Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Cây sầu riêng (Durio zibethinus Murr.) là loài cây ăn trái nhiệt đới có giá trị kinh tế cao, được mệnh danh là “vua của các loại trái cây” và đang phát triển mạnh mẽ tại các quốc gia Đông Nam Á như Thái Lan, Malaysia và Việt Nam. Tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long, việc thâm canh sầu riêng mang lại nguồn thu nhập lớn cho nhà vườn nhưng đồng thời đối mặt với nhiều thách thức kỹ thuật nghiêm ngặt, đặc biệt là khâu xử lý ra hoa và đậu quả nghịch vụ. Trong thực tiễn canh tác tại huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, hiện tượng rụng nụ hoa và rụng trái non sinh lý diễn ra rất phổ biến do tác động bất lợi của thời tiết, môi trường cùng sự cạnh tranh dinh dưỡng giữa đọt non và hoa trái. Tình trạng này khiến nhiều vườn sầu riêng bị suy giảm năng suất nghiêm trọng hoặc đứng trước nguy cơ mất trắng mùa vụ.
Để khắc phục hiện tượng rụng hoa và rụng trái, người sản xuất thường áp dụng các chế phẩm chứa Canxi Bo hoặc hóa chất ức chế sinh trưởng Paclobutrazol. Tuy nhiên, việc lạm dụng Canxi Bo và Paclobutrazol qua nhiều vụ liên tiếp dẫn đến nhiều hệ lụy tiêu cực: cây nhanh già cỗi, suy kiệt bộ rễ, cháy lá, đất canh tác bị chai cứng và suy giảm nhanh năng suất ở các vụ mùa tiếp theo nếu không được bổ sung hữu cơ kịp thời. Mặc dù trên thị trường đã xuất hiện một số hợp chất điều hòa sinh trưởng mới như Natri 4-chlorophenoxyacetate (4-CPA-Na), bà con nông dân vẫn chưa ứng dụng rộng rãi do thiếu các dẫn liệu khảo nghiệm thực nghiệm bài bản về liều lượng và hiệu lực trên giống sầu riêng Monthong.
Đề tài khóa luận được thực hiện nhằm giải quyết các nhiệm vụ và mục tiêu cụ thể sau:
- Xác định nồng độ Natri 4-chlorophenoxyacetate (4-CPA-Na) thích hợp cho sự ra hoa và đậu trái trên giống sầu riêng Monthong tại địa bàn nghiên cứu.
- Thực hiện bố trí thí nghiệm ngoài đồng ruộng, theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng của nụ hoa, tỷ lệ rụng nụ hoa, khả năng nở hoa, sự phát triển kích thước quả và tỷ lệ rụng trái non qua các giai đoạn phát triển.
- Đánh giá ảnh hưởng của các mức nồng độ chất xử lý đến hình thái phẩm chất quả (số múi/ngăn) và tình hình sâu bệnh hại phát sinh.
- Đưa ra khuyến cáo kỹ thuật cụ thể về nồng độ sử dụng tối ưu nhằm hạn chế rụng trái non và gia tăng năng suất cho nhà vườn.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Cây sầu riêng giống Monthong (cây ghép 5 năm tuổi, bắt đầu cho trái vào đầu năm 2023 lúc 4,5 năm tuổi bằng phương pháp xử lý nghịch vụ).
