Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.1 Sơ lược về cây dưa lưới 1.1 Nguồn gốc và phân bố Cay dưa lưới (Cucumis melo L.) thuộc giới Plantac, bộ Cucurbitales, họ bầu bí (Cucurbitacaae), loài C. Cây dưa lưới có bộ nhiễm sắc thể 2n = 24, là cây dạng thân leo, có nguồn gốc từ An Độ và Châu Phi. Người Ai Cập là người đầu tiên trồng loài cây này, sau đó là người Hy Lạp và La Mã. Cây dưa lưới đầu tiên được Cristoforo Colombo đưa đến Bắc Mỹ trên hành trình lần thứ hai của ông đến châu Mỹ năm 1949.
Ngày nay dưa lưới được trồng khắp nơi trên thế giới và các quốc gia trồng nhiều loài cây này bao gồm: Trung Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Thổ Nhĩ Ky, Iran và các nước Trung Mỹ.2 Đặc điểm thực vật học 1.1 Rễ Bộ rễ dưa lưới có cấu trúc giống như bộ rễ dưa hấu nhưng yếu hơn, gồm rễ chính dai 0,6 - 1 m và có khoảng 9 - 12 rễ phụ ăn lan rộng trên mặt đất. Vì thé dưa lưới chịu hạn tốt nhưng yếu hơn dưa hau và chịu 4m khá. Ré mọc trải rộng 80 - 120 cm ở tầng đất mặt 15 - 20 cm (Mai Thị Phương Anh và ctv, 1996). Bộ rễ dưa lưới phát triển khá mạnh, phát triển lan rộng trên mặt đất.
Rễ thường không có khả năng phục hồi khi bị đứt, khi trồng tránh làm đứt rễ. Khi dây leo bắt đầu kéo dài ra, những rễ phụ bắt đầu phát triển tại các mắt đốt. Những rễ này trở nên quan trọng cho việc hút nước và chất dinh dưỡng nuôi cây và quả. Nếu dây leo bị đập hoặc gãy và những rễ này bị đứt thì năng suất sẽ giảm (Trần Thị Ba và ctv, 1999).2 Thân, lá Dưa lưới thuộc loại thân leo, có nhiều đốt, mỗi đốt là một lá và tua cuống (Mai Thị Phương Anh và ctv, 1996).
Dưa lưới có thân rỗng và xốp bên trong, bên ngoài có nhiều lông tơ, đốt trên thân mang cành và cuống. Dưa lưới vao thời kỳ có 1 - 5 lá thật, cây ở trạng thái đứng, đốt ngắn, thân mảnh. Thời kỳ ra hoa thân phát triển mạnh nhất, tốc độ sinh trưởng cao, lông dài. Chiều dài thân chính biến động từ 1,5 - 2,0 m (Trần Thị Ba và ctv, 1999).3 Hoa, quả, hạt Hoa đơn tính đồng chu, đôi khi có hoa lưỡng tính.
Hoa kích thước nhỏ, hoa cái mọc đơn ở nách lá trên cành, lá đài xanh, cánh hoa màu vàng. Hoa đực mọc thành chùm có cuống ngắn, mọc từ nách của thân chính và các nhánh. Hoa dưa lưới nở vào buổi sáng sớm sau khi mặc trời lên, tuỳ thuộc vao ánh nắng mặt trời, nhiệt độ và sự âm ướt. Khi nhiệt độ thấp, trời nhiều mây thì sự nở hoa sẽ bị trì hoãn.
Hoa thường khép lại vào chiều cùng ngày. Quả có kích thước và hình dạng rất đa dạng. Trọng lượng quả từ 200 gram đến vài kilogram. Màu sắc vỏ quả từ màu xanh, trắng đến vàng và còn có nhiều nếp gấp, từ trơn láng đến xù xì.
Thịt quả dưa lưới màu xanh hoặc vàng cam nghiêng vàng, đỏ và giau caorotene, ăn giòn, mát và thơm ngọt, hàm lượng đường cao bình quân 12 - 16. Vỏ quả dưa lưới day, khá cứng nên dé vận chuyên mà không sợ dập nát. Khi quả chính có mùi thơm đặc trưng, một số giống không thơm nhưng có thời gian bảo quản lâu (Mai Thị Phương Anh và ctv, 1996). Đa số hạt được sinh ra từ hoa có nhiều ngăn, bọc trong một chất nhay.
