Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Hoạt động khai thác khoáng sản tại Việt Nam đóng vai trò cung cấp nguyên nhiên liệu thiết yếu cho quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên, hoạt động này đồng thời tạo ra nhiều hệ lụy tiêu cực đối với môi trường xung quanh. Tình trạng khai thác manh mún, không tuân thủ đầy đủ quy trình công nghệ tại các điểm mỏ do chính quyền địa phương quản lý đã dẫn đến việc sử dụng tài nguyên kém hiệu quả, phát tán khối lượng lớn chất thải rắn, gây ô nhiễm đất, nước, không khí và làm biến dạng cảnh quan sinh thái tự nhiên.

Huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh là địa bàn bán sơn địa có lịch sử lâu đời, sở hữu nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng như quặng sắt (mỏ sắt Thạch Khê), titan, đá vôi, đá xây dựng, cát xây dựng và đất sỏi đỏ. Trước sức ép phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu vật liệu xây dựng, san lấp mặt bằng ngày càng gia tăng, hoạt động khai thác đất đá trên địa bàn huyện diễn ra với quy mô ngày một lớn. Thực trạng này đã và đang gây ra nhiều tác động tiêu cực đến môi trường tự nhiên cũng như đời sống sinh hoạt của cộng đồng cư dân lân cận. Nhằm đánh giá toàn diện các tác động môi trường và cung cấp cơ sở thực tiễn cho công tác quản lý tài nguyên tại địa phương, đề tài "Ảnh hưởng của hoạt động khai thác khoáng sản tới môi trường tại Thạch Hà-Hà Tĩnh" đã được thực hiện.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài bao gồm:

  1. Tổng hợp cơ sở lý luận chung về tài nguyên khoáng sản, hoạt động khai thác khoáng sản và các tác động môi trường; phân tích đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội liên quan tại huyện Thạch Hà.
  2. Tập trung nghiên cứu, đánh giá sâu hiện trạng ảnh hưởng của hoạt động khai thác đối với hai loại khoáng sản chính là đá xây dựng (tại mỏ đá Nam Giới, xã Thạch Hải) và đất sỏi đỏ (tại xã Ngọc Sơn) đến môi trường đất, nước, không khí, cảnh quan sinh thái và sức khỏe con người.
  3. Khảo sát, phân tích nhận thức và đánh giá của cộng đồng dân cư địa phương chịu ảnh hưởng trực tiếp từ hoạt động khai thác đất đá.
  4. Đề xuất hệ thống các giải pháp quản lý, kỹ thuật và an toàn lao động nhằm giảm thiểu tác động xấu, bảo vệ môi trường sống và cảnh quan địa phương.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các hoạt động khai thác gây ô nhiễm và suy thoái môi trường tại khu vực mỏ đá Nam Giới (xã Thạch Hải) và mỏ đất sỏi đỏ (xã Ngọc Sơn).
  • Phạm vi không gian: Tập trung khảo sát và thu thập dữ liệu tại xã Thạch Hải và xã Ngọc Sơn, thuộc địa bàn huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn hoạt động khai thác trọng điểm 2010 - 2013; số liệu thứ cấp thu thập phục vụ phân tích trong giai đoạn 2010 - 2015; số liệu điều tra xã hội học sơ cấp được triển khai vào đầu tháng 4 năm 2015.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Tác giả xây dựng khung phân tích dựa trên các khái niệm chuyên ngành Kinh tế Quản lý Tài nguyên và Môi trường cùng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về khoáng sản:

  • Khái niệm khoáng sản theo Từ điển địa chất, Kinh tế chính trị học và quy định pháp lý tại Khoản 1 Điều 3 Luật Khoáng sản năm 1996 (sửa đổi, bổ sung năm 2005) và Khoản 1 Điều 2 Luật Khoáng sản năm 2010.
  • Khái niệm khai thác khoáng sản quy định tại Khoản 7 Điều 2 Luật Khoáng sản năm 2010.
  • Các quy định quản lý và thanh tra khoáng sản theo Nghị định số 65/2006/NĐ-CP của Chính phủ.
  • Báo cáo và tài liệu chuyên khảo của Ngân hàng Thế giới (World Bank - WB, 2001) về "Khai thác mỏ và giảm nghèo".
  • Giáo trình và tài liệu bài giảng môn Khoa học môi trường đại cương.
  • Tổng quan các công trình nghiên cứu tiền nhiệm trong nước: đề tài của Hoàng Cúc Phương (2012) về đánh giá ảnh hưởng của khai thác quặng apatit tại mỏ Lào Cai và nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Huệ (2012) về hiện trạng môi trường tại Nhà máy tuyển Tằng Lỏong.

Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả áp dụng gồm:

  • Phương pháp điều tra thực địa và xã hội học: Thiết kế bảng hỏi khảo sát gồm 2 phần (Phần 1: Thông tin nhân khẩu học; Phần 2: 10 câu hỏi chuyên sâu về nhận thức môi trường, sức khỏe và lựa chọn định hướng phát triển). Cuộc điều tra tiến hành đầu tháng 4/2015 tại 2 địa bàn: thôn Nam Hải (xã Thạch Hải) và thôn Vĩnh Tây (xã Ngọc Sơn) với tổng dung lượng mẫu $N = 287$ hộ gia đình (đại diện cho tổng thể 958 hộ).
  • Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Thu thập tài liệu, báo cáo thống kê định kỳ từ Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Thạch Hà, Phòng Tài chính - Kế hoạch, Niên giám thống kê huyện Thạch Hà giai đoạn 2010 - 2014, Báo cáo quản lý đất đai năm 2015 và các văn bản chỉ đạo của UBND huyện Thạch Hà.
  • Phương pháp xử lý và phân tích số liệu: Dữ liệu điều tra sơ cấp được tổng hợp, phân loại, tính toán tỷ lệ phần trăm và phân tích định lượng bằng phần mềm Microsoft Excel.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Tổng quan về khoáng sản và ảnh hưởng của hoạt động khai thác khoáng sản đến môi trường

Chương này trình bày hệ thống lý luận căn bản về tài nguyên khoáng sản, vai trò kinh tế - xã hội và các phương thức khai khoáng. Tác giả phân loại khoáng sản theo dạng tồn tại (rắn, lỏng, khí), nguồn gốc hình thành (nội sinh, ngoại sinh), thành phần hóa học (kim loại, phi kim, năng lượng) và cấp độ tích tụ địa chất (từ mỏ, trường, khu vực/nút, vùng/bể đến tỉnh khoáng sản). Vai trò của khoáng sản được khẳng định qua 4 khía cạnh: thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo nguồn hàng xuất khẩu giá trị cao, hình thành vùng kinh tế - phân công lao động lãnh thổ và hỗ trợ xóa đói giảm nghèo.

Về hình thức khai thác, chương phân định các phương thức kỹ thuật (lộ thiên, hầm lò, lưới vớt/hút bơm, lỗ khoan) và quy mô thực tế (công nghiệp, quy mô nhỏ/tận thu, khai thác trái phép). Tác giả phân tích chi tiết chuỗi tác động môi trường - xã hội phát sinh trong quá trình khai khoáng:

  • Ô nhiễm không khí do bụi từ đập nghiền, sàng, bốc dỡ, vận chuyển và khí thải ($CO_2, SO_2, CO, CH_4$) từ phương tiện cơ giới, nổ mìn; tiếng ồn cường độ lớn.
  • Ô nhiễm và suy giảm tài nguyên nước: tháo khô mỏ hạ thấp mực nước ngầm, biến đổi tính chất lý - hóa nước mặt và nước ngầm do rửa trôi đất đá chứa quặng.
  • Suy thoái tài nguyên đất, phá hủy thảm thực vật rừng, suy giảm đa dạng sinh học và làm đảo lộn cấu trúc quần xã vi sinh vật đất.
  • Gia tăng nguy cơ sạt lở đất, xói lở đường bờ biển do khai thác sát mép nước biển (80 - 100m).
  • Phát sinh xung đột xã hội, mất cân bằng an ninh trật tự do di cư lao động và rủi ro rơi vào "bẫy tài nguyên" nếu khai thác thiếu quy hoạch dài hạn.

