CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN TÀI LIỆU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Từ trước đến nay, ở những mức độ và phạm vi khác nhau, đã có một số cuốn sách, chuyên luận, tiểu luận đề cập trực tiếp hoặc có liên quan đến đề tài chúng tôi đang nghiên cứu. Có thể điểm qua lịch sử nghiên cứu như sau: 1.
Giai đoạn trước 1975 Tài liệu sớm nhất có ý thức trình bày về Phật giáo Quảng Nam là tập Ngũ Hành Sơn lục bằng chữ Hán (có xen một số bài thơ Nôm) do tú tài Hồ Thăng Doanh – một nho sĩ địa phương cùng thiền sư Ấn Lan Tổ Huệ Từ Trí - một danh tăng của Phật giáo Quảng Nam sống vào nửa sau thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX - và một số người khác, hoàn thành năm Khải Định thứ nhất (1916) [125]. Trong tài liệu, ngoài việc giới thiệu về cụm núi đá Ngũ Hành cùng thơ ca, bi kí được khắc trên vách động, các tác giả đã có những thông tin khái lược về Phật giáo tại danh thắng kì thú này, trong đó, dành một phần đáng kể để viết về các thiền tăng tu chứng, sinh hoạt nghi lễ và thờ tự tại đây trong thế kỉ XIX đến những năm đầu thế kỉ XX. Ở một chừng mực nhất định, có thể coi đây là tài liệu có giá trị đáp ứng được một phần nhu cầu hiểu biết của người đời sau về Phật giáo Quảng Nam. Tuy nhiên, do phạm vi trình bày hẹp, những ghi chép về hành trạng các thiền sư chỉ dừng lại ở mức giản yếu, nên vẫn còn nhiều hạn chế cần khắc phục, bổ sung.
Tiếp theo là những bài báo, tiểu luận của người Pháp công bố trên Những người bạn cố đô Huế (B.H), như Chùa Long Thủ ở Tourane, năm 1920, của Henri Cosserat [16], Núi đá hoa cương (Ngũ Hành Sơn), năm 1924, của Albert Sallet [69]. Dựa vào nội dung tấm văn bia chùa Thủ Long và những tương truyền dân gian, lần đầu tiên, H.Cosserat đã chuyển đến bạn đọc những nét chấm phá về lai lịch một ngôi chùa dân gian ở Đà Nẵng có niên đại nửa sau thế kỉ XVII. Bài báo trên đã để lại cho chúng ta một tài liệu tham khảo tốt, khi mà theo quy luật khắc nghiệt của thời gian “Trăm năm bia đá cũng mòn”, tấm bia chùa Thủ Long giờ như một tảng đá trơ trọi với những dấu khắc đã nhạt nhòa; và những tương truyền dân 8 gian cũng đã tan biến theo những lớp người xưa cũ.Sallet, như tiêu đề của tiểu luận, hẳn ông không có ý nghiên cứu về Phật giáo. Tuy vậy, với lối trình bày linh hoạt, uyển chuyển, rải rác trong suốt hơn 150 trang sách viết về Ngũ Hành Sơn gồm rất nhiều mảng nội dung khác nhau, chúng ta vẫn tìm gặp nhiều thông tin về Phật giáo và liên quan đến Phật giáo tại đây.
Công bằng mà nói, những cung cấp của A.Sallet phần nhiều đã được đề cập trong các bộ sách của triều Nguyễn và đặc biệt, là trong Ngũ Hành Sơn lục mà đôi chỗ ông chưa tham khảo hết, thậm chí chưa khảo chính một cách chuẩn xác. Song, cũng phải ghi nhận, ông đã để lại cho chúng ta không ít thông tin có ý nghĩa, như những ghi chép về các sư tăng của một số hải quân Pháp, khi họ đến Ngũ Hành Sơn nửa đầu thế kỉ XIX, được ông trích dẫn; những miêu tả về nghi lễ, tín ngưỡng, diện mạo chùa chiền và hoạt động Phật sự tại Ngũ Hành Sơn đầu thế kỉ XX, do chính ông mắt thấy tai nghe. Tất cả giúp hiểu thêm một số vấn đề về Phật giáo Quảng Nam từ trung tâm Ngũ Hành Sơn. Bẵng đi một thời gian dài gần 50 năm sau, mới có thêm được công trình của Thích Chơn Phát và sau đó, là của Thích Hương Sơn.
