Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về cây chè 1.1 Sơ lược về cây chè Cây chè, Camellia sinensis (L) O. Kuntze hay Thea sinensis L, thuộc ngành thực vat hat kin Angiospermea, lớp song tử diép Dicotyledonae, bộ Theales, họ Theaceae, chi Camellia (Thea), loài C. Sinensis, có nguồn gốc ở vùng cao nguyên âm va ẩm, thuộc ngã ba biên giới phân chia An Độ, Trung Quốc và Myanmer (Võ Thái Dân, 2009). Từ Trung quốc, cùng với sự giao thương của người xưa, cây chè được phát triển ra khắp thế giới.
Cây chè được tìm thấy ở vùng gần đường giao thương giữa Trung Quốc và Ấn độ. Ngày nay cây chè (Camellia sinensis) đã được trồng ở nhiều nơi có điều kiện tự nhiên khác xa vùng nguyên sản, từ vùng khí hậu Địa Trung Hải đến vùng Nhiệt đới nóng âm (từ 27° vĩ nam, vùng chè Argentina - 42° vĩ bắc, vùng chè Georgia; ở độ cao từ 0 — 2200m so với mực nước biển) (Carr, 1972).2 Phân loại cây chè Hiện nay, trong các cách phân loại, cách phân loại cây chè của Cohen Stuart (1919), chia cây chè ra làm 4 thứ (varietas), được nhiều người chấp nhận (Trang Van Phương, 1959). - Chè Trung Quốc lá nhỏ (C. - Chè Trung Quốc lá to (C.3 Sơ lược về giống chè Kim Tuyên Chè Kim Tuyên có nguồn gốc từ Đài Loan và được tạo ra bằng phương pháp lai hữu tính giữa trà Ô Long và giống cây trà Taiburi và là giống chủ yếu để sản xuất chè lên men.
Chè Kim Tuyên là cây dạng thân bụi, khả năng phân cành thấp, góc độ phân cành rộng. Lá có hình trứng có từ 6 - 8 đôi gân lá, lá trưởng thành màu xanh đậm, răng cưa nông tương đối đều. Búp có màu xanh phot tim, mật độ lông tơ nhiều. Điều kiện khí hậu, đất đai của Việt Nam rất thích hợp cho việc trồng chè và chè Kim Tuyên được trồng nhiều ở Thái Nguyên 1.2 Tổng quan về phân bón lá 1.1 Vai trò của phân bón lá Phân bón lá là hỗn hợp các chất dinh dưỡng gồm đa lượng (đạm, lân, kali), các trung vi lượng như (Mn, Bo, Fe, Zn, Cu, Ca, Mg va một s6 chat khac), cac chat kich thích sinh trưởng cây, các enzyme, các loại acid amin, rong biển hay amino acid dùng dé phun vào lá để tăng năng suất và chất lượng cho cây.
Phan bón lá được sử dụng ở dạng hoà tan trong nước. Phân bón lá giúp tăng cường điều hòa sinh trưởng, tăng khả năng hấp thụ chất dinh dưỡng kích thích đâm chồi, đẻ nhánh, ra hoa, đậu trái. Tuy nhiên phân bón lá chỉ cung cấp tinh chất một lượng nhỏ khi cần thiết cho mỗi giai đoạn của cây và chưa thé thay thế hoàn toàn được phân bón gốc.2 Một số nghiên cứu liên quan đến phân bón lá trên cây chè Theo Raguraij và ctv (2016), sử dụng phân bón lá vi lượng cho năng suất chè có xu hướng tăng khi so với chỉ bón phân trên mặt đất. Khi bón kết hợp Zn và Mn cho năng suất cao hơn đáng ké là 3575 kg trên hecta trên năm, năng suất tăng 22% so với đối chứng.
So với khuyến nghị của TRI, năng suất tăng 12,5% khi phun Zn và Mn. Phun qua lá có chứa Zn+Mn+B cho thấy năng suất tăng đáng kể bên cạnh Zn+Mn. Vì vậy, điêu đó chi ra răng việc cung cap các vi chat dinh dưỡng dưới dạng công thức bón lá cùng với phân bón gốc là có lợi để duy trì năng suất với mức tăng năng suất đáng kể. Kẽm (Zn) là vi lượng thiết yếu ảnh hưởng đến sinh trưởng và năng suất của cây chè.
