phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được trình bày trong 2 chương 4 tiết. 7 Chƣơng 1 KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH TRUYỀN BÁ, PHÁT TRIỂN, NHỮNG ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA PHẬT GIÁO Ở TỈNH NINH BÌNH 1. PHẬT GIÁO Ở NINH BÌNH – LỊCH SỬ TRUYỀN BÁ VÀ PHÁT TRIỂN 1. Cơ sở xã hội và tiền đề lý luận cho sự du nhập Phật giáo ở Ninh Bình Điều kiện tự nhiên, Ninh Bình là tỉnh nằm ở phía Nam đồng bằng Bắc Bộ, có diện tích trên 1.390 km2 với dân số trên 90,7 nghìn dân, có đầy đủ các dạng địa hình đồi núi, đồng bằng và vùng ven biển.
Tư liệu khảo cổ học cho thấy nơi đây là địa bàn cư trú của người tiền sử từ sớm đến muộn một cách liên tục, từ cư dân văn hóa Sơn Vi đến cư dân văn hóa Hòa Bình, văn hóa Đa Bút và văn hóa Đông Sơn. Thời kỳ Bắc thuộc cũng để lại dấu ấn khá đậm nét, qua các ngôi mộ cổ xây dựng bằng gạch múi bưởi, theo dạng cuốn vòm dài hàng chục mét xuất hiện ở vùng đồi thuộc thị xã Tam Điệp, huyện Nho Quan, huyện Gia Viễn, huyện Hoa Lư … Sang thời kỳ độc lập tự chủ của dân tộc Việt, sau một ngàn năm chống Hán hóa, vùng đất Ninh Bình đã nhiều lần thay đổi địa danh như trong cuốn sách Đồng Khánh dư địa chí có ghi: “Tỉnh Ninh Bình thời thuộc Hán thuộc quận Giao Chỉ, thuộc Ngô về sau thuộc Giao Châu, thuộc Lương là châu Trường Yên. Thời Đinh - Tiền Lê phần ngoài của kinh đô Hoa Lư vẫn gọi là châu Trường Yên. Năm 1010 Lý Thái Tổ đổi là phủ Trường Yên.
Nhưng đến cuối thời lý lúc đó gọi là châu Đại Hoàng Giang. Đầu đời Trần đổi là lộTrường Yên, sau đó đổi là trấn. Đời Trần Thuận Tông, năm Quang Thắng 10 (1397) đổi trấn Trường Yên làm 8 trấn Thiên Quan … đến năm thứ 12 (01831) đời vua Minh Mệnh đổi làm tỉnh Ninh Bình…” Dân trong tỉnh chủ yếu là đồng bào dân tộc Kinh và dân tộc Mường (dân tộc Kinh chiếm 96 , dân tộc Mường gần 2 ), sống quần cư trong và quanh vùng tứ giác nước được tạo bởi sông Đáy, sông Hoàng Long, sông Vân, sông Bến Đang. Có ba tôn giáo chính là Công giáo, Phật giáo và Tin lành.
Đồng bào lương – giáo sống đan xen, hòa đồng trong các khu dân cư, qua nhiều thế hệ đã xây dựng được truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái, giúp đỡ nhau xây dựng cuộc sống cộng đồng. Trải qua hàng triệu năm vận động, kiến tạo của địa chất, tự nhiên cùng với những thăng trầm của lịch sử, vùng đất Ninh Bình đã trở thành vùng địa linh nhân kiệt. Về kinh tế và văn hóa, các vị vua thời Đinh - Tiền Lê khi lên ngôi hoàng đế đều cố gắng thực thi quyền sở hữu ruộng đất nhà nước, vừa để khẳng định quyền lực vừa để nắm lấy thần dân, thu tô thuế, bắt lính. Nhà nước đã có những khu đất tịch điền ở Đọi Sơn (Hà Nam) và Bàn Hải do triều đình trực tiếp quản lý để phục vụ tế lễ.
