Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Cây chè nguyên là một cây rừng mọc trong điều kiện ẩm ướt, râm mát của vùng khí hậu cận nhiệt đới gió mùa Đông Nam Á. Về nhu cầu ánh sáng, cây chè là một cây trung tính, trong giai đoạn cây con, cây chè ưa bóng râm, lớn lên ưa ánh sáng. Cường độ ánh sáng có quan hệ chặt chẽ với sự sinh trưởng và phát triển của cây chè, nó ảnh hưởng lớn đến việc hình thành lên chất lượng nguyên liệu để góp phần tạo lên sản phẩm chè chất lượng cao.
Hiện nay do diễn biến bất thường của thời tiết, có những thời điểm nhiệt độ thường xuyên lên đến 38-400C, nắng nóng kéo dài nhiều ngày đã ảnh hưởng không nhỏ đến sinh trưởng, phát triển của cây trồng Khi nhiệt độ từ 300C trở lên, cây chè mọc chậm và trên 400C cây chè sẽ bị khô xám nắng ở bộ phận non. Bên cạnh đó, do chè là cây ưa ánh sáng tán xạ, không chịu ánh nắng trực tiếp nên nắng nóng, nhiệt độ cao sẽ khiến chè khó phát triển. Vì vậy để giảm bớt tác hại do thời tiết ở các nương chè nên trồng các loại cây che bóng, thường lựa chọn các loại cây có độ che phủ rộng, lá nhỏ như muồng lá kim, xoan vừa tạo độ râm mát đồng thời vẫn đảm bảo ánh sáng cho cây chè sinh trưởng. Trồng cây che bóng có nhiều tác dụng: vừa tạo vùng tiểu khí hậu cho vùng chè, điều hòa được chế độ nước và không khí trong vùng chè, làm giảm sự bốc thoát hơi nước trong vườn chè, đặc biệt nếu chọn những cây trồng họ đậu còn tạo điều kiện thuận lợi cho một số vi sinh vật hữu ích trong đất hoạt động.
Nếu trồng với mật độ hợp lý sẽ hạn chế được sự phát triển của một số sâu bệnh hại trên cây chè như rầy xanh, bọ cánh tơ, nhện đỏ, bọ xít muỗi…. Ngoài ra, trồng cây che bóng còn có tác dụng chống rửa trôi xói mòn và cải tạo lý hóa tính của đất. e 4 Dưới bóng râm, lá chè có màu xanh đậm, lóng chè dài, búp non lâu, hàm lượng nước cao nhưng búp thưa, sản lương thấp vì quang hợp kém vì vậy ở những vùng trồng chè của Liên Xô cũ, Nhật Bản và Trung Quốc không trồng cây bóng mát. Trái lại ở Ấn Độ, Srilanka và Đông Phi đều trồng cây che bóng cho chè ở những vùng thấp nắng nóng.
Ở Việt Nam ở các vùng chè cũng tiến hành trồng cây bóng mát cho chè nhằm tạo ánh sáng tán xạ giúp cho cây chè sinh trưởng phát triển tốt hơn. Việc trồng cây che bóng cho chè mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt nhưng vẫn còn nhiều vấn đề cần tính đến như tranh chấp chất dinh dưỡng và nước với cây chè, vấn đề bất tiện khi thu hoạch bằng máy, hoặc lá cây che bóng rụng xuống sẽ lẫn với chè. Vì vậy vấn đề trồng cây che bóng cho nương chè vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết Che sáng là một biện pháp làm giảm cường độ ánh sáng cho nương chè bằng hình thức dùng lưới để giúp cho cây chè sinh trưởng tốt. Tạo điều kiện tốt hơn cho việc tích lũy các hợp chất hóa học có lợi cho quá trình chế biến để tạo ra sản phẩm chè chất lượng cao.