- Phạm vi không gian: Vườn sầu riêng thuần (không trồng xen, mật độ 6 m x 7 m) tại ấp Mỹ Nghĩa 1, xã Mỹ Đức Tây, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
- Phạm vi thời gian: Thí nghiệm thực hiện từ tháng 8/2023 đến tháng 01/2024, theo dõi từ thời điểm cây xuất hiện nụ được 15 ngày đến khi đậu trái được 60 ngày.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu dựa trên cơ sở sinh lý điều hòa sinh trưởng thực vật và cơ chế chống hình thành tầng rời ở cuống hoa, cuống trái của nhóm hợp chất auxin tổng hợp. Hoạt chất chính được khảo nghiệm là Natri 4-chlorophenoxyacetate (4-CPA-Na), tên hóa học là Sodium 4-chlorophenoxyacetate (muối natri của axit 4-chlorophenoxyacetic), công thức phân tử $C_8H_6ClNaO_3$, trọng lượng phân tử 208,5742 g/mol. Đây là chất điều hòa sinh trưởng có khả năng tan hoàn toàn trong nước, điểm nóng chảy 284–287 °C, độ độc LD50 đường uống cấp tính trên chuột đạt 2200 mg/kg và LC50 trên cá chép đạt 3–6 ppm (48 giờ). Hoạt chất này được hấp thụ qua rễ, thân, lá, hoa và trái; có chức năng ức chế hình thành tầng rời cuống trái, hạn chế rụng trái non, kích thích phì trái và hỗ trợ tạo trái không hạt. Trong thí nghiệm, chất 4-CPA-Na được phối chế trên nền phân bón lá F2 Sagiko (chế phẩm hữu cơ khoáng chứa chất điều hòa sinh trưởng).
Phương pháp thực nghiệm đồng ruộng:
- Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm đơn yếu tố được thiết kế theo kiểu khối hoàn toàn ngẫu nhiên (Randomized Complete Block Design - RCBD) với 3 lần lặp lại (LLL1, LLL2, LLL3). Tổng số ô thí nghiệm là 15 ô, mỗi ô gồm 3 cây, tổng cộng sử dụng 45 cây sầu riêng đồng đều về đường kính thân (trung bình 81 cm), đường kính tán (5,5 m), chiều cao cây (6 m) và số cành cấp 1 để lại (22 cành).
- Các nghiệm thức thí nghiệm:
- NT1: Đối chứng (ĐC) - Phun nước lã
- NT2: Phun 4-CPA-Na nồng độ 5,0 ppm
- NT3: Phun 4-CPA-Na nồng độ 10,0 ppm
- NT4: Phun 4-CPA-Na nồng độ 15,0 ppm
- NT5: Phun 4-CPA-Na nồng độ 20,0 ppm
- Kỹ thuật xử lý: Thuốc được pha theo các nồng độ định mức với 15 lít nước cho mỗi ô 3 cây (trung bình 5 lít dung dịch/cây), phun ướt đều toàn bộ bề mặt tán lá. Phân nền và hóa chất được phun định kỳ 6 lần, lần đầu khi cây vừa nhú nụ hoa, các lần tiếp theo cách nhau 15 ngày.
- Phương pháp thu thập chỉ tiêu: Định vị và đánh dấu 4 cành cấp 1 theo 4 hướng trên mỗi cây thí nghiệm (đoạn cành dài 1 m có mang nụ/trái). Dùng thước kẹp cơ học và thước dây đo chiều dài nụ, chiều rộng nụ, đường kính cuống nụ ở các mốc 15, 25, 35, 45 ngày sau xuất hiện nụ (NSXHN); đo chiều dài, chiều rộng, đường kính cuống trái ở các mốc 15, 30, 45, 60 ngày sau đậu trái (NSĐT). Đếm số nụ, số hoa nở, số trái rụng trước và sau hai lần tỉa trái (tỉa lần 1 ở 30 NSĐT, tỉa lần 2 ở 45 NSĐT), đếm số trái đủ ngăn (trái tròn đều đủ múi) và số trái không đủ ngăn/méo mó ở 45 và 60 NSĐT.
- Phương pháp xử lý số liệu: Toàn bộ số liệu thu thập được tính toán giá trị trung bình trên Microsoft Excel, xử lý phân tích phương sai (ANOVA) và trắc nghiệm phân hạng trung bình bằng phần mềm R phiên bản 4.x ở mức ý nghĩa $\alpha = 0,05$ (*) và $\alpha = 0,01$ (**).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương này tổng kết toàn diện cơ sở sinh học của cây sầu riêng (Durio zibethinus Murr.), thuộc bộ Malvales, họ Malvaceae (Bombacaceae). Cây có nguồn gốc từ vùng Đông Nam Á, bộ rễ có thể ăn sâu 5–6 m tùy thuộc vào loại đất và kỹ thuật nhân giống. Cây phát triển thuận lợi ở nền nhiệt độ 22–40 °C, lượng mưa phân bố đều 2000–3000 mm/năm và yêu cầu độ ẩm 40% kết hợp khô hạn liên tục 7–14 ngày để phân hóa mầm hoa. Tác giả trình bày chi tiết về đặc tính thụ phấn chéo nhờ dơi và ngài đêm, yêu cầu thụ phấn nhân tạo bổ sung vào khung giờ 18h30 đến 22h30 khi 25% hoa trên cây nở rộ để tránh trái méo mó.
