư Trung Hoa (Thạch Liêm, Hưng Liên, Minh Hải Pháp Bảo, Minh Lượng Thành Đẳng);
- Khảo sát cụ thể sinh hoạt sơn môn, quy chế độ điệp, pháp quyển và đời sống tăng sĩ thế kỷ XIX;
- Khảo cứu hệ thống hóa chùa chính thống và chùa dân gian về mặt lịch sử xây dựng, kết cấu kiến trúc khung gỗ và quy chuẩn thiết trí ban thờ;
- Tổng kết có hệ thống hệ đặc điểm và đánh giá vai trò lịch sử - xã hội của Phật giáo trên vùng đất xứ Quảng qua ba thế kỷ.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận sử học Mác-xít kết hợp các khái niệm của tôn giáo học và văn hóa học.
Quan niệm và khung phân tích về thiết chế tự viện:
Luận án tiếp cận ngôi chùa từ bản chất của một thiết chế tín ngưỡng - tôn giáo, lấy "đối tượng sử dụng trực tiếp" làm căn cứ phân loại:
- Chùa chính thống: Là cơ sở tôn giáo do giới tăng ni trực tiếp sử dụng, cư trú tu trì và hành đạo. Dạng chùa này thông thường do tăng ni khai sơn, là thiết chế mang tính quy chuẩn, phổ quát của tổ chức Phật giáo giáo hội.
- Chùa dân gian: Là thiết chế văn hóa - tín ngưỡng do dân làng xây dựng, sở hữu, quản lý và sử dụng trực tiếp; phản ánh tâm thức tín ngưỡng thế tục, dung hợp đa thần của cư dân làng xã nông nghiệp.
Phương pháp nghiên cứu thực tế:
- Phương pháp lịch sử và phương pháp logic: Đây là hai phương pháp nền tảng. Phương pháp lịch sử được dùng để phục dựng quá trình vận động khách quan của các thiền phái và tự viện; phương pháp logic được ưu tiên khi khái quát đặc điểm và đúc kết vai trò xã hội của Phật giáo.
- Phương pháp so sánh: Vận dụng so sánh lịch đại (diễn tiến qua các thế kỷ XVII, XVIII, XIX) và so sánh đồng đại (đối sánh đặc điểm Phật giáo xứ Quảng với Đàng Ngoài và các trung tâm khác ở Đàng Trong như Thuận Hóa, Quy Nhơn).
- Phương pháp mô hình hóa: Dùng để khôi phục và biểu đạt sơ đồ kết cấu kiến trúc bộ vì gỗ và quy thức bài trí ban thờ tại các tự viện tiêu biểu.
- Phương pháp định lượng: Thống kê số lượng làng xã, số tiền và hiện vật cúng dường, số lượng văn bia, diện tích ruộng đất tam bảo để làm cơ sở cho các nhận định lịch sử.
- Phương pháp khảo cổ học, nghệ thuật học và tôn giáo học: Giám định phong cách tượng thờ, văn hoa, bi ký, minh chuông và lý giải hiện tượng dung hợp tín ngưỡng.
- Phương pháp điền dã: Trực tiếp khảo sát thực địa trong các năm 2013, 2014 và 2015 tại các di tích, di vật, đối chiếu địa danh làng xã cổ truyền tại các huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng.
Nguồn tư liệu và dữ liệu:
Luận án khai thác năm nguồn tài liệu chủ yếu:
- Thư tịch cổ: Các bộ chính sử triều Nguyễn (Đại Nam thực lục, Đại Nam liệt truyện, Đại Nam nhất thống chí, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ); tài liệu Châu bản triều Nguyễn (qua tuyển tập do Lý Kim Hoa biên soạn và đối chiếu văn bản gốc tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I); tác phẩm Hải ngoại kỷ sự của Thích Đại Sán; các cổ thư Phật giáo như Hương Hải thiền sư ngữ lục, Ngũ Hành Sơn lục, bản kê khai hiện vật chùa Phước Lâm, bản thuật ký chùa Hội Phước, các văn bản độ điệp, pháp quyển, phái quy y, cùng địa bạ, hương ước và gia phả tộc Trang (Hải Châu, Đà Nẵng).
