Tổng quan nghiên cứu
Việt Nam sở hữu nguồn tài nguyên khoáng sản đá biến chất vô cùng phong phú với tổng trữ lượng đá hoa ước tính đạt khoảng 390 triệu m3, trong đó các mỏ đá vôi trắng chất lượng cao phân bố tập trung chủ yếu tại khu vực miền Tây tỉnh Nghệ An. Tại xã Tân Xuân, huyện Tân Kỳ, hoạt động khai thác đá vôi trắng làm nguyên liệu sản xuất đá ốp lát và bột đá siêu mịn đang diễn ra sôi động với quy mô công nghiệp, đạt tổng công suất khai thác lớn nhất lên tới 160.000 m3/năm. Tuy nhiên, hoạt động khai thác lộ thiên quy mô lớn đi kèm khối lượng đất đá thải khổng lồ khoảng 79.840 m3/năm đã và đang tạo ra áp lực nặng nề lên môi trường sinh thái, làm biến dạng địa hình karst tự nhiên và tác động tiêu cực đến sinh kế của cộng đồng dân cư xung quanh.
Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là nhận diện, lượng hóa và đánh giá toàn diện các tác động môi trường chính phát sinh từ chu trình khai thác mỏ; đồng thời xây dựng hệ thống giải pháp giảm thiểu ô nhiễm và thiết lập phương án cải tạo, phục hồi môi trường sau khai thác phù hợp với điều kiện địa chất, kinh tế - xã hội địa phương. Phạm vi không gian của đề tài tập trung tại khai trường mỏ đá vôi trắng và khu vực dân cư tiếp nhận tại xã Tân Xuân, với chuỗi dữ liệu thực nghiệm được thu thập liên tục từ tháng 5/2016 đến tháng 6/2017.
Ý nghĩa thực tiễn của công trình nghiên cứu được xác lập thông qua các mục tiêu kiểm soát cụ thể: định hướng giảm thiểu trên 85% tải lượng bụi phát tán ra môi trường xung quanh, xử lý và tuần hoàn 100% lượng nước thải sản xuất đạt quy chuẩn xả thải, đồng thời trả lại độ che phủ thực vật trên 70% diện tích bãi thải sau khi đóng cửa mỏ.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp của hai nền tảng lý thuyết chủ đạo: Lý thuyết Đánh giá tác động môi trường toàn diện chu trình mỏ và Khung lý thuyết phục hồi sinh thái cảnh quan sau khai khoáng. Mô hình nghiên cứu vận hành theo chuỗi tương tác đa chiều giữa các hoạt động khai thác lộ thiên (khoan, nổ mìn, cưa cắt dây kim cương, xúc bốc, vận tải, nghiền sàng) và các thành phần môi trường tiếp nhận (không khí, nước mặt, đất, hệ sinh thái và sức khỏe con người).
Hệ thống nghiên cứu làm rõ các khái niệm chuyên ngành then chốt bao gồm: khai thác mỏ lộ thiên giật tầng, tải lượng ô nhiễm phát tán, nước chảy tràn mỏ chứa bột đá lơ lửng, địa hình karst nhiệt đới hòa tan và phương án cải tạo phục hồi môi trường sau đóng cửa mỏ. Sự kết hợp này cho phép nhận diện chính xác nguồn phát thải ở từng công đoạn công nghệ và dự báo chính xác các rủi ro sạt trượt, bồi lắng hạ lưu.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu thiết lập hệ thống quan trắc thực địa gồm 13 vị trí đại diện cho toàn bộ các khâu sản xuất và vùng đệm môi trường, được khảo sát qua 02 đợt đo đạc tương ứng với 2 mùa khí hậu đặc trưng: đợt 1 vào mùa mưa (ngày 15/8/2016) và đợt 2 vào mùa khô (ngày 13/12/2016). Cỡ mẫu quan trắc bao gồm 07 mẫu không khí (02 mẫu không khí xung quanh ký hiệu KK6, KK7 tại thôn Xuân Yên cách mỏ 900m và 05 mẫu môi trường lao động ký hiệu KK1 đến KK5 tại các điểm khoan, cưa cắt, tuyến đường nội mỏ, bãi thải và xưởng sơ chế), 02 mẫu nước mặt (NM1, NM2 tại các hồ lắng bãi tập kết và bãi thải), 02 mẫu nước thải (NT1 trước xử lý và NT2 sau xử lý tại xưởng sơ chế), cùng 02 mẫu đất (Đ1 tại chân bãi thải và Đ2 tại đất canh tác lân cận).
Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được lựa chọn nhằm bám sát các điểm nóng có nguy cơ phát thải cao nhất và các thụ thể môi trường nhạy cảm nhất. Các mẫu môi trường được thu thập, bảo quản và phân tích trong phòng thí nghiệm theo các Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) và phương pháp chuẩn quốc tế EPA (như TCVN 5067:1995 đối với bụi lơ lửng, TCVN 6625:2000 đối với tổng chất rắn lơ lửng TSS, thiết bị WQC-24 đo thông số nhanh). Dữ liệu sau đó được phân tích đối chiếu trực tiếp với các Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia hiện hành bao gồm QCVN 05:2013/BTNMT về chất lượng không khí, QCVN 40:2011/BTNMT về nước thải công nghiệp, QCVN 08-MT:2015/BTNMT về nước mặt và Quyết định 3733/2002/BYT về tiêu chuẩn vệ sinh lao động.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Hoạt động khai thác mỏ với công suất 160.000 m3/năm tiêu thụ lượng lớn nguyên nhiên liệu: 10.240 kg thuốc nổ ANFO/năm, 28.841 lít dầu diezel/năm cho máy gạt và máy phát điện, cùng 482.559 kWh điện năng. Phân tích dữ liệu không khí cho thấy nồng độ bụi tổng số tại các vị trí sản xuất trực tiếp như vị trí khoan nổ (KK1) và đường vận chuyển đất đá thải (KK4) tăng đột biến vào mùa khô, vượt quy chuẩn vệ sinh lao động cho phép. Đáng chú ý, nồng độ bụi lơ lửng đo được tại khu dân cư thôn Xuân Yên (KK6, KK7) trong mùa khô cao hơn mùa mưa từ 35% đến 50%, do lượng gió mùa và hoạt động của 6 ô tô tự đổ trọng tải 15 tấn hoạt động liên tục trên tuyến đường cấp phối.
Về môi trường nước, mẫu nước thải sản xuất chưa qua xử lý (NT1) tại xưởng sơ chế ghi nhận hàm lượng chất rắn lơ lửng (TSS) vượt quy chuẩn QCVN 40:2011/BTNMT từ 3,2 đến 4,5 lần do chứa lượng lớn mạt đá mịn phát sinh từ quá trình mài gọt, cưa xẻ. Tuy nhiên, sau khi đi qua hệ thống lắng lọc tự nhiên (NT2), hàm lượng TSS giảm hơn 80%, chứng minh tính khả thi của việc xử lý lắng sơ bộ. Đối với chất thải rắn, khối lượng đất đá thải 79.840 m3/năm chiếm tỷ lệ tới 49,9% tổng khối lượng bóc xúc hàng năm, tạo ra bãi thải cao tiềm ẩn nguy cơ xói mòn và sạt lở rất lớn, đặc biệt trong các tháng đỉnh điểm mùa mưa như tháng 10 với lượng mưa trung bình lên tới 391 mm/tháng.
Thảo luận kết quả
Cơ chế gây ô nhiễm không khí và tiếng ồn xuất phát trực tiếp từ các khâu bạt ngọn, nổ mìn tơi sơ bộ với định mức 0,20 kg thuốc nổ/m3 đá và quá trình nghiền nhỏ qua 02 máy đập hàm kích thước 1200x900 mm. Dù công nghệ cưa cắt dây kim cương sử dụng túi hydro tạo áp suất 50 barơ đã giúp giảm thiểu đáng kể rung chấn và khói bụi so với phương pháp nổ mìn truyền thống, nhưng lại làm phát sinh lượng bùn thải đá vôi hòa tan trong 11.925 m3 nước cấp mỗi năm.
So sánh với các nghiên cứu khai thác khoáng sản tương tự tại khu vực Quỳ Hợp hay Hà Nam, mức độ ảnh hưởng của ô nhiễm bụi tại xã Tân Xuân được giảm tải một phần nhờ cấu trúc thung lũng karst che chắn tự nhiên; tuy nhiên nguy cơ bột đá bồi lấp hệ thống thủy văn suối Hao (dài 28 km) và suối Lội (dài 18 km) lại cao hơn đáng kể do độ dốc sườn đồi từ 20 đến 30 độ. Các dữ liệu này phản ánh rõ nét mối liên hệ giữa thời tiết và tải lượng phát thải, vốn có thể được hệ thống hóa trực quan thông qua bảng ma trận biến thiên nồng độ theo mùa và biểu đồ đường thể hiện hiệu suất phân tách chất rắn lơ lửng theo thời gian lắng.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên kết quả định lượng tải lượng ô nhiễm, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp kỹ thuật và quản trị môi trường đồng bộ:
- Lắp đặt hệ thống phun sương dập bụi tự động và che chắn kín: Doanh nghiệp khai thác cần trang bị giàn phun sương áp lực cao tại 02 máy đập hàm 1200x900 mm, khu vực xưởng sơ chế và duy trì 02 xe bồn tưới nước mặt đường chuyên dụng với tần suất 4 lần/ngày trong mùa khô; mục tiêu giảm từ 80% đến 90% lượng bụi lơ lửng phát tán ra không gian xung quanh; mốc thời gian hoàn thành trong vòng 3 tháng đầu quý I.