Chương II: Ảnh hưởng tới môi trường của hoạt động khai thác đá xây dựng và đất sỏi đỏ ở Thạch Hà-Hà Tĩnh

Chương II tập trung phân tích thực trạng tự nhiên, kinh tế - xã hội tại huyện Thạch Hà và đánh giá thực nghiệm mức độ ảnh hưởng môi trường tại các mỏ đá xây dựng, đất sỏi đỏ.

Huyện Thạch Hà có diện tích đất tự nhiên năm 2015 là 35.443,3 ha, bao gồm: đất nông nghiệp 23.040,47 ha (64,9%), đất phi nông nghiệp 9.092,68 ha (25,61%) và đất chưa sử dụng 3.370,63 ha (9,49%). Cơ cấu địa hình chia thành 3 vùng: đồng bằng, bán sơn địa (11.000 - 12.000 ha, chiếm 25% diện tích) và vùng ven biển (bờ biển dài 20 km). Dân số năm 2014 là 132.072 người; lực lượng lao động trong độ tuổi đạt 88.421 người (năm 2013). Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân hàng năm đạt 12,8%, trong đó ngành công nghiệp - xây dựng tăng từ 486 tỷ đồng (2010) lên 1.199,8 tỷ đồng (2014); thu nhập bình quân đầu người năm 2013 đạt 22 triệu đồng/năm (năm 2014 đạt 26 triệu đồng/năm).

Công tác quản lý nhà nước tại địa phương được củng cố qua việc ban hành hàng loạt văn bản: Công văn số 674/UBND (03/8/2012), Công điện số 11/CĐ-UBND (03/7/2012), Công văn số 888/UBND (10/10/2012), Công văn số 2337/UBND (13/11/2013) và Công văn số 197/UBND (26/02/2014) nhằm chấn chỉnh, xử lý khai thác cát, đất, đá trái phép.

Về hiện trạng phát sinh chất thải rắn công nghiệp và ô nhiễm vật lý, tác giả tổng hợp số liệu thực tế từ các doanh nghiệp và cơ quan chuyên môn:

Tên doanh nghiệp Sản lượng trung bình năm ($m^3$) Khối lượng chất thải rắn phát sinh ($m^3$) Tổng khối lượng xử lý ($m^3$)
Công ty CPXL TM Hoàng Dương 129.237,4 Đất mặt: 36.491,0
Bùn đỏ: 2.571,6
39.062,60
Công ty CP chế biến đá Thạch Hải 34.217,0 Đá loại: 3.357,0
Đất thải: 6.725,0
10.082,00
Công ty CP XD 1 Hà Tĩnh 67.842,0 Đá loại: 5.461,18
Đất thải: 2.479,23
7.940,41

Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Thạch Hà

Ô nhiễm bụi và tiếng ồn được xác định là tác nhân trực tiếp:

  • Kết quả đo hàm lượng bụi khi nổ mìn (lượng thuốc nổ 100 kg) tại mỏ đá núi Nam Giới (Thạch Hải) cho thấy: tại khoảng cách 100m đạt $>36,15\text{ mg}/m^3$; 200m đạt $27,74\text{ mg}/m^3$; 500m đạt $17,69\text{ mg}/m^3$; 1.000m đạt $15,00\text{ mg}/m^3$; 1.500m đạt $7,44\text{ mg}/m^3$. Bụi phát tán vượt quy chuẩn cho phép ở cự ly dưới 500m, đặc biệt trầm trọng vào mùa hè khi có gió phơn Tây Nam khô nóng.
  • Mức ồn vận tải dao động thường xuyên từ 75 đến 93 dB; tại thời điểm nổ mìn đạt trên 110 dB kèm dư chấn rung động gây nứt nẻ công trình nhà ở lân cận.