- Văn khắc cổ: Hơn 50 đơn vị văn bia Hán Nôm niên đại từ thời chúa Nguyễn đến triều Nguyễn tại các chùa, tháp xứ Quảng (kết hợp khai thác tại chỗ và qua bộ Tổng tập thác bản văn khắc Hán Nôm năm 2009); các bài minh khắc trên chuông đồng (minh chung) tại chùa Hải Tạng, Tây Linh, Phúc Hải, Thanh Khê, Từ Vân; văn khắc gỗ trên hoành phi, câu đối, xà cò.
- Nguồn tài liệu vật chất: Khảo sát trực tiếp các công trình kiến trúc chùa cổ, cổng tam quan và hệ thống tượng thờ cổ còn lưu giữ.
- Nguồn tài liệu sản phẩm nghiên cứu khoa học: Các công trình của Minh Chi, Hà Văn Tấn, Lê Mạnh Thát, Nguyễn Lang, Nguyễn Hiền Đức, Thích Như Tịnh.
- Nguồn tư liệu điền dã: Ghi chép khảo sát di tích, di vật và lời kể của nhân chứng bản địa tại các làng xã.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và nguồn tài liệu
Chương này tập trung phân tích tiến trình nghiên cứu Phật giáo Quảng Nam qua các thời kỳ và đánh giá giá trị các nguồn sử liệu. Về lịch sử nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng trước năm 1975, các công trình (Ngũ Hành Sơn lục, khảo cứu của Henri Cosserat, Albert Sallet, Thích Chơn Phát, Thích Hương Sơn) mới ghi chép khái lược hoặc miêu tả cảnh quan di tích. Giai đoạn sau năm 1975 đến đầu năm 2017, các nghiên cứu chuyên sâu về nhân vật và thiền phái bắt đầu hình thành (công trình của Lê Mạnh Thát về Minh Châu Hương Hải, các khảo cứu của Thích Như Tịnh về dòng Lâm Tế Chúc Thánh và danh tăng xứ Quảng), song việc nghiên cứu toàn diện cả hệ thống thiền phái, sơn môn và tự viện vẫn chưa được giải quyết thấu đáo.
| Nhóm nguồn tư liệu |
Các văn bản, hiện vật tiêu biểu được khai thác |
Giá trị sử liệu đối với luận án |
| Thư tịch chính sử và hồ sơ lưu trữ |
Đại Nam thực lục, Đại Nam liệt truyện, Đại Nam nhất thống chí, Châu bản triều Nguyễn (tuyển tập Lý Kim Hoa). |
Cung cấp thông tin chính thống về chính sách của triều đình đối với tôn giáo, việc sắc tứ, trùng tu chùa và phong chức sắc. |
| Thư tịch Phật giáo và tư nhân |
Hải ngoại kỷ sự (Thích Đại Sán), Hương Hải thiền sư ngữ lục, Ngũ Hành Sơn lục, các bản thuật ký tự viện. |
Ghi chép nội bộ sơn môn, hành trạng tu trì, các cuộc hoằng pháp và quá trình truyền nhập tông phái. |
| Văn bản quản lý thiền môn và làng xã |
Điệp thế độ, pháp quyển, phái quy y; địa bạ, hương ước, gia phả tộc Trang (Hải Châu). |
Xác định truyền thừa tông phái, phân biệt độ điệp triều đình ban và điệp thế độ nội bộ; ruộng đất tam bảo và sinh hoạt hôn nhân của tăng sĩ. |
| Văn khắc Hán Nôm (Bia đá, chuông đồng, gỗ) |
Hơn 50 văn bia (bia Phổ Đà 1640, bia chùa Linh Sơn 1643/1654, bia chùa Minh Giác 1672, bia chùa Bảo Khánh 1696); minh chung chùa Hải Tạng, Tây Linh; hoành phi, câu đối. |
Cung cấp niên đại chính xác, tên tuổi người cúng dường, hành trạng danh tăng, cơ cấu tổ chức và quá trình tôn tạo tự viện. |
| Di vật kiến trúc và điền dã |
Kết cấu khung gỗ chùa Hải Tạng, Phổ Khánh; tượng thờ; truyền thuyết dân gian, khảo sát thực địa làng xã (2013-2015). |