Hàng năm vào mùa xuân nhà vua đích thân làm lễ tịch điền, đi vài đường cày để noi gương. Các vua Đinh - Tiền Lê cũng phong cấp đất đai cho các hoàng tử, quý tử và quan lại. Đinh Tiên Hoàng đã phong đất cho Trần Lãm thực ấp ở Sơn Nam (Nam Định), sau lại cấp trang Lạc Đạo (Ninh Bình), phong đất cho hào trưởng Lê Lương làm thái ấp thuộc các huyện Đông Sơn, Thiệu Hóa và Quảng Xương (Thanh Hóa). Lê Hoàn đã cử các hoàng tử đi trấn trị tại các địa phương, phong đất cho họ để được hưởng quyền thu thuế.
Lê Long Đĩnh đã phong cho Điện tiền chỉ huy sứ Lý Công Uẩn thực ấp ở Đằng Châu (Hưng Yên). Nhà nước bước đầu thi hành chính sách trọng nông, khuyến khích sản xuất như đào vét các sông kênh ở vùng Thanh - Nghệ. 9 Triều đình chú ý phát triển một số ngành nghề thủ công nghiệp để phục vụ các vua quan và quân đội, nhất là ở kinh đô Hoa Lư. Các vua Đinh- Tiền Lê khi lên ngôi, đều cho thợ đúc tiền đồng như Thái Bình Thông Bảo (Đinh) và Thiên Phúc Thông Bảo (Tiền Lê).
Nhiều thợ thủ công đã được tập trung ở Hoa Lư như thợ nề, thợ đá, mộc, ngọc, chạm khắc, dát vàng bạc để xây dựng kinh đô trong đó có nhiều cung điện lớn lợp ngói bạc, cột dát vàng bạc. Trong dân gian, các nghề truyền thống như dệt vải lụa, làm giấy tiếp tục phát triển. Tiền tệ cũng thúc đẩy việc trao đổi buôn bán hàng hóa trong các chợ làng quê và một số trụ sở ở Hoa Lư, Tống Bình, Long Biên. Việc trao đổi buôn bán vật phẩm được thực hiện với Trung Quốc và các thuyền buôn nước ngoài.
Những năm qua, hòa cùng với sự đi lên của đất nước, tỉnh Ninh Bình đang khởi sắc từng ngày: kinh tế liên tục tăng trưởng, xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển sản xuất nông nghiệp, sản xuất vật liệu xây dựng, dịch vụ du lịch có bước phát triển vượt bậc, nông nghiệp tiếp tục phát triển vững chắc; thu ngân sách tăng nhanh; công tác giảm ngh o, đảm bảo an sinh xã hội đạt kết quả tốt, hệ thống chính trị ngày càng được củng cố vững mạnh; văn hóa – xã hội có nhiều tiến bộ, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, quốc phòng địa phương được tăng cường. Trong những thành tích chung ấy, có sự đóng góp tích cực, hiệu quả của các chức sắc, các tăng ni, phật tử trong toàn tỉnh. Về mặt chính trị, kế tiếp triều Ngô, nhà nước Đại Cồ Việt thời Đinh - Tiền Lê về cơ bản là một nhà nước võ trị. Các vua (Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành) đều xuất thân từ các tướng lĩnh, là tổng chỉ huy tối cao quân đội, nắm giữ mọi quyền hành.
Hệ thống quan lại phần lớn là các quan võ. Thời Lê Hoàn có các chức như: Địa tổng quản, Thái úy, Điện tiền chỉ huy sứ…Quân đội nhà nước Đại Cồ Việt là một quân đội đông và mạnh “…Theo sử cũ, 10 quân đội thời Đinh có tới 1 triệu người, chia thành 10 đạo, bên dưới có các loại quân như: lữ, tốt, ngũ. Quân sĩ đều đội mũ da. Coi giữ kinh thành là lực lượng cấm quân và quân tứ sướng.
Thời Lê Hoàn có tới 3.000 cấm quân, trán khắc chữ “thiên tử quân”, đội mũ đâu mâu. Vũ khí có cung nỏ, mộc bài, giáo mác. Lực lượng thuyền chiến mạnh đã đánh thắng quân Tống và Chămpa. Các vua Đinh- Tiền Lê đều dùng quân đội trấn áp các vụ phản loạn trong nước”[20, 85].
Dưới chế độ võ trị, luật pháp thời Đinh - Tiền Lê còn nghiêm khắc và tùy tiện, dựa theo ý muốn của nhà vua. Đinh Bộ Lĩnh đặt vạc dầu và cũi hổ ở sân triều đình để trừng phạt phạm nhân. Lê Hoàn hay xử phạt, đánh roi những ai làm phật ý mình. Lê Long Đĩnh lấy việc giết người làm trò vui.