Thích Chơn Phát với Sử liệu danh tăng - Tự viện - Thắng cảnh Phật giáo Quảng Nam năm 1970 [60]. Đúng như tên gọi của nó, tác giả đã trình bày về các vị thiền sư, các ngôi chùa, kiến trúc Phật giáo trên địa bàn tỉnh Quảng Nam (không bao gồm thành phố Đà Nẵng hiện nay), nhưng chỉ dừng lại ở mức độ rất vắn tắt. Hai năm sau, năm 1972, một nhà sư khác là thượng tọa Thích Hương Sơn, trụ trì chùa Linh Ứng (Ngũ Hành Sơn) viết Lịch sử Ngũ Hành Sơn - chùa Non Nước [72]. Tập sách này với phần nội dung dày 74 trang, trình bày chủ đề lẫn lộn, trong đó đã dành khoảng hơn 60 trang để nói về danh thắng Ngũ Hành Sơn và những bài thơ cảm tác, còn lại chỉ nêu lên mấy nét chấm phá về các ngôi chùa Tam Thai, Linh Ứng và phổ hệ truyền thừa ở hai “quan tự” này, trong đó có một số chi tiết thiếu sự nhất quán.
Giai đoạn từ 1975 đến đầu 2017 Trước hết, có thể kể đến những công trình Phật giáo sử có phạm vi nghiên cứu rộng lớn như Việt Nam Phật giáo sử luận (tập II) (1978) của Nguyễn Lang [48]2, Lịch sử Phật giáo Việt Nam (1988) của Viện Triết học [106]. Ở đó, Phật giáo Quảng Nam trước thế kỉ XX chỉ được điểm xuyết và gói gọn trong mấy trang sách. Năm 1993, 2 Đây là cuốn sách gồm 3 tập, các tập đã từng được công bố ở các thời điểm khác nhau. Tập 2 được tác giả hoàn thành và xuất bản tại Pháp năm 1978.
9 Nguyễn Hiền Đức cho ra mắt cuốn Lịch sử Phật giáo Đàng Trong [32] nghiên cứu Phật giáo của vùng đất tương ứng với xứ Đàng Trong thời chúa Nguyễn, tức từ Trung Trung Bộ đến Tây Nam Bộ. Về phạm vi thời gian, người viết giới hạn khung nghiên cứu là (1558 - 1802) song thực chất bắt đầu từ nửa đầu thế kỉ XVII và, lại kéo dài – thậm chí – cho đến cuối thế kỉ XX. Trong 13 chương với hơn 800 trang của 2 tập sách3, tác giả dành hẳn một chương (chương VII) gần 60 trang (từ tr.63, tập 2) để trình bày về vị sơ tổ Minh Hải Pháp Bảo cùng sự truyền thừa, tự viện của dòng Lâm Tế Chúc Thánh, chủ yếu ở Quảng Nam và một phần ở các địa phương lân cận như Quảng Ngãi, Phú Yên. Lúc bấy giờ, có thể coi Nguyễn Hiền Đức là người dành sự quan tâm nhiều hơn cả đối với dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh, dù rằng, nó vẫn còn để lại nhiều khoảng trống, mặt khác, đi vào chi tiết nghiên cứu của ông đã gây nên những băn khoăn nhất định và hơn thế nữa, là những sai sót, điều mà sau này sẽ được chỉ ra.
Ngoài nội dung ở chương VII, ở chỗ khác, những gương mặt thiền tăng tiêu biểu của Phật giáo đất Quảng như Minh Châu Hương Hải, Hưng Liên Quả Hoằng cũng được tác giả trình bày, nhưng không vượt qua được nhận thức hiện thời. Năm 1995, Trương Văn Bá thực hiện đề tài Bước đầu tìm hiểu tình hình Phật giáo trên đất Quảng Nam thế kỷ XVII – XVIII làm luận văn tốt nghiệp ngành lịch sử tại Đại học Tổng hợp Huế [6]. Luận văn đã nêu được quá trình cùng đặc điểm của Phật giáo trên vùng đất này qua hai thế kỉ. Tuy nhiên, do khuôn khổ, yêu cầu của một luận văn cử nhân, kết quả nghiên cứu của Trương Văn Bá chưa được sâu sắc và đầy đủ; tư liệu sử dụng còn rất hạn chế.