Là cứ liệu vật chất đối chứng quy chuẩn kiến trúc, bài trí điện thờ và dấu ấn văn hóa tôn giáo trong đời sống dân cư. |
Chương 2: Phật giáo Quảng Nam thế kỉ XVII – XVIII
Chương 2 trình bày bối cảnh lịch sử và diện mạo Phật giáo Quảng Nam qua hai thế kỷ XVII và XVIII:
Bối cảnh lịch sử:
Vùng đất Quảng Nam nhập vào cương thổ Đại Việt qua các dấu mốc: năm 1306 (vua Chăm Chế Mân dâng hai châu Ô, Lý làm sính lễ), năm 1402 (nhà Hồ chiếm Chiêm Động và Cổ Lũy), và chính thức ổn định sau cuộc chinh phạt của vua Lê Thánh Tông năm 1471 lập nên thừa tuyên Quảng Nam. Sang thế kỷ XVII, cuộc phân tranh Trịnh - Nguyễn thúc đẩy các chúa Nguyễn khai khẩn đất hoang. Sự kiện năm 1648, sau trận thắng quân Trịnh, chúa Nguyễn Phúc Lan quyết định an trí khoảng 3 vạn tù binh đối phương vào khai khẩn vùng Thăng Bình, Điện Bàn trở vào Nam, cấp nông cụ, trâu bò, lương ăn nửa năm, cứ 50 người lập thành một ấp. Nhờ đó, số lượng làng xã tăng vọt: nếu thời Dương Văn An soạn Ô châu cận lục (giữa thế kỷ XVI) vùng đất chỉ có 66 làng xã, thì đến nửa sau thế kỷ XVIII, theo Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn, hai phủ Điện Bàn và Thăng Hoa đã có 8 huyện với 779 xã, thôn, phường, châu, giáp. Trong bối cảnh Nho giáo Đàng Trong phát triển yếu ớt (chỉ tổ chức các kỳ thi tương đương thi hương, không có thi hội, thi đình; khoa cử kém chất lượng như khoa thi Nhiêu học năm 1723 đánh trượt toàn bộ 77 người ở vòng thi tứ lục tại Chính dinh) và Ki-tô giáo bị cấm đoán từ thời chúa Nguyễn Phúc Lan, các chúa Nguyễn đã chọn Phật giáo Đại thừa làm chỗ dựa tinh thần và hệ tư tưởng cố kết xã hội.
Mạch nguồn Phật giáo thiền Đại Việt và dấu ấn danh tăng:
Trước khi các dòng thiền Trung Hoa du nhập, truyền thống thiền Trúc Lâm Yên Tử đã bám rễ tại Quảng Nam. Văn bia chùa Phổ Đà khắc năm Canh Thìn (1640) tại Ngũ Hành Sơn do thiền sư Huệ Đạo Minh chủ trì cho thấy sự hiện diện của một đạo tràng Phật giáo hưng thịnh. Văn bia ghi lại danh sách 81 tín chủ cúng dường với tổng tài sản gồm 1.915 quan tiền đồng, 65 lạng bạc nén và 570 cân đồng (vào giữa thế kỷ XVII tại Đàng Trong, 100 quan tiền mua được 2 mẫu ruộng, và 6 quan tiền mua được 1 tạ gạo). Đáng chú ý, trong số 81 tín chủ, ngoài cư dân các làng xã thuộc Hòa Vang, Điện Bàn, Hội An, còn có 10 người Nhật Bản và 3 người Trung Hoa, chứng minh tính quốc tế và vai trò trung tâm văn hóa của Ngũ Hành Sơn gắn liền với thương cảng Hội An. Văn bia này khắc bài Nhất tâm quy mạng của Từ Vân Tuân Thức, cho thấy thiền sư Huệ Đạo Minh hành trì theo mạch nguồn Trúc Lâm kết hợp Tịnh Độ. Đồng thời, tư liệu văn bia còn ghi nhận hàng loạt thiền sư có pháp danh chữ "Huệ", "Tuệ" cùng thời hoặc kế tiếp: Tuệ Lâm Đức (Phạm Công Triều, bia chùa Linh Sơn 1643), Tuệ Minh Quan (Lại Văn An, bia chùa Linh Sơn 1654), Huệ Quang Minh (bia chùa Minh Giác 1672), Huệ Đạo Minh (Nguyễn Hữu Tài, bia chùa Bảo Khánh 1696).