Trên lý thuyết, để khẳng định uy thế, các vua Đinh - Tiền Lê đã xây dựng bộ máy triều đình của mình theo mô hình nhà Tống, “Đinh Tiên Hoàng và Lê Hoàn đền lập cho mình 5 hoàng hậu, đặt ngôi thái tử, cử các hoàng tử đi trấn trị các địa phương. Đất nước thời Đinh chia thành 10 đạo, Lê Hoàn đổi thành lộ”[20, 86]. Trên thực tế bộ máy triều đình và quan lại còn rất sơ sài, “khi gặp sứ Tống, Lê Hoàn còn đi chân đất, cầm xiên lội nước xiên cá, vào triều lại chơi trò đọ tay với quần thần”[20, 86]. Đó chưa phải là một nhà nước quy củ theo chế độ phong kiến.
Cùng với việc xây dựng một chính quyền nhà nước có chủ quyền, ở Đại Cồ Việt nửa sau thế kỷ X cũng đã manh nha những mầm mống của một nền văn hóa mang tính dân tộc. Cùng với vệc củng cố nhà nước và chính quyền, ở Ninh Bình dưới thời Đinh - Tiền Lê, do nhận thức được vai trò to lớn của tôn giáo đối với mọi mặt đời sống xã hội nên các triều đại đã có nhiều chính sách về lĩnh vực nhạy cảm này, như thăng chức Tăng thống cho Khuông Việt đại sư, cởi mở đối với các tăng sĩ bằng cách cho phép họ đi khắp nơi đến Đại Việt để hành đạo chẳng hạn như Ma Ha người gốc Chiêm Thành, Sùng Phạm người gốc 11 Trung Quốc đã dành cả cuộc đời đến Đại Việt để hành đạo. Đồng thời nhà vua còn trọng dụng các nhân tài của Thiền phái Vô Ngôn Thông (Ngô Chân Lưu, Đa Bảo…) lẫn thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi (Đ Pháp Thuận, Ma Ha, Thiền ng) mà không hề có sự phân biệt đối xử. Đặc biệt ở thời kỳ Đinh - Tiền Lê có những người không xuất gia nhưng chuyên làm việc Phật sự như Bối Đà.
Cùng với chính sách cởi mở đối với các tăng sĩ triều đình nhà Tiền Lê còn tổ chức đoàn sứ bộ sang nhà Tống xin kinh Đại Tạng. Đây là bộ sách vô cùng đồ sộ, bao gồm tất cả kinh, luật, luận của Phật giáo, có giá trị rất lớn trong lịch sử Phật giáo Trung Quốc. Đại việt sử toàn thư viết: “Đinh mùi năm thứ 14 (1007), mùa xuân, sai em là Minh Xưởng và Chưởng thư ký là Hoàng Thanh Nhã dâng tê ngưu trắng cho nhà Tống và xin Kinh Đại Tạng” [22, 81]. Với việc thỉnh kinh này, Lê Ngọa Triều mặc dù bị người đương thời và người đời sau nguyền rủa vì việc làm róc mía trên đầu sư những rất đáng được ghi nhận trong chính sách phát triển Phật giáo.
Mặc dù chính sách phát triển tôn giáo ở Ninh Bình thời Đinh – Tiền Lê chưa nhiều, xong chúng ta cũng thấy phần nào có sự cởi mở trong tôn giáo của các triều đại này. Đặc biệt, với sự kiện phong phẩm cho các tăng đạo cùng một loạt với các quan văn võ của triều đình, chúng ta thấy được Đinh Tiên Hoàng đã xếp tăng đạo có vị trí ngang hàng với các quan chức cấp cao của triều đình. Sự kiện này đã đặt cầu nối cho chính sách sử dụng nhân tài trong giới tăng sĩ và đạo sĩ. Các vị cao tăng được triều đình giao nhiệm vụ tiếp đón sứ giả nước Tống như Pháp Thuận, ngoài ra ông còn được nhà vua mời vào để hỏi vận nước dài ngắn thế nào.
Sách Thiền uyển tập anh viết: “Vua Lê Đại Hành ba lần thỉnh về triều để hỏi han vận nước”[83, 183].