Chương 1 cũng rà soát các loài dịch hại phổ biến:
- Sâu hại chính: Rầy nhảy (Allocaridara malayensis), sâu đục quả (Conogethes punctiferalis), rệp sáp (Planococcus sp.).
- Bệnh hại nguy hiểm: Bệnh thối gốc chảy mủ do nấm Phytophthora palmivora, bệnh thán thư do Colletotrichum zibethinum, bệnh nấm mốc hồng do Corticium salmonicolor.
Đồng thời, chương này tổng quan quy trình kích thích ra hoa bằng phương pháp phủ bạt xiết nước kết hợp Paclobutrazol (liều lượng 750–1500 ppm) cùng các hạn chế suy cây sau xử lý. Các nghiên cứu nền tảng về hoạt chất 4-CPA-Na trên giá đỗ (Li Chang-feng và ctv., 2017), trên cây dâu tằm (Chen Zhang, Wan Duan và ctv., 2023) và nghiên cứu của Phạm Minh Nhật (2023) tại Bình Phước (cho thấy nồng độ 10 ppm 4-CPA-Na giúp tỷ lệ nở hoa đạt 97,8%) được phân tích làm cơ sở lý luận cho đề tài.
Chương 2: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
Chương này mô tả chi tiết địa điểm nghiên cứu tại ấp Mỹ Nghĩa 1, xã Mỹ Đức Tây, Cái Bè, Tiền Giang. Kết quả phân tích lý hóa mẫu đất tầng mặt tại Viện Nghiên cứu Công nghệ Sinh học và Môi trường (Trường ĐH Nông Lâm TP.HCM) xác định đất vườn thí nghiệm là đất thịt trung bình, cơ giới nặng, cấu trúc viên cụm tơi xốp, pH $H_2O$ đạt 6,1; dung tích hấp thu cation (CEC) đạt 13,5 meq/100g. Về hàm lượng dinh dưỡng, đạm tổng số đạt 0,21% ($N$ dễ tiêu 4,06 mg/100g), lân tổng số đạt 0,09% ($P_2O_5$ dễ tiêu 10,5 mg/100g), kali tổng số nghèo chỉ đạt 0,11% ($K_2O$ dễ tiêu 6,1 mg/100g).
Dữ liệu khí tượng từ Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Nam Bộ ghi nhận nhiệt độ trung bình từ tháng 8 đến tháng 12/2023 dao động từ 27,6 đến 28,8 °C, số giờ nắng từ 148,6 đến 240,0 giờ, độ ẩm không khí 79–89%. Lượng mưa tập trung rất cao từ tháng 8 đến tháng 10 (tháng 9 đạt 367,3 mm, tháng 10 đạt 303,4 mm) gây trở ngại cho công đoạn xiết nước tạo khô hạn, nhưng giai đoạn sau hoa nở và nuôi trái (tháng 11–12) lượng mưa giảm mạnh (23,3–72,7 mm) tạo điều kiện thuận lợi cho thụ phấn và phát triển quả non. Chương này cũng chuẩn hóa các công thức tính tỷ lệ rụng nụ, tỷ lệ hoa nở, tỷ lệ rụng trái non qua từng đợt tỉa trái và phương pháp bố trí sơ đồ khối thực nghiệm.
Chương 3: Kết quả và thảo luận
Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm đạt được trên 7 khía cạnh theo dõi:
- Sự phát triển của nụ hoa: Chiều dài nụ hoa ở 15 NSXHN có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức; nồng độ 10,0 ppm đạt chiều dài nụ cao nhất (0,78 cm), khác biệt có ý nghĩa so với đối chứng (0,73 cm). Đến 45 NSXHN, nồng độ 5,0 ppm vươn lên đạt kích thước lớn nhất về chiều dài nụ (1,97 cm) và chiều rộng nụ (1,62 cm). Đường kính cuống nụ phát triển đều và nghiệm thức 10,0 ppm giữ mức cao nhất ở 45 NSXHN (0,54 cm).