Thiền sư Minh Châu Hương Hải (1628 - 1715):
Sinh năm 1628 tại Thăng Hoa, Quảng Nam; 18 tuổi đỗ hương tiến, làm tri phủ Triệu Phong; năm 25 tuổi (1652) xuất gia theo học thiền sư Lục Hồ Viên Cảnh và Đại Thâm Viên Khoan. Sư ra đảo Tiêm Bút La (Cù Lao Chàm) dựng am tu trì 8 năm, dùng pháp trì chú và quán tưởng lửa tam muội trừ tà, chữa khỏi bệnh cho phu nhân quan trấn thủ Thuần Quận công (50 người quy y) và thái giám Hoa Lễ Hầu (hơn 70 người quy y). Sau đó, sư được chúa Nguyễn Phúc Tần triệu về lập Thiền Tịnh viện ở núi Quy Kính. Bị nghi kỵ liên lạc với hàng binh Đàng Ngoài, năm 1682, Hương Hải dẫn hơn 50 đệ tử vượt biển ra Bắc, tu trì tại Sơn Tây, Sơn Nam suốt 18 năm, trước tác và chú giải 20 tác phẩm kinh luận (hiện tìm lại được 4 bản: Giải Kim cương kinh lí nghĩa, Giải Di Đà kinh, Giải Tâm kinh ngũ chỉ, Soạn Sự lí dung thông). Dù về phả hệ thuộc đời 32 dòng thiền Lâm Tế Trí Bản Đột Không, phương pháp tu hành của Hương Hải tích hợp Thiền - Tịnh - Mật thuần túy theo bản sắc thiền Trúc Lâm Đại Việt.
Các thiền phái truyền nhập từ Trung Hoa và dòng thiền nội sinh:
- Thiền phái Tào Động: Luận án chứng minh Quốc sư Hưng Liên Quả Hoằng chính là người đầu tiên truyền phái Tào Động vào Đàng Trong và trụ trì chùa Tam Thai tại Ngũ Hành Sơn trước năm 1694. Hưng Liên đã gửi thư riêng cùng thư của chúa Nguyễn Phúc Chu sang Trung Hoa mời thầy mình là hòa thượng Thạch Liêm sang Đàng Trong vào đầu năm 1695. Thạch Liêm chỉ lưu lại hơn một năm, ghé thăm đạo tràng Tam Thai của Hưng Liên vào ngày 29 tháng 6 năm Ất Hợi (1695), và cùng Hưng Liên tổ chức đại giới đàn tại chùa Thiền Lâm (Phú Xuân) cho hơn 3.000 giới tử và giới đàn tại chùa Di Đà (Hội An).
- Thiền phái Lâm Tế và dòng thiền nội sinh Lâm Tế Chúc Thánh: Cuối thế kỷ XVII, các thiền sư Trung Hoa như Minh Lượng Thành Đẳng, Đương Cơ Chân Dĩnh, Minh Hải Pháp Bảo sang hoằng hóa. Tại chùa Chúc Thánh (Hội An), thiền sư Minh Hải Pháp Bảo đã biệt xuất bài kệ lập phái mới: "Minh thiệt pháp toàn chương/ Vinh hiển duyên lý trợ/ Thông thái chấn gia phong/ Định huệ hòa chân như/...". Dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh này phát triển nội sinh từ Hội An, chiếm vị trí chủ đạo tại xứ Quảng và lan tỏa khắp các tỉnh Nam Trung Bộ và Nam Bộ.
- Chùa dân gian thế kỷ XVII - XVIII: Hình thành song hành cùng làng xã mới lập, do dân làng đóng góp xây dựng, thờ Phật phối hợp với các vị thần bảo hộ bản thổ.
Chương 3: Phật giáo Quảng Nam thế kỉ XIX
Chương 3 khảo sát diện mạo Phật giáo Quảng Nam dưới triều Nguyễn:
Bối cảnh chính trị - xã hội và chính sách của triều Nguyễn:
Bước sang thế kỷ XIX, nhà Nguyễn thiết lập sự quản lý chặt chẽ đối với các tổ chức tôn giáo thông qua việc ban hành các quy định trong Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ. Nhà nước phong kiến xếp đặt quy chế "quan tự" (chùa công lập của triều đình) cho hai ngôi chùa lớn tại Ngũ Hành Sơn là chùa Tam Thai và chùa Linh Ứng; trực tiếp cấp kinh phí trùng tu, ban cấp pháp bảo, tượng thờ và quản lý chặt chẽ việc xuất gia.