Nghiên cứu của Upadhyaya và ctv (2013) nhằm mục đích tìm hiểu vai trò của Zn trong việc điều chỉnh sự tăng trưởng và thiệt hại do hạn han gây ra và các thiệt hai sinh hóa ở cây chè. Kết quả của cuộc điều tra hiện tại đã chứng minh rằng sự giảm hàm lượng nước tương đối, khối lượng khô của lá và các chất chống oxy hóa như ascorbate va glutathione do hạn han gây ra trong các dòng chè thử nghiệm (TV-1, TV-17 và TV-29 ) được giảm thiểu bằng cách xử lý kẽm sunphat (ZnSO¿) trước khi g1ữ nước trong 7 ngày. Tang hàm lượng phenolic khi giảm hydro peroxide (H2O2) va peroxid hóa lipid và các hoạt động khác nhau của các enzyme như superoxide dismutase (SOD), catalase (CAT), peroxidase (POX), polyphenol peroxidase (PPO), glutathione reductase (GR) va ascorbate peroxidase (APX) đồng thời tăng hap thu Zn trong lá đề xuất Zn điều chỉnh thiệt hai sinh hóa qua trung gian han hán ở cây chè. Theo Sedaghathoor và ctv (2009) cho rằng để nâng cao chất lượng và năng suất chè Iran, thí nghiệm nay đã được thực hiện và nghiên cứu ảnh hưởng của các loại phân đạm (N), kali (K), magie (Mg) và vi lượng (Zn và Cu) đến năng suất và chất lượng ché.
Thử nghiệm được tiến hành bằng cách sử dụng thiết kế lô chính lô phụ với phân đạm va kali được bố trí lô chính, Mg và vi lượng được bố trí ở các lô phụ. Việc áp dụng vi lượng, đặc biệt là xử lý magie sunfattkẽm sunfat cho thay ảnh hưởng đáng kề (p<0,01) đến năng suất. Việc áp dụng vi lượng cho thấy ảnh hưởng đáng kế đến tỷ lệ phan trăm của P, Zn và Cu. Sự kết hợp của vi lwong+N+K có ảnh hưởng đáng kể đến tỷ lệ caffeine (p<0,01).
Theo Njogu và ctv (2014) một cuộc thử nghiệm phân bón đã được thực hiện tai ba địa điểm thuộc các vùng trồng chè lớn, với 36 ô trên mỗi địa điểm để xác định ảnh hưởng của việc bón phân qua lá đến chất lượng chè, với ba công thức phân lần lượt là FF1 (NPK 24:24:18 + Nguyên tố vi lượng 0,9 MgO, 0,1625 Fe, 0,16 Cu, 0,08 Zn, 0,0325 B, 0,0012 Mo và 0,08 Mn), FF2 (NPK 20:5:5 + S + MgO + Nguyên tố vi lượng) va SF (NPK 25:5:5). Hai loại phân bón lá đã được thử nghiệm; phân bón lá 1 (FF1) và phân bón lá 2 (FF2), với đối chứng phân bón đất (SF) va không bón phân. Hai mẫu lá và một mẫu búp chè được thu thập hai tuần một lần sau mỗi lần bón phân 3 qua lá. Sau đó chúng được phân tích về chất lượng chè (polyphenol tổng số (TP)).
Người ta kết luận rằng phân bón lá làm tăng hàm lượng TP trong các mẫu chè được thử nghiệm. Nhìn chung, phân bón qua lá đã làm tăng chất lượng của các mẫu chè được thử nghiệm Theo Mashingaidze và ctv (2014), một thí nghiệm đã được tiến hành, đề đánh giá tác động của phân bón lá có chứa đồng, magie và kẽm đến năng suất và chất lượng chè (giéng Benjani). Thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên theo kiểu khối hoàn chỉnh với 3 lần lặp lại. Các nghiệm thức là: không bón phân qua lá (đối chứng), 1% đồng sunphat, 1,25 kg oxit kẽm, 1,25kg oxit magie và sự kết hợp của 1,25 kg oxit magie +1,25 kg oxit kẽm và 1% oxit đồng.