Hat det, màu nâu đen, đỏ nâu, trắng hoặc mau kem, bằng phẳng, nảy mầm thượng địa (Tindall, 1983).3 Yêu cầu ngoại cảnh của cây dưa lưới 1.1 Nhiệt độ Dưa lưới là cây trồng nhiệt đới nên thích hợp nhiệt độ cao, nhiệt độ thích hợp cho cây sinh trưởng va phát triển là 25 - 30°C. Nhiệt độ thích hợp dé cây ra hoa tạo qua là 20 - 22°C vào buổi sáng và 25 - 27°C vào buổi trưa. Nhiệt độ dưới 18°C sẽ bat lợi cho sự nở hoa, trên 35°C quả dé bị di hình và phẩm chất kém (Mai Thị Phương Anh va ctv, 1996). Tuy nhiên, theo Grubben và Denton (2004), nhiệt độ tối ưu cho sự phát triển là 12 18 - 28°C, phát triển chậm khi dưới 12°C.
Dưa lưới có thé chịu được nhiệt độ lên đến 40°C nhiều giờ mỗi ngày, cây dễ chết trong điều kiện sương giá.2 Ánh sáng Dưa lưới là cây ưa sáng, vì vậy cần nhiều ánh sáng từ khi xuất hiện lá mầm đầu tiên cho đến khi kết thúc sinh trưởng. Cường độ ánh sáng đóng vai trò quan trọng quyết định đến năng suất và chất lượng quả (Mai Thị Phương Anh và ctv, 1996). Theo Trần Thị Ba và ctv (1999), cây dưa lưới có yêu cầu ánh sáng ngày ngắn 8 - 12 giờ chiếu sáng trong ngày. Cây không đủ ánh sáng hay do trồng với mật độ day, bị che khuất sẽ sinh trưởng kém, ra hoa chậm, giảm tỷ lệ đậu quả, kích thước và khả năng tích luỹ trong quả kém, dễ bị sâu bệnh (Mai Thị Phương Anh và ctv, 1996).3 Âm độ Dưa lưới có khả năng chịu hạn nhưng không chịu úng.
Hệ rễ chúng ăn sâu, phân nhánh mạnh nên hút nước mạnh, có thân lá lớn nhưng mặt lá nhiều lông nên tiêu hao nước ít. Âm độ thích hợp cho sự phát triển của cây dưa lưới là khoảng 75 - 80% (Mai Thị Phương Anh và ctv, 1996).4 Giá thể và dinh dưỡng Độ pH thích hợp cho cây dưa lưới phát triển là vào khoảng 6 - 6,8 (Tạ Thu Cúc, 2005). Dưa lưới yêu cầu dinh dưỡng cao hơn các cây cùng họ, xét theo nguyên tố vô cơ thì thứ tự vai trò cần cho cây là P,N, K.2 Sơ lược về phân bón hữu cơ 1.1 Định nghĩa về phân bón hữu cơ Nhóm phân bón hữu cơ gồm các loại phân bón được sản xuất từ nguyên liệu chính là các chất hữu cơ tự nhiên (không bao gồm các chất hữu cơ tông hợp), được xử ly thông qua quá trình vật lý (lam khô, nghiền, sảng, phối trộn, làm âm) hoặc sinh học (ủ, lên men, chiết) và tùy theo thành phan, chức năng của các chỉ tiêu chất lượng chính hoặc quá trình sản xuất được phân loại chi tiết trong quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (Chính phủ Việt Nam, 2019). Theo Ngô Ngọc Hưng (2004), phân hữu cơ là tên gọi chung cho các loại phân được sản xuất từ các vật liệu hữu co dư thừa thực vật, phân chuồng, phân xanh, chat thải 13 thực vật, các phế phẩm nông nghiệp vùi trực tiếp vào đất hay ủ thành phân.
Sau khi phân giải có khả năng cung cấp chất dinh dưỡng cho cây. Quan trọng hơn nữa là có khả năng làm tăng hiệu lực của phân bón hóa học, cải tạo và nâng cao độ phì nhiêu cho đất.2 Đặc điểm các loại giá thể trong thí nghiệm Giá thé được sử dụng trồng cây phải đáp ứng các điều kiện như: Có độ thông thoáng cho bộ rễ giúp cây phát triển thuận lợi, đóng vai trò như một hệ thống dẫn nước và dinh đưỡng đến bộ rễ. Phân ruồi lính đen: Phân ruồi lính đen có hàm lượng hữu cơ rất cao. Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Võ Anh Thư (2017), giá trị dinh dưỡng của nhộng ruồi và tiền nhộng ruồi lính đen được nuôi trên bên bã bia có hàm lượng protein, lipid và tro lần lượt là 46,35%, 36,38%, 5,93%.