Sinh hoạt sơn môn, nghi lễ và đời sống tăng sĩ:
Tổ chức sơn môn tại Quảng Nam thế kỷ XIX vận hành chặt chẽ theo hai hệ thống văn bản: quy định nội bộ của tông môn (cấp điệp thế độ để xác nhận tư cách đệ tử nhập môn và pháp quyển/chánh pháp nhãn tạng để truyền thừa tâm ấn) và sự thừa nhận của chính quyền phong kiến (triều đình chuẩn y cấp độ điệp kèm giới đao thông qua Bộ Lễ). Bên cạnh đó, tư liệu gia phả tộc Trang (Hải Châu, Đà Nẵng) cho thấy một hiện tượng đặc thù của sinh hoạt tôn giáo địa phương: nhiều thế hệ tăng ni vẫn kết hôn, sinh con và duy trì đời sống tu trì trong các tự viện gia tộc.
Các danh tăng tiêu biểu thế kỷ XIX:
Luận án phục dựng hành trạng và đóng góp của bốn danh tăng xứ Quảng:
- Thiền sư Tiên Thường Viên Trừng (1777 - 1853): Có công lớn trong việc hoằng hóa và củng cố tổ chức sơn môn;
- Thiền sư Toàn Nhâm Vi Ý Quán Thông (1798 - 1883): Trụ trì chùa Tam Thai, có ảnh hưởng sâu rộng trong giới Phật giáo cung đình và dân gian;
- Thiền sư Ấn Bổn Tổ Nguyên Vĩnh Gia (1840 - 1918): Đóng góp vào việc đào tạo tăng tài và duy trì giới luật;
- Thiền sư Ấn Lan Tổ Huệ Từ Trí (1852 - 1921): Bậc danh tăng trụ trì chùa Tam Thai và Linh Ứng, người đồng biên soạn tập sách Ngũ Hành Sơn lục (1916).
Hệ thống chùa chiền thế kỷ XIX:
- Phân định tự viện: Hệ thống chùa chiền định hình rõ nét hai dòng: Chùa chính thống (các tổ đình Chúc Thánh, Phước Lâm, và các quan tự Tam Thai, Linh Ứng) là nơi tu học truyền thừa nghiêm ngặt của tăng sĩ; và Chùa dân gian (như chùa Hải Tạng trên Cù Lao Chàm, chùa Phổ Khánh, chùa Tây Linh) thuộc sở hữu và quản lý của hội đồng kỳ mục, dân làng.
- Kiến trúc khung gỗ: Sử dụng phổ biến hai kết cấu vì gỗ truyền thống: kết cấu vì chồng rường (thể hiện rõ ở bản vẽ đo đạc chùa Hải Tạng, tỷ lệ 1/100) và kết cấu vì kèo (thể hiện ở bản vẽ chùa Phổ Khánh, tỷ lệ 1/100).
- Quy chuẩn thiết trí thờ tự: Không gian nội tự có sự phân định ngôi thứ chặt chẽ theo mô hình vũ trụ luận Phật giáo Đại thừa. Luận án tái hiện ba sơ đồ bài trí điển hình:
- Sơ đồ thiết trí chính điện chùa Phước Lâm (thế kỷ XIX): Trung tâm thượng điện thờ Tam Thế Phật, tầng dưới thờ Di Đà Tam Tôn, Thích Ca thành đạo, tả hữu bài trí Bồ Tát Quán Thế Âm, Đại Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền; tiền đường đặt tượng Hộ Pháp và Tiêu Diện Đại Sĩ;
- Sơ đồ thiết trí chính điện chùa Tam Thai (đầu thế kỷ XX);
- Sơ đồ thiết trí chính điện chùa Linh Ứng (đầu thế kỷ XX).