Kết quả điều tra xã hội học trên mẫu $N = 287$ hộ gia đình (184 hộ thôn Nam Hải và 103 hộ thôn Vĩnh Tây) ghi nhận:

  • Có 226/287 phiếu (78,89%) khẳng định bụi là tác nhân gây ô nhiễm nghiêm trọng nhất.
  • Đánh giá hiện trạng môi trường sống: 201 hộ (70,03%) nhận định môi trường ít bị ô nhiễm/bình thường; 76 hộ (26,48%) đánh giá ô nhiễm nặng; 9 hộ (3,49%) đánh giá không ô nhiễm.
  • Đánh giá mức độ ảnh hưởng đến sức khỏe: 179 hộ cho rằng bị ảnh hưởng ít/không thường xuyên; 85 hộ xác nhận bị ảnh hưởng nhiều và nghiêm trọng; 23 hộ cho rằng không bị ảnh hưởng.
  • Các bệnh lý ghi nhận thực tế: 246 trường hợp phản ánh mắc bệnh đường hô hấp (viêm xoang, viêm phổi); 87 trường hợp chịu tác động tâm sinh lý do tiếng ồn; 51 trường hợp mắc bệnh nghề nghiệp; 129 trường hợp gặp các vấn đề sức khỏe khác.
  • Đánh giá thang điểm môi trường: 163 phiếu đánh giá mức 6 - 8 điểm; 94 phiếu đánh giá mức 4 - 6 điểm.
  • Về quan điểm ưu tiên: 112 phiếu lựa chọn ưu tiên khai thác khoáng sản phát triển kinh tế; 100 phiếu ưu tiên bảo vệ môi trường, hạn chế khai thác; 75 phiếu lựa chọn phương án kết hợp hài hòa giữa khai thác hợp lý và bảo vệ môi trường.

Chương III: Một số giải pháp nhằm giảm thiểu những ảnh hưởng của hoạt động khai thác khoáng sản tới môi trường tại Thạch Hà-Hà Tĩnh

Trên cơ sở phương hướng quản lý của Chính phủ (hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật, cải cách thủ tục hành chính "một cửa", tăng cường thanh tra theo Nghị định số 65/2006/NĐ-CP) và định hướng của tỉnh Hà Tĩnh, tác giả xây dựng 4 nhóm giải pháp giảm thiểu tác động môi trường tại huyện Thạch Hà:

  1. Nhóm giải pháp về quản lý nhà nước:

    • Nâng cao năng lực và hiệu quả thực thi pháp luật của các cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương; tăng cường thẩm quyền và nhân lực chuyên trách cho Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Thạch Hà.
    • Hoàn thiện công tác lập, thẩm định và giám sát quy hoạch khai thác; khoanh định chính xác các khu vực cấm và tạm cấm hoạt động khoáng sản.
    • Thắt chặt quy trình cấp phép, phối hợp liên ngành giữa Công an, Thanh tra Sở TN&MT kiểm tra định kỳ và đột xuất; kiên quyết xử phạt, đình chỉ các cơ sở vi phạm quy chuẩn môi trường hoặc khai thác trái phép; buộc thực hiện nghĩa vụ tài chính và ký quỹ phục hồi môi trường, đóng cửa mỏ theo đúng quy định.
  2. Nhóm giải pháp về khoa học kỹ thuật và sử dụng tiết kiệm tài nguyên:

    • Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ, thay thế máy móc cũ kỹ bằng các thiết bị khai thác, nghiền sàng hiện đại có hiệu suất cao và giảm phát thải.
    • Tuân thủ nghiêm ngặt thiết kế khai thác mỏ và quy trình kỹ thuật bóc phủ tầng đất đá, hạn chế tối đa tổn thất khoáng sản và tận thu triệt để đá loại, đất thải làm vật liệu san lấp.
    • Ứng dụng công nghệ thông tin trong quan trắc, cập nhật cơ sở dữ liệu địa chất và giám sát mỏ.
  3. Nhóm giải pháp về an toàn lao động và bảo vệ sức khỏe:

    • Trang bị đầy đủ phương tiện bảo hộ lao động cá nhân (khẩu trang chống bụi, nút tai chống ồn, mũ bảo hộ) cho công nhân làm việc tại khai trường và xưởng nghiền sàng.
    • Thiết lập quy trình vận hành máy móc an toàn, kiểm soát chặt chẽ lượng thuốc nổ và bán kính an toàn khi nổ mìn; tổ chức khám sức khỏe định kỳ để tầm soát bệnh nghề nghiệp và bệnh đường hô hấp.
  4. Nhóm giải pháp bảo vệ cảnh quan và khu dân cư lân cận:

    • Áp dụng các biện pháp kỹ thuật giảm thiểu bụi: lắp đặt hệ thống phun sương dập bụi tại các trạm nghiền sàng; duy trì xe tưới nước trên các tuyến đường vận chuyển đất đá đi qua khu dân cư; che bạt kín thùng xe tải chở vật liệu.
    • Quy định khung giờ nổ mìn và vận chuyển hợp lý để giảm thiểu ảnh hưởng của tiếng ồn đối với sinh hoạt của người dân.
    • Thực hiện nghiêm túc việc hoàn thổ, san gạt các hố moong sâu sau khai thác để phòng ngừa nguy cơ tai nạn đuối nước; trồng cây xanh hoàn nguyên môi trường sinh thái trên diện tích bãi thải và sườn núi đã kết thúc khai thác.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã đạt được các kết quả cụ thể sau:

  • Làm rõ bức tranh thực trạng khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng (đá xây dựng tại mỏ Nam Giới - Thạch Hải và đất sỏi đỏ tại xã Ngọc Sơn) trên địa bàn huyện Thạch Hà giai đoạn 2010 - 2015.
  • Cung cấp các số liệu định lượng cụ thể về khối lượng chất thải rắn phát sinh tại 3 doanh nghiệp lớn (Công ty Hoàng Dương: 39.062,6 $m^3$; Công ty CP chế biến đá Thạch Hải: 10.082 $m^3$; Công ty CP XD 1 Hà Tĩnh: 7.940,41 $m^3$) và sự suy giảm nồng độ bụi theo cự ly từ $>36,15\text{ mg}/m^3$ (100m) xuống $7,44\text{ mg}/m^3$ (1.500m) sau các đợt nổ mìn 100 kg thuốc nổ.
  • Lượng hóa nhận thức cộng đồng thông qua mẫu điều tra 287 hộ dân, chỉ ra tỷ lệ 78,89% phản ánh bụi là tác nhân chính và 246 ý kiến ghi nhận các bệnh về đường hô hấp phát sinh do hoạt động khai khoáng.
  • Hệ thống hóa các văn bản quản lý nhà nước của huyện Thạch Hà từ năm 2012 đến 2014 và đề xuất 4 nhóm giải pháp toàn diện, có tính khả thi đối với công tác bảo vệ môi trường mỏ ở cấp huyện.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Theo tự nhận định của tác giả trong phần phương pháp và nội dung nghiên cứu:

  • Hạn chế: Quá trình điều tra thực địa gặp khó khăn do thời gian tiếp xúc người dân không ổn định (phần lớn là nông dân); nhận định của người dân mang tính định tính, chủ quan; nguồn lực nghiên cứu và kinh nghiệm thực tế còn hạn chế; phạm vi khảo sát mới chỉ tập trung tại 2 thôn (Nam Hải và Vĩnh Tây) thuộc 2 xã đại diện.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần mở rộng phạm vi không gian điều tra đến các điểm mỏ khoáng sản khác trên toàn huyện Thạch Hà (như mỏ sắt Thạch Khê, mỏ titan ven biển, sét gạch ngói); triển khai lấy mẫu phân tích trong phòng thí nghiệm đối với các chỉ tiêu hóa lý của nước mặt, nước ngầm và đất xung quanh các khu mỏ để có căn cứ định lượng chuyên sâu hơn.

Giá trị tham khảo

Công trình là tài liệu tham khảo thiết thực cho:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành Kinh tế Quản lý Tài nguyên và Môi trường, Quản lý Môi trường và Đô thị, Kinh tế Địa phương khi thực hiện các khóa luận, đề tài nghiên cứu về đánh giá tác động môi trường mỏ hoặc kinh tế tài nguyên.
  • Cán bộ quản lý tại Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Thạch Hà, UBND xã Thạch Hải, UBND xã Ngọc Sơn trong việc tham khảo số liệu hiện trạng, rà soát công tác cấp phép, kiểm tra chấp hành pháp luật bảo vệ môi trường và lập quy hoạch khai thác khoáng sản bền vững tại địa phương.