- Số nụ hoa và tỷ lệ rụng nụ: Số nụ trên cành giữa các nghiệm thức không sai khác thống kê. Tỷ lệ rụng nụ ở 35 NSXHN có sự khác biệt rất có ý nghĩa thống kê ($p < 0,01$); đối chứng có tỷ lệ rụng cao nhất (2,30%), trong khi nghiệm thức 15,0 ppm có tỷ lệ rụng thấp nhất (1,17%), nghiệm thức 5,0 ppm đạt 1,87%. Đến 45 NSXHN, tỷ lệ rụng nụ ở đối chứng duy trì mức cao nhất (3,00%), các nghiệm thức phun 4-CPA-Na giữ tỷ lệ rụng từ 2,71% đến 2,81%.
- Quá trình nở hoa: Số hoa nở trung bình dao động từ 262 đến 324 hoa/cành. Tỷ lệ hoa nở có sự khác biệt rất có ý nghĩa ($p < 0,01$); nồng độ 20,0 ppm và 15,0 ppm cho tỷ lệ nở hoa cao nhất (lần lượt đạt 98,76% và 98,40%), tiếp đến là 10,0 ppm (97,43%), đối chứng (96,81%) và thấp nhất là 5,0 ppm (96,52%). Thời gian nở hoa dao động từ 24 đến 26 ngày.
- Kích thước trái non: Chiều dài trái tại 30 NSĐT và 45 NSĐT có sự khác biệt thống kê rõ rệt. Tại 45 NSĐT, nghiệm thức 5,0 ppm đạt chiều dài trái 15,07 cm và chiều rộng trái 11,10 cm, cao hơn vượt trội so với nghiệm thức 15,0 ppm (dài 10,66 cm, rộng 8,64 cm). Đến 60 NSĐT, nghiệm thức 5,0 ppm duy trì kích thước quả lớn nhất với chiều dài 23,95 cm, chiều rộng 17,99 cm và đường kính cuống trái đạt 1,98 cm.
- Số trái và tỷ lệ rụng trái non: Sau khi đậu trái 15 ngày, số trái trên cành đạt 121–160 trái, tỷ lệ rụng từ 46,50% đến 52,91%. Trước tỉa lần 1 (30 NSĐT), tỷ lệ rụng trái non dao động 69,27–72,77%. Đáng chú ý, tỷ lệ rụng trái non sau đợt tỉa lần 2 (từ 45 đến 60 NSĐT) thể hiện sự chênh lệch lớn: nghiệm thức 10,0 ppm (9,53%) và 5,0 ppm (16,19%) giữ tỷ lệ rụng rất thấp, trong khi nghiệm thức 15,0 ppm rụng đến 61,04% và nghiệm thức 20,0 ppm rụng 40,00%.
- Số trái trên cây và hình dạng trái: Tại 60 NSĐT, tổng số trái trên cây ở nghiệm thức 20,0 ppm đạt cao nhất (48 trái), tiếp theo là 15,0 ppm (38 trái), 5,0 ppm (36 trái), đối chứng (32 trái) và 10,0 ppm (30 trái). Tuy nhiên, xét về chất lượng quả thương phẩm, nghiệm thức 5,0 ppm cho số trái đủ ngăn (trái tròn đều không méo mó) cao nhất, đạt 25,67 trái/cây (chỉ có 10,00 trái không đủ ngăn). Ngược lại, nồng độ 20,0 ppm tuy giữ nhiều trái nhưng có số trái không đủ ngăn lên tới 14,67 trái/cây (chỉ đạt 19,67 trái đủ ngăn).