Cường độ ánh sáng trên nương chè khi che nắng phụ thuộc vào độ cao che nắng và mức độ che khác nhau (che dày hay mỏng). Thời gian chè nắng dài hay ngắn cho nương chè sẽ tạo khả năng quang hợp tốt hơn, tạo năng suất và chất lượng sản phẩm tốt sẽ là vấn đề cần giải quyết khi nghiên cứu về che bớt ánh sáng cho nương chè. Đặc điểm sinh vật học và sinh hóa của cây chè 1. Đặc điểm sinh vật học của cây chè Nghiên cứu về đặc điển sinh vật học của các giống chè ở Việt Nam cũng đã được nhiều nhà khoa học quan tâm: Theo Nguyễn Ngọc Kính (1979) [10] trong điều kiện tự nhiên cây chè có từ 3 -5 đợt sinh trưởng trong một năm gọi là sinh trưởng tự nhiên.
Trong điều kiện có chăm sóc và thu hái búp liên tục, một năm cây chè sẽ có từ 6-7 đợt sinh trưởng gọi là đợt sinh trưởng trong điều kiện có đốn hái. Thời gian hình thành một đợt sinh trưởng dài hay ngắn phụ thuộc vào giống, tuổi cây, đất đai, khí hậu và điều kiện canh tác. Yêu cầu sinh thái của cây chè * Điều kiện đất đai, địa hình - Độ chua: Là chỉ tiêu quan trọng quyết định đến đời sống cây chè. Các nhà khoa học Trung Quốc cho rằng: độ pH < 3,5 cây chè có màu xanh sẫm, chết dần trong điều kiện pH > 7,5 cây chè ít lá, lá vàng, chết.
Các nhà khoa học cũng xác định rằng giới hạn pH của đất trồng chè là 4,5 và giới hạn trên là 6,5. - Tầng dày, kết cấu đất thành phần cơ giới và chế độ nước: Cây chè sinh trưởng tốt ở tầng dày ≥ 1 m, giới hạn cuối cùng về đất trồng chè là 0,5 m. Về thành phần cơ giới chè ưa các loại đất từ cát pha đến thịt nặng. Cây chè sinh trưởng tốt trên đất có kết viên, tơi xốp.
Trên các loại đất này bộ rễ chè phát triển tốt, hệ sinh vật hoạt động mạnh, cây chè có tuổi thọ cao. Chè là cây cần nước, tuy nhiên không có khả năng chịu úng, chỉ nên trồng chè ở những nơi có mực nước ngầm ở dưới độ sâu 1 m. - Độ cao so với mực nước biển của đất trồng chè có ảnh hưởng tới phẩm chất chè; chè trồng trên núi cao thường có chất lượng tốt. * Các yếu tố khí hậu đối với sự sinh trưởng của cây chè - Lượng mưa và độ ẩm không khí.
Hàm lượng nước trong rễ chè là 48 - 54,5%, trong thân cành là 48 - 75%, trong lá là 74 - 76%. Lượng mưa trung bình hàng năm thích hợp cho sinh trưởng cây chè là 1500 - 2000 mm. Số ngày mưa có ảnh hưởng lớn đến việc hái chè cũng như chế biến chè: Khó làm héo, tốn nhiên liệu và công sấy chè. Độ ẩm tương đối của không khí thích hợp là 80 - 85%.
Ẩm độ cần thiết cho cây chè là 70 - 90%. Lượng mưa phân bố đều, xen kẽ ngày mưa, ngày nắng rất phù hợp cho cây chè sinh trưởng, phát triển. Lượng mưa tập trung phân bố không đều ảnh hưởng xấu tới sinh trưởng của cây chè, gây xói mòn đất trồng chè. Ẩm độ không khí thấp, chè cằn cỗi, búp chè chóng già, tỷ lệ mù xòe cao, sức chống chịu sâu bệnh giảm.
e 6 Các loại chè núi cao có chất lượng tốt vì độ ẩm cao và ánh sáng tán xạ và biên độ nhiệt ngày đêm lớn. - Nhiệt độ: Nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng cây chè là 22 - 280C. Theo các nhà khoa học Trung Quốc, Liên Xô thì cây chè ngừng sinh trưởng ở 100C, từ 15 - 180C cây chè sinh trưởng chậm, từ 220C đến 250C cây chè sinh trưởng mạnh, trên 300C cây chè sinh trưởng chậm lại, ở nhiệt độ 400C các bộ phận non của chè bị cháy. Biên độ nhiệt ngày - đêm rộng có lợi cho chất lượng chè.