Chương 4: Đặc điểm, vai trò Phật giáo Quảng Nam thế kỉ XVII - XIX
Chương này khái quát các nét đặc thù và lượng hóa các đóng góp lịch sử của Phật giáo Quảng Nam:
Đặc điểm Phật giáo Quảng Nam thế kỷ XVII – XIX:
- Tính cởi mở, bình dân và gần gũi: Phật giáo hòa nhập vào nếp sống mộc mạc của cư dân nông nghiệp, ngư nghiệp và thương nhân; gắn liền với đời sống thường nhật chứ không đóng khung trong chốn tu viện khổ hạnh.
- Sự tồn tại và hòa quyện nhiều thiền phái, nhiều yếu tố tư tưởng: Trên cùng một địa bàn, có sự dung hợp giữa truyền thống thiền Trúc Lâm Đại Việt với các phái thiền Lâm Tế, Tào Động từ Trung Hoa; kết hợp nhuần nhuyễn giữa Thiền tông, Tịnh Độ tông (thực hành niệm Phật) và Mật tông (trì chú, lập đàn sám hối).
- Dung hợp tôn giáo và văn hóa: Có sự phối thờ sâu sắc giữa Phật giáo với tín ngưỡng dân gian bản địa (thờ Thiên Y A Na, Thành hoàng, Tiền hiền, Hậu hiền) và tinh thần Tam giáo đồng nguyên (Phật - Nho - Đạo).
- Vừa mang tính phổ quát vừa mang tính địa phương: Một mặt mang đầy đủ thuộc tính của dòng chảy Phật giáo dân tộc Việt Nam, mặt khác mang bản sắc độc lập tương đối của vùng đất mở Đàng Trong, là cái nôi sản sinh và lan tỏa dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh.
Vai trò của Phật giáo Quảng Nam thế kỷ XVII – XIX:
- Góp phần ổn định nhân tâm, tạo nền tảng tinh thần: Thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng, tâm linh cho các thế hệ lưu dân trong quá trình di cư, khẩn hoang đối mặt với thiên tai, dịch bệnh nơi vùng đất mới;
- Góp phần xây dựng xã hội nhân văn, hướng thiện và hướng thượng: Giáo hóa luân lý đạo đức Phật giáo, khuyến thiện trừ ác, duy trì kỷ cương và nếp sống hài hòa trong cộng đồng làng xã;
- Góp phần cố kết cộng đồng và làm giàu văn hóa xứ Quảng: Chùa làng trở thành trung tâm sinh hoạt công cộng, gắn kết các dòng họ; để lại khối di sản vật chất phong phú gồm các công trình kiến trúc gỗ, chuông đồng, văn bia Hán Nôm và nghệ thuật điêu khắc tượng gỗ, tượng đá.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận và khoa học:
- Luận án xác lập tiêu chí phân loại tự viện dựa trên "đối tượng sử dụng trực tiếp", phân định ranh giới chức năng và tính chất giữa "chùa chính thống" của giới tăng ni và "chùa dân gian" của cộng đồng làng xã.
- Làm rõ tính chất tiếp nối của truyền thống thiền Trúc Lâm Yên Tử tại Quảng Nam vào nửa đầu thế kỷ XVII (tiêu biểu qua thiền sư Huệ Đạo Minh và Minh Châu Hương Hải), khẳng định dù khoác áo truyền thừa Lâm Tế nhưng nội dung tu trì thực tế mang bản sắc thiền Đại Việt.
- Bổ chính nhận thức học thuật về lịch sử truyền nhập thiền phái Tào Động vào Đàng Trong: khẳng định Quốc sư Hưng Liên Quả Hoằng là sơ tổ truyền phái Tào Động tại vùng đất này, chứ không phải Thạch Liêm như một số công trình trước đây nhận định.
Đóng góp về mặt thực tiễn và sử liệu:
- Khai thác, khảo đính và phiên dịch hệ thống hơn 50 văn bia Hán Nôm, các bài minh chuông đồng, Châu bản triều Nguyễn, điệp thế độ, pháp quyển và tư liệu gia phả dòng họ. Đính chính nhiều sai sót về niên đại, nhân vật và thế thứ truyền thừa dòng Lâm Tế Chúc Thánh trong các công trình xuất bản trước đó.