- Tình hình sâu bệnh hại: Vườn thí nghiệm ghi nhận mật độ sâu ăn bông (Thalassodes falsaria) và rệp sáp (Planococcus sp.) xuất hiện rất thấp, không làm sai lệch kết quả thí nghiệm. Ở giai đoạn 5 NSĐT, cây bị rụng lá già sinh lý do thời tiết nắng gắt thiếu nước cục bộ; giai đoạn trái lớn có xuất hiện bệnh thối hồng và nấm Phytophthora tấn công nhẹ rải rác trên vỏ quả.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã kiểm chứng thực nghiệm tác động sinh học của các mức nồng độ Natri 4-chlorophenoxyacetate trên cây sầu riêng Monthong giai đoạn ra hoa nuôi trái non. Số liệu tổng hợp so sánh các chỉ tiêu quan trọng tại thời điểm kết thúc theo dõi (60 NSĐT) được thể hiện ở bảng sau:
| Chỉ tiêu theo dõi |
NT1 (0,0 ppm - ĐC) |
NT2 (5,0 ppm) |
NT3 (10,0 ppm) |
NT4 (15,0 ppm) |
NT5 (20,0 ppm) |
Mức ý nghĩa ($p$) |
| Chiều dài trái tại 60 NSĐT (cm) |
20,21 |
23,95 |
16,35 |
11,60 |
20,14 |
$ns$ |
| Chiều rộng trái tại 60 NSĐT (cm) |
16,03 |
17,99 |
13,76 |
10,02 |
16,11 |
$ns$ |
| Đường kính cuống trái tại 60 NSĐT (cm) |
1,78 |
1,98 |
1,55 |
1,17 |
1,97 |
$ns$ |
| Tỷ lệ rụng trái non sau tỉa lần 2 (%) |
22,22 |
16,19 |
9,53 |
61,04 |
40,00 |
$ns$ |
| Tổng số trái trên cây tại 60 NSĐT (trái) |
32,00 |
36,00 |
30,00 |
38,00 |
48,00 |
$ns$ |
| Số trái đủ ngăn tại 60 NSĐT (trái/cây) |
22,33 |
25,67 |
19,67 |
22,33 |
19,67 |
$ns$ |
| Số trái không đủ ngăn tại 60 NSĐT (trái/cây) |
10,00 |
10,00 |
10,33 |
11,00 |
14,67 |
$ns$ |
Kết quả thực nghiệm nổi bật:
- Xử lý 4-CPA-Na ở mức nồng độ 5,0 ppm mang lại hiệu quả sinh trưởng toàn diện nhất: kích thước nụ ở 45 NSXHN đạt lớn nhất (dài 1,97 cm, rộng 1,62 cm); các kích thước quả tại 60 NSĐT đều đạt giá trị cao nhất trong các nghiệm thức (chiều dài 23,95 cm, chiều rộng 17,99 cm, đường kính cuống trái 1,98 cm).
- Nghiệm thức 5,0 ppm kiểm soát tốt tỷ lệ rụng nụ hoa (1,70% ở 25 NSXHN, 1,87% ở 35 NSXHN, 2,81% ở 45 NSXHN) và duy trì tỷ lệ rụng trái non sau tỉa lần 2 ở mức thấp (16,19%), đồng thời cho số lượng trái đạt chuẩn thương phẩm đủ ngăn cao nhất (25,67 trái/cây).
- Nghiệm thức nồng độ cao (20,0 ppm) dù đạt tỷ lệ nở hoa cao nhất (98,76%) và tổng số trái trên cây nhiều nhất ở 60 NSĐT (48 trái), nhưng lại làm tăng tỷ lệ trái méo mó, không đủ ngăn lên mức cao nhất (14,67 trái/cây), đồng thời tỷ lệ rụng trái sau đợt tỉa 2 bị đẩy lên tới 40,00%.
Giải pháp và khuyến cáo kỹ thuật:
- Tác giả khuyến nghị nhà vườn canh tác giống sầu riêng Monthong trên đất phù sa tại huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang áp dụng phun hoạt chất 4-CPA-Na ở nồng độ 5,0 ppm trên nền phân bón lá định kỳ 15 ngày/lần từ khi xuất hiện nụ đến giai đoạn nuôi quả non.