Từ năm 2000 trở lại đây là giai đoạn mà Phật giáo Quảng Nam được nhiều người quan tâm, số lượng công trình và cùng với đó là phạm vi, khía cạnh nghiên cứu cũng trở nên phong phú và mở rộng. Đó là nhóm các công trình lấy chư tăng ni làm đối tượng nghiên cứu. Một kiểu nghiên cứu nhân vật Phật giáo. Trước tiên là Toàn tập Minh Châu Hương Hải của Lê Mạnh Thát (2000) [76].
Minh Châu Hương Hải là bậc danh tăng của Phật giáo Đại Việt giai đoạn nửa sau thế kỉ XVII – nửa đầu thế kỉ XVIII. Vì vậy, cuộc đời và hành trạng của ông đã không ít lần được giới Phật học trong nước tìm hiểu, luận bàn. Song, có vẻ như phải đến lúc tập đại thành này của Lê Mạnh Thát ra mắt, thì công cuộc nghiên cứu về Hương Hải mới thực sự toàn diện, sâu sắc. Đặc biệt, 3 Sách gồm 2 tập in gộp.
10 với thao tác văn bản học đầy công phu, khoa học cùng vốn Phật học quảng bác, và thêm nữa, là người có cá tính khoa học mạnh, tác giả đã đưa ra những biện giải, đánh giá rất mới lạ về Hương Hải, gây nên sự ngỡ ngàng nhưng cũng đầy thú vị cho người tiếp nhận. Nghiên cứu về Minh Châu Hương Hải, theo chúng tôi, đây là công trình có tính đột phá và đạt đến sự mẫu mực – ít nhất là ở góc độ khảo cứu4. Tiếp sau là cuốn Hành trạng chư thiền đức xứ Quảng của Thích Như Tịnh (2008) [89]. Công trình này cho thấy sự nỗ lực rất lớn của tác giả trong việc tìm kiếm nguồn tư liệu để từ đó dựng nên chân dung đa diện và sinh động về chư tăng ni đất Quảng, từ thế kỉ XVII đến thế kỉ XX.
Gần đây nhất, một bài viết khác của ông là Danh tăng núi Ngũ Hành (2017) [93] trình bày tóm tắt cuộc đời và hành trạng các thiền tăng tiêu biểu ở Ngũ Hành Sơn, từ thế kỉ XVII đến đầu thế kỉ XXI. Lâm Tế Chúc Thánh là dòng thiền nội sinh trên đất Quảng Nam. Với những mức độ khác nhau, có đến ba công trình bàn về vị sơ tổ Minh Hải Pháp Bảo và dòng thiền do ông sáng lập. Đó là những luận văn tốt nghiệp cử nhân Phật học của Thích Hạnh Thiện năm 2001 [82], Thích Giải Nghiêm năm 2005 [56].
Ở luận văn của Thích Hạnh Thiện, sau khi phác dựng chân dung vị thiền sư khai truyền tông phái đã dành phần lớn nội dung trình bày về chùa Chúc Thánh (Hội An) – ngôi tổ đình của Lâm Tế Chúc Thánh, từ quá khứ đến hiện tại. Còn luận văn của Thích Giải Nghiêm thì tập trung trình bày quá trình ra đời, phát triển chi phái Lâm Tế Chúc Thánh trên vùng đất Quảng Nam. Nhưng công trình có giá trị nhất là cuốn sách Lịch sử truyền thừa thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh (2009) của Thích Như Tịnh [90]. Trên cơ sở kế thừa luận văn đã có5 và thu thập thêm nhiều tài liệu đáng tin cậy khác, tác giả trình bày chi tiết và có hệ thống quá trình ra đời, phát triển của chi phái thiền Lâm Tế Chúc Thánh không chỉ ở đất Quảng mà cả vùng Nam Trung Bộ, Nam Bộ và ngoại quốc, từ khi khai lập đến hiện tại.