Ứng dụng oxit kẽm mang lại năng suất búp chè cao nhất, cao hơn 70% so với phân bón qua lá có chứa đồng sunfat (loại phân có khối lượng búp chè thấp nhất). Tuy nhiên oxit magie không có ảnh hưởng đáng ké đến năng suất chè. Oxit kẽm cũng mang lại mật độ búp chè cao nhất là 25,75 búp/m°, cao hơn 27% so với đồng sunphat có mật độ búp thấp nhất. Có thể kết luận rằng việc bón 1% đồng sunphat chỉ là lý tưởng khi nhằm mục đích nâng cao chất lượng chè nhưng lại làm giảm năng suất chè.
Người nông dân nên sử dụng oxit kẽm làm phân bón lá dé cải thiện cả năng suât và chât lượng chè. Theo Biswas (2016), một thí nghiệm đã được tiễn hành tại trang trại BTRI trong thời gian 2011 đến 2014 dé quan sát ảnh hưởng của việc bón kẽm qua lá đến năng suất chè cũng như dé ước tính liều lượng thích hợp của kẽm. Kẽm được bón dưới dạng kẽm sunphat với các tỷ lệ khác nhau (0, 2, 4, 6 và 8 kg/ha). Kẽm sunfat được bón ba lần trong một năm.
Năng suất cao nhất (1484 kg chè/ha) được ghi nhận ở nghiệm thức khi bón 6 kg/ha kẽm sunphat. Năng suất tăng 9,88% so với đối chứng.3 Phân bón lá Verno Phân bón lá Verno là sản phẩm của công ty Hợp Trí, được làm từ các muối dinh dưỡng tự nhiên được lựa chọn can thận và ít hoà tan, các thành phần được phối trộn với các chất phân tán và tạo thành các hạt nhỏ hơn giúp phân bố và bám dính tốt trên bề mặt thực vật. Phân bón lá Verno là dạng hạt phân tán trong nước và có độ đậm đặc cao. Thành phân của Verno là sự kêt hợp khác nhau của các nông độ đông và kẽm.3 Tổng quan về chất điều hoà sinh trưởng 1.1 Vai trò chất điều hoà sinh trưởng Các chất điều hoà sinh trưởng đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của cây trồng.
Chúng được sử dụng để kích thích sự sinh trưởng, phát triển và phân hóa cơ quan, cung cấp sức sống tốt cho mô và tế bào cây trồng. Các chất điều hoà sinh trưởng phổ biến bao gồm Gibberellin, auxin, IBA, Kinetin. Chúng được sử dụng dé định hình sự phát triển của cây như kích thích ra rễ của cây, kích thích ra chồi của cây và một sô công dụng khác.2 Nghiên cứu liên quan đến chất điều hoà sinh trưởng Theo Wei Li va ctv (2021), đã xử lý búp chè bằng ca GA và chất ức chế sinh tổng hợp gibberellin (UZ) để xác định tác động của gibberellin đối với sự sinh trưởng và phát triển của búp chè. Vào thời điểm 7 ngày sau khi xử lý, lá đầu tiên phát triển vượt trội khi xử ly GA3.
Vào thời điểm 14 ngày, các búp được xử lý bằng GA; đã phát triển thành một tôm và hai lá, trong khi cây chè ở nhóm Mock và UZ vẫn còn một tôm và một lá hoặc một tôm và hai lá trong giai đoạn phát triển ban đầu. Vào thời điểm 21 ngày, các chồi được xử lý bằng GA; đã phát triển thành một tôm và ba lá, trong khi búp của hai cây chè được xử lý khác vẫn ở giai đoạn một tôm và hai lá. Chiều dài của chéi chè được xử lý bang GA; cao hon đáng kê so với Mock ở 7, 14 và 21 ngày. Đồng thời, sau khi xử lý UZ, cho thấy rang các chồi ngắn hơn đáng kể so với Mock.
Kết qua cho thay GA; thúc đây quá trình nảy mam và phát triển chồi và do đó có tác dụng nhất định trong việc nâng cao năng suât chè.