- So với nghiên cứu trước đây của Phạm Minh Nhật (2023) tại tỉnh Bình Phước (khuyến nghị nồng độ 10,0 ppm cho tỷ lệ nở hoa và kích thước quả cao), nghiên cứu của Lâm Bảo Hòa xác định trên chân đất phù sa Cái Bè, nồng độ tối ưu thấp hơn (5,0 ppm) đã đủ mang lại hiệu quả vượt trội về kích thước quả và tỷ lệ trái đủ múi, giúp tiết kiệm chi phí hóa chất và tránh nguy cơ méo trái do dùng nồng độ cao.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tồn tại một số hạn chế gắn liền với giới hạn thời gian và phạm vi đề tài:
- Thời gian theo dõi chỉ dừng lại ở mốc 60 ngày sau khi đậu trái (thời kỳ quả non phát triển khung kích thước), chưa thể đánh giá toàn diện các chỉ tiêu năng suất thực thu khi thu hoạch chín (trọng lượng quả thương phẩm, năng suất kg/cây, năng suất tấn/ha).
- Đề tài chưa phân tích được các chỉ tiêu hóa sinh và phẩm chất cơm sầu riêng sau thu hoạch như hàm lượng đường tổng số, độ brix, độ béo, tỷ lệ sượng cơm hay màu sắc cơm quả dưới tác động của chất kích thích sinh trưởng.
- Nghiên cứu chỉ tiến hành trong một vụ canh tác duy nhất (cuối năm 2023 đầu năm 2024), chưa đánh giá mức độ tích lũy hoạt chất hoặc phản ứng sinh lý tồn dư của cây sầu riêng qua nhiều mùa vụ liên tiếp.
Hướng nghiên cứu mở rộng được đề xuất:
- Tiếp tục duy trì theo dõi thí nghiệm đến khi thu hoạch quả hoàn tất nhằm xác định chính xác năng suất thực thu, chất lượng cơm sầu riêng và đánh giá hiệu quả kinh tế (tính toán chi phí - lợi nhuận cụ thể).
- Mở rộng khảo nghiệm nồng độ 5,0 ppm trên các giống sầu riêng khác (Ri6, Chín Hóa, Chuồng Bò) và các loại hình thổ nhưỡng khác nhau trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao cho:
- Sinh viên và học viên cao học ngành Nông học, Khoa học Cây trồng, Bảo vệ Thực vật: Cung cấp phương pháp luận chuẩn xác về cách thức bố trí thí nghiệm khối hoàn toàn ngẫu nhiên (RCBD) trên đối tượng cây ăn trái thân gỗ lâu năm ngoài đồng ruộng; kỹ thuật theo dõi, định vị cành và chuẩn hóa các công thức tính toán chỉ tiêu rụng nụ, rụng hoa, rụng trái qua nhiều đợt tỉa.
- Kỹ sư nông nghiệp và cán bộ khuyến nông: Cung cấp số liệu định lượng chi tiết về tác động của muối auxin tổng hợp (4-CPA-Na) đối với quá trình phát triển hình thái của giống sầu riêng Monthong; làm cơ sở hướng dẫn nông dân điều chỉnh quy trình chăm sóc hoa và quả non.
- Phần đáng tham khảo nhất: Quy trình các bước tỉa trái non 3 đợt (tuần thứ 3–4, tuần thứ 8 và tuần thứ 10 sau hoa nở) kết hợp phân tích đặc tính lý hóa đất phù sa tại huyện Cái Bè (Bảng 2.1) và các số liệu động thái sinh trưởng kích thước trái theo thời gian (Bảng 3.6, Bảng 3.7, Bảng 3.8).
Câu hỏi thường gặp
1. Nồng độ 4-CPA-Na nào cho kết quả tốt nhất về sự phát triển kích thước và phẩm chất trái sầu riêng Monthong?
Nồng độ 5,0 ppm (nghiệm thức NT2) mang lại kết quả tốt nhất. Tại thời điểm 60 ngày sau đậu trái, nghiệm thức này đạt kích thước trái lớn nhất ở cả ba chỉ tiêu: chiều dài trái đạt 23,95 cm, chiều rộng trái đạt 17,99 cm và đường kính cuống trái đạt 1,98 cm. Đồng thời, nghiệm thức 5,0 ppm cho số lượng trái đủ ngăn (tròn đều, không méo mó) cao nhất với 25,67 trái/cây.