Biên độ nhiệt độ các mùa thấp thì thời gian thu hoạch búp chè càng dài. - Ánh sáng: Ở giai đoạn cây con, cây chè ưa bóng râm. Cây chè trưởng thành ưa ánh sáng. Yêu cầu của cây chè với ánh sáng có sự khác nhau giữa các tuổi chè, giống chè.
Chè con cần ánh sáng ít hơn chè lớn, các giống chè lá to cần ít ánh sáng hơn các giống chè lá nhỏ. Dưới bóng râm cây chè lóng dài, búp non lâu, hàm lượng nước cao nhưng búp thưa, quang hợp kém nên năng suất thấp. Ánh sáng tán xạ ở vùng núi cao có tác dụng tốt đến phẩm chất chè. Sương mù nhiều ẩm ướt, nhiệt độ thấp ở vùng núi cao là nơi sản xuất chè có chất lượng cao.
- Không khí: Sự lưu thông không khí, gió nhẹ và có mưa rất có lợi cho sinh trưởng của cây chè. Gió nhẹ làm cho CO2 phân bố đều, có lợi cho quá trình quang hợp, gió nhẹ có tác dụng điều hòa nước trong cây. Để giảm tác hại của gió bão người ta tiến hành trồng các đai rừng chắn gió cho chè. Thân và cành Cây chè sinh trưởng trong điều kiện tự nhiên là đơn trục, nghĩa là chỉ có một thân chính, trên đó phân ra các cấp cành.
Mỗi giống chè có những đặc điểm và khả năng phân cành khác nhau, có giống phân cành thấp (thân bụi, nửa bụi) có giống phân cành cao, cành thưa hơn (thân gỗ, bán gỗ). Khả năng phân cành của mỗi giống có ảnh hưởng đến sinh trưởng chiều cao, độ rộng tán, mật độ cành, mật độ búp của tán chè và qua đó có ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng chè. e 7 Theo Nguyễn Hữu La (1999) [12] khi nghiên cứu một số đặc điểm hình thái của tập đoàn giống chè tại Phú Hộ thời kỳ kiến thiết cơ bản đã khẳng định, chiều cao cây có tương quan thuận rất chặt với chiều rộng tán chè (r = 0,72 ± 0,09) và số cành cấp 1 (r = 0,75 ± 0,090), tương quan chặt với diện tích lá (r = 0,58 ± 0,11), nhưng không có mối tương quan thuận với chiều dài đốt cành, trọng lượng búp và mật độ búp. Chu Xuân Ái (1988) [1] khi nghiên cứu mối quan hệ giữa đặc điểm hình thái, điều kiện ngoại cảnh với năng suất chè, cho rằng: Năng suất chè có mối tương quan thuận chặt với mật độ búp (r=0,8564) và diện tích lá (r=0,7752), những giống có mật độ búp cao, diện tích lá lớn cho năng suất cao.
Giống có chiều rộng lá (r= 0,7542) lớn có năng suất cao hơn những giống có chiều dài lá lớn. Mầm chè Trên cây chè có những loại mầm: mầm dinh dưỡng và mầm sinh thực. Mầm dinh dưỡng phát triển thành cành lá, mầm sinh thực phát triển thành nụ hoa và quả. Mầm dinh dưỡng gồm có: - Mầm đỉnh - Mầm nách - Mầm ngủ - Mầm bất định (mầm ở cổ rễ) Mầm đỉnh: Loại mầm này ở vị trí trên cùng của cành, tiếp tục phát triển trên trục chính của các cành năm trước, hoạt động sinh trưởng mạnh và thường có tác dụng ức chế sinh trưởng của các mầm ở phía dưới nó (ưu thế sinh trưởng ngọn).
Trong một năm, mầm đỉnh hình thành búp sớm nhất cùng với thời kỳ bắt đầu sinh trưởng mùa xuân của cây. Búp được hình thành từ các mầm đỉnh là các búp đợt 1, có thể là búp bình thường hoặc búp mù.