- Cung cấp cơ sở khoa học đáng tin cậy cho các cơ quan quản lý văn hóa và chính quyền địa phương tại tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng trong việc quy hoạch, trùng tu, bảo tồn các di tích chùa cổ, phát huy giá trị văn hóa Phật giáo truyền thống.
Các kiến nghị và giải pháp đề xuất:
- Cần có kế hoạch khảo sát, lập hồ sơ bảo tồn khẩn cấp hệ thống văn bia Hán Nôm tại các tự viện cổ ở Quảng Nam và Ngũ Hành Sơn trước nguy cơ hư hại do thời tiết;
- Tôn trọng và bảo tồn các giá trị kiến trúc khung gỗ cổ truyền (vì chồng rường, vì kèo) và trật tự thờ tự truyền thống khi các tự viện dân gian tiến hành tu bổ, tránh tình trạng phá bỏ kiến trúc cũ hoặc bài trí sai lệch nguyên tắc phối thờ cổ truyền.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Do điều kiện khí hậu miền Trung khắc nghiệt và sự tàn phá nặng nề của các cuộc chiến tranh, hầu hết các công trình kiến trúc chùa chiền giai đoạn thế kỷ XVII - XVIII không còn giữ được dấu tích nguyên gốc, khiến việc khảo sát dấu ấn vật chất giai đoạn này gặp nhiều hạn chế.
- Nguồn tư liệu văn tự cổ về Phật giáo trước thế kỷ XVII trên đất Quảng Nam còn rất mờ nhạt, khiến mốc giới hạn trên của đề tài buộc phải bắt đầu tạm thời từ đầu thế kỷ XVII khi có sự kiện xây dựng chùa Long Hưng và Bảo Châu.
- Việc xác định niên đại của hệ thống tượng thờ cổ phần lớn phải dựa vào phương pháp so sánh phong cách tạo tác mỹ thuật do thiếu văn khắc ghi năm tạo tác.
- Luận án chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu ở cộng đồng người Việt, chưa có điều kiện khảo sát sâu sắc mối giao lưu văn hóa tôn giáo với các cộng đồng người Hoa và người Chăm bản địa.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Tiếp tục sưu tầm và xử lý các bản dập văn bia, gia phả, tư liệu Hán Nôm tản mát trong các tư gia và tự viện hẻo lánh;
- Mở rộng nghiên cứu so sánh mối liên kết sơn môn giữa Phật giáo Quảng Nam với các trung tâm lân cận ở miền Trung như Thuận Hóa, Quảng Ngãi, Bình Định và sự lan tỏa của dòng Chúc Thánh tại Nam Bộ.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với nhiều đối tượng:
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Tôn giáo học, Văn hóa học: Cung cấp phương pháp tiếp cận tư liệu văn khắc kết hợp điền dã thực địa, khung lý thuyết phân loại chùa chính thống - chùa dân gian, và nguồn sử liệu Hán Nôm đã được giám định khoa học về xứ Đàng Trong.
- Đối với các nhà nghiên cứu lịch sử địa phương và Phật học: Đem lại nguồn dữ liệu chuẩn xác về tiểu sử danh tăng, sự phân bố tông phái và văn bản truyền thừa dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
- Đối với cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo, ban trị sự Phật giáo và ngành văn hóa - du lịch tại Quảng Nam và Đà Nẵng: Là căn cứ thẩm định lịch sử phục vụ công tác xếp hạng di tích, xây dựng hồ sơ di sản văn hóa, định hướng bảo tồn di sản Hán Nôm và phát triển du lịch tâm linh tại danh thắng Ngũ Hành Sơn, Hội An.
Câu hỏi thường gặp
1. Căn cứ nào để khẳng định Quốc sư Hưng Liên Quả Hoằng là sơ tổ truyền phái Tào Động vào Đàng Trong chứ không phải Hòa thượng Thạch Liêm?
Căn cứ vào cuốn Hải ngoại kỷ sự do chính Thạch Liêm biên soạn, vào cuối năm 1694, Hưng Liên đã có mặt tại Đàng Trong, được chúa Nguyễn phong làm Quốc sư và gửi thư riêng kèm thư của chúa Nguyễn Phúc Chu sang Trung Hoa mời Thạch Liêm. Đầu năm 1695 Thạch Liêm mới sang Đại Việt theo lời mời với tư cách thiền tăng khách mời, chỉ lưu lại hơn một năm rồi trở về nước. Hưng Liên trụ trì chùa Tam Thai lâu dài và tham gia tổ chức các giới đàn, do đó Hưng Liên là người đầu tiên đưa Tào Động vào Đàng Trong.