2. Nồng độ xử lý nào kích thích tỷ lệ nở hoa cao nhất và có sự đánh đổi gì so với giai đoạn nuôi trái?
Nồng độ 20,0 ppm (NT5) và 15,0 ppm (NT4) kích thích tỷ lệ hoa nở cao nhất, lần lượt đạt 98,76% và 98,40% (khác biệt rất có ý nghĩa thống kê so với mức 96,52% của nồng độ 5,0 ppm). Tuy nhiên, nồng độ cao 20,0 ppm lại dẫn đến hệ quả tiêu cực ở giai đoạn sau: tỷ lệ rụng trái sau đợt tỉa 2 tăng vọt lên 40,00% và số trái méo mó, không đủ ngăn ở mốc 60 NSĐT đạt mức cao nhất (14,67 trái/cây).
3. Tỷ lệ rụng trái non sau đợt tỉa lần 2 biến động như thế nào giữa các nghiệm thức?
Tỷ lệ rụng trái non sau đợt tỉa lần 2 (từ 45 đến 60 NSĐT) biến động rất mạnh giữa các nghiệm thức: thấp nhất ở nghiệm thức 10,0 ppm (9,53%) và 5,0 ppm (16,19%); đối chứng rụng 22,22%; trong khi nghiệm thức 20,0 ppm rụng 40,00% và nghiệm thức 15,0 ppm có tỷ lệ rụng cao nhất lên đến 61,04%.
4. Đặc tính lý hóa của đất vườn thí nghiệm tại Cái Bè có điểm gì cần lưu ý đối với cây sầu riêng?
Kết quả phân tích mẫu đất (Bảng 2.1) cho thấy đất thuộc nhóm đất thịt trung bình cơ giới nặng, pH $H_2O$ đạt 6,1, CEC ở mức cao (13,5 meq/100g), đạm tổng số (0,21%) và lân tổng số (0,09%) khá cao. Tuy nhiên, kali của đất rất nghèo: kali tổng số chỉ đạt 0,11% và $K_2O$ dễ tiêu chỉ có 6,1 mg/100g, đòi hỏi nhà vườn bắt buộc phải bón bổ sung phân kali thích hợp trong quá trình nuôi hoa và nuôi trái.
5. Trong suốt thời gian thí nghiệm, những loại sâu bệnh nào đã xuất hiện và mức độ tác động ra sao?
Vườn thí nghiệm xuất hiện hai loài sâu hại chính là sâu ăn bông (Thalassodes falsaria) và rệp sáp (Planococcus sp.) nhưng ở mật độ rất thấp, ít ảnh hưởng đến nụ và quả. Về bệnh hại, ở giai đoạn 5 NSĐT cây xuất hiện hiện tượng vàng và rụng lá già đồng loạt do thiếu nước cục bộ và nắng kéo dài; ở giai đoạn trái lớn có ghi nhận bệnh thối hồng và nấm Phytophthora gây hại rải rác ở mật độ nhẹ.
Kết luận
Đề tài khóa luận của tác giả Lâm Bảo Hòa đã chứng minh việc sử dụng chất điều hòa sinh trưởng Natri 4-chlorophenoxyacetate (4-CPA-Na) ở nồng độ 5,0 ppm phun định kỳ trên nền phân bón lá F2 Sagiko mang lại hiệu quả vượt trội trong việc kích thích phát triển nụ hoa, tăng cường kích thước trái (dài 23,95 cm, rộng 17,99 cm ở 60 NSĐT) và giảm thiểu tỷ lệ rụng trái non trên giống sầu riêng Monthong. Mặc dù các nồng độ cao (15,0–20,0 ppm) giúp tăng tỷ lệ nở hoa ban đầu nhưng lại làm gia tăng tỷ lệ rụng trái non sau tỉa và khiến trái bị méo mó không đủ ngăn. Công trình cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác, có giá trị ứng dụng cao cho kỹ thuật canh tác sầu riêng tại huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang và mở ra hướng nghiên cứu tiếp nối về phẩm chất trái ở giai đoạn thu hoạch chín.