Câu hỏi thường gặp

1. Cuộc điều tra xã hội học trong khóa luận được thực hiện tại đâu và có quy mô mẫu như thế nào?
Khảo sát thực địa được tiến hành vào đầu tháng 4 năm 2015 tại 2 địa bàn: thôn Nam Hải (xã Thạch Hải) và thôn Vĩnh Tây (xã Ngọc Sơn), huyện Thạch Hà. Tổng số mẫu thu thập là 287 hộ gia đình (184 hộ tại thôn Nam Hải trên tổng thể 586 hộ; 103 hộ tại thôn Vĩnh Tây trên tổng thể 372 hộ; tổng thể chung là 958 hộ).

2. Nồng độ bụi phát tán khi nổ mìn tại mỏ đá Nam Giới biến đổi theo khoảng cách như thế nào?
Theo kết quả đo đạc với lượng thuốc nổ 100 kg tại mỏ đá núi Nam Giới: ở khoảng cách 100m hàm lượng bụi đạt $>36,15\text{ mg}/m^3$; 200m đạt $27,74\text{ mg}/m^3$; 500m đạt $17,69\text{ mg}/m^3$; 1.000m đạt $15,00\text{ mg}/m^3$; và tại 1.500m giảm xuống $7,44\text{ mg}/m^3$.

3. Khối lượng chất thải rắn phát sinh hàng năm của các doanh nghiệp khai thác tiêu biểu tại Thạch Hà là bao nhiêu?
Công ty CPXL TM Hoàng Dương phát sinh 39.062,6 $m^3$ chất thải rắn (gồm 36.491 $m^3$ đất mặt và 2.571,6 $m^3$ bùn đỏ trên sản lượng 129.237,4 $m^3$); Công ty CP chế biến đá Thạch Hải phát sinh 10.082 $m^3$ chất thải (3.357 $m^3$ đá loại và 6.725 $m^3$ đất thải trên sản lượng 34.217 $m^3$); Công ty CP XD 1 Hà Tĩnh phát sinh 7.940,41 $m^3$ chất thải (5.461,18 $m^3$ đá loại và 2.479,23 $m^3$ đất thải trên sản lượng 67.842 $m^3$).

4. Tác động sức khỏe nào được người dân phản ánh nhiều nhất trong cuộc khảo sát?
Các bệnh lý về đường hô hấp (viêm mũi, viêm xoang, viêm phổi) chiếm tỷ lệ cao nhất với 246 lượt ghi nhận từ 287 hộ dân được hỏi, tiếp theo là ảnh hưởng tâm sinh lý do tiếng ồn (87 phiếu) và các bệnh nghề nghiệp (51 phiếu).

5. Tỷ lệ lựa chọn của người dân giữa mục tiêu phát triển khai thác khoáng sản và bảo vệ môi trường ra sao?
Trong tổng số 287 phiếu: có 112 phiếu (chiếm tỷ lệ cao nhất) lựa chọn ưu tiên khai thác khoáng sản để phát triển kinh tế và tạo việc làm; 100 phiếu lựa chọn ưu tiên bảo vệ môi trường và hạn chế khai thác; 75 phiếu lựa chọn phương án kết hợp khai thác đi đôi với quản lý và bảo vệ môi trường.

Kết luận

Chuyên đề tốt nghiệp của sinh viên Ngô Văn Giao đã phân tích có hệ thống thực trạng và mức độ ảnh hưởng của hoạt động khai thác đá xây dựng và đất sỏi đỏ tới các thành phần môi trường đất, nước, không khí và cảnh quan sinh thái tại huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Dữ liệu thực nghiệm kết hợp giữa số liệu đo đạc kỹ thuật và kết quả điều tra xã hội học 287 hộ dân đã phản ánh chân thực những mâu thuẫn giữa lợi ích kinh tế trước mắt và áp lực ô nhiễm môi trường, sức khỏe cộng đồng. Các nhóm giải pháp về quản lý nhà nước, công nghệ kỹ thuật, an toàn lao động và hoàn nguyên cảnh quan được đề xuất có giá trị thực tiễn cao đối với công tác quản lý tài nguyên và môi trường tại địa phương.