Phân ruồi lính đen có khả năng lưu trữ các chất dinh dưỡng bón vào, giúp cây trồng hấp thụ triệt dé hơn, giảm được thất thoát phân bón, tăng hiệu quả của các loại phân bón khác. Phân trùn quế: Phân trùn quế là loại phân bón thiên nhiên giàu dinh dưỡng có tác dụng kích thích sự tăng trưởng của cây trồng. Phân trùn có chứa các chất khoáng được cây trồng hấp thụ một cách trực tiếp, không như các loại phân hữu cơ khác phải được phân hủy trong đất trước khi cây hấp thụ. Hàm lượng N, P, K, Ca và các chất khoáng vi lượng trong phân trùn cao gấp 2 - 3 lần phân trâu, bò, phân ngựa; gấp 1.5 - 2 lần phân heo và phân đê (Phạm Thị Thu Hiền, 2021).
Mụn dừa: Mụn dừa, nhất là mụn dừa tươi có chứa hàm lượng ligin cao, nếu sử dụng có thé gây ngộ độc trực tiếp cho cây trồng. Dé sử dụng được mụn dừa thì cần phải qua xử lý tanin (chất chát) và ligin, nếu quá trình xả chất này diễn ra trong tự nhiên thì rất lâu. Dé quá trình xử lý được nhanh hơn, nông dân thường ngâm mụn dừa trong nước vôi với tỷ lệ 5 kg vôi pha với 200 lít nước sạch. Thời gian ngâm tốt nhất là khoảng 5 - 7 ngày sau đó xả nước chát màu đen ra khỏi bể ngâm và đưa nước sạch vào xả từ 2 - 3 lần.
Sau đó có thé đem ra sử dụng (Trần Minh Trung, 2015).3 Giới thiệu về phân bón trùn quế As và phân bón GAC Master Phân bón hữu cơ GAC Master: Do công ty Green Agricare Việt Nam sản xuất và phân phối, lam từ nguồn nhiên liệu bả bia nuôi nhộng ruồi, là loại phân bón có lượng 14 hữu cơ cao. Thanh phần in trên bao bì có trong phân GAC Master bao gồm: OM 70%, C/N 12%, độ âm 30%, pH 5. Liều lượng khuyến cáo cho cây rau mau là khoảng 0,3 kg/cây. Phân bón hữu cơ trùn qué As: Do công ty cô phan Trin Quế Củ Chi sản xuất và phân phối.
Theo thông tin in trên bao bì, thành phan bao gồm: OM 19,1%, Acid Fulvic 1,21%, Acid Humic 3,81%, độ âm 70,5%, pH 5. Liéu luong khuyén cao cho cay rau mau là khoảng 1 kg/cay.3 Một số nghiên cứu phân bón trên cây dưa lưới trên thế giới và ở Việt Nam 1.1 Nghiên cứu dưa lưới trên thế giới Theo Musfira và ctv (2021), khi nghiên cứu ảnh hưởng của bùn sinh học dạng lỏng đến sinh trưởng và năng suất của hai giống dưa lưới, cho thấy: Bùn sinh học có ảnh hưởng tốt đến sinh trưởng của cây. Khi áp dụng nồng độ bùn sinh học ở mức 75 mL/L cho chiều cao cây, số lá và đường kính quả cao nhất. Ở mức 25 mL/L cho khối lượng quả cao nhất (1,65 kg).
Việc áp dụng chế phẩm sinh học lên 2 giống dưa này không có ảnh hưởng đáng ké đến độ birx của quả. Abdelhakeem và ctv (2018) đã nghiên cứu ảnh hưởng của việc phun bốn loại phân bón chứa chất kích thích tăng trưởng và hai phương pháp cung cấp đạm cho thấy: khi bón 50% đạm hữu cơ kết hợp với 50% đạm vô cơ và phun phân bón lá Lithovit hoặc Yeast extract cho năng suất cao nhất và chất lượng quả tốt nhất.