2. Luận án phân loại hệ thống chùa cổ ở xứ Quảng dựa trên tiêu chí nào và gồm những loại hình nào?
Luận án lấy "đối tượng sử dụng trực tiếp" làm căn cứ phân loại, chia thành hai loại:
- Chùa chính thống: do giới tăng ni trực tiếp sử dụng, cư trú tu trì và hành đạo, mang tính quy chuẩn phổ quát của Phật giáo;
- Chùa dân gian: do cộng đồng dân làng xây dựng, sở hữu, quản lý và sử dụng trực tiếp nhằm phục vụ nhu cầu tín ngưỡng thế tục của làng xã.
3. Vì sao thiền sư Minh Châu Hương Hải thuộc phả hệ tông Lâm Tế nhưng tư tưởng hành trì lại mang bản sắc Trúc Lâm Yên Tử?
Về mặt hình thức, Hương Hải mang pháp tự thuộc thế hệ thứ 32 dòng Lâm Tế Trí Bản Đột Không theo bài kệ truyền thừa. Tuy nhiên, nội dung hành đạo của sư trong 8 năm tại Cù Lao Chàm (trì chú, quán tưởng lửa tam muội trừ tà, lập đàn tràng giải oan sám hối, chữa bệnh), việc lập Thiền Tịnh viện và 20 bộ sách giải nghĩa kinh điển cho thấy sự kết hợp chặt chẽ giữa ba yếu tố Thiền - Tịnh - Mật, vốn là đặc trưng của truyền thống thiền học Trúc Lâm Đại Việt.
4. Dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh ra đời trong hoàn cảnh nào và có bài kệ truyền thừa ra sao?
Dòng thiền này do sơ tổ Minh Hải Pháp Bảo (người Trung Hoa) sáng lập vào giữa thế kỷ XVIII tại chùa Chúc Thánh (Hội An). Sư đã biệt xuất một bài kệ truyền phái riêng biệt bắt đầu bằng câu "Minh thiệt pháp toàn chương...". Dòng thiền phát triển thành một dòng thiền nội sinh độc lập, chiếm ưu thế tuyệt đối tại Quảng Nam và lan rộng khắp vùng Nam Trung Bộ cùng Nam Bộ.
5. Văn bia chùa Phổ Đà (1640) cung cấp những cứ liệu gì về Phật giáo và xã hội Quảng Nam thế kỷ XVII?
Văn bia do thiền sư Huệ Đạo Minh dựng, ghi nhận 81 tín chủ cúng dường tổng cộng 1.915 quan tiền đồng, 65 lạng bạc nén và 570 cân đồng để trùng tu tự viện và mua ruộng tam bảo. Danh sách tín chủ không chỉ gồm cư dân bản địa tại Hòa Vang, Điện Bàn, Hội An mà còn có 10 thương nhân/cư dân Nhật Bản và 3 người Trung Hoa, chứng minh Ngũ Hành Sơn là một trung tâm Phật giáo mang tính quốc tế cao gắn liền với hoạt động của thương cảng Hội An.
Kết luận
Luận án tiến sĩ Phật giáo Quảng Nam thế kỉ XVII – XIX của Lê Xuân Thông là một công trình khảo cứu chuyên khảo có hệ thống về lịch sử Phật giáo xứ Quảng qua ba thế kỷ biến động. Bằng việc khai thác khối tư liệu văn khắc Hán Nôm và khảo sát điền dã thực địa, tác giả đã phục dựng diện mạo truyền thừa của các dòng thiền Trúc Lâm, Tào Động, Lâm Tế và sự hình thành dòng nội sinh Lâm Tế Chúc Thánh. Công trình làm sáng rõ sự gắn kết giữa Phật giáo với tiến trình mở đất, lập làng và thiết lập đời sống tinh thần của cư dân Đàng Trong, đồng thời cung cấp luận cứ khoa học xác đáng cho công tác bảo tồn di sản văn hóa tại địa phương.