- Xây dựng cụm hồ lắng bậc thang và tuần hoàn nước thải sản xuất: Đơn vị vận hành mỏ phối hợp cùng bộ phận an toàn môi trường tiến hành nạo vét, kiên cố hóa 02 hồ lắng bậc thang thể tích tối thiểu 500 m3 tại bãi tập kết và chân bãi thải; áp dụng quy trình lắng kết hợp keo tụ tự nhiên để tái tuần hoàn 100% lượng nước cưa cắt đá (đáp ứng định mức 11.925 m3/năm), tuyệt đối không xả nước đục ra suối Hao; thời gian triển khai trong vòng 6 tháng.
- Cải tạo giật cấp bờ moong và phục hồi sinh thái thảm thực vật bãi thải: Tiến hành cắt tầng bạt dốc bãi thải 79.840 m3/năm với góc nghiêng dưới 30 độ, xây dựng bờ kè rọ đá chân bãi thải chống sạt lở mùa mưa; thực hiện phủ đất màu và trồng cây keo tai tượng kết hợp cỏ vetiver với mật độ 2.500 cây/ha để chống xói mòn và hoàn trả cảnh quan tự nhiên; tiến hành định kỳ hàng năm theo từng phân kỳ khai thác cho đến khi đóng cửa mỏ.
- Thiết lập cơ chế giám sát cộng đồng và thực hiện ký quỹ môi trường: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Nghệ An cùng Ủy ban nhân dân huyện Tân Kỳ cần tăng cường thanh tra định kỳ 4 lần/năm (theo quý), bắt buộc mỏ lắp đặt mốc quan trắc ranh giới và công khai kết quả kiểm định chất lượng nước, không khí cho đại diện người dân thôn Xuân Yên giám sát; đồng thời trích lập 100% quỹ ký quỹ cải tạo môi trường theo đúng tiến độ phê duyệt.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nội dung và khung phương pháp của luận văn mang lại giá trị thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng chuyên môn:
- Cơ quan quản lý Nhà nước về Tài nguyên và Môi trường: Cán bộ quản lý tại Sở Tài nguyên và Môi trường, Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện có thể sử dụng dữ liệu 13 điểm quan trắc làm tài liệu tham chiếu tin cậy để thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và giám sát việc thực hiện đề án cải tạo phục hồi môi trường mỏ khoáng sản đá vôi.
- Doanh nghiệp và chủ đầu tư dự án khai thác mỏ: Ban lãnh đạo và giám đốc điều hành mỏ có thể ứng dụng trực tiếp quy trình công nghệ cưa cắt dây kim cương kết hợp túi hydro và mô hình hồ lắng tuần hoàn nhằm tối ưu hóa chi phí vận hành, giảm thiểu tiêu hao 10.240 kg thuốc nổ/năm và ngăn ngừa rủi ro pháp lý về môi trường.
- Kỹ sư môi trường và chuyên gia tư vấn ĐTM: Đội ngũ tư vấn kỹ thuật có thể tham khảo phương pháp tính toán tải lượng ô nhiễm từ máy móc thiết bị (6 xe tải 15 tấn, máy khoan BK-5M, máy nén khí) và thiết kế hệ thống tiêu thoát nước mưa chống xói mòn sườn karst.
- Học viên cao học và nhà nghiên cứu chuyên ngành Khoa học Môi trường, Kỹ thuật Mỏ: Cung cấp case study thực tế chuẩn mực về phương pháp luận kết hợp giữa khảo sát thực địa 2 mùa khí hậu, mô hình hóa dữ liệu phát thải và phân tích chi phí - hiệu quả của các công trình bảo vệ môi trường.
Câu hỏi thường gặp
Nguồn phát sinh ô nhiễm lớn nhất từ hoạt động khai thác đá vôi trắng tại xã Tân Xuân là gì? Nguồn phát sinh ô nhiễm lớn nhất được xác định là bụi từ hoạt động khoan nổ (tiêu thụ 10.240 kg thuốc nổ/năm), bốc xúc và vận chuyển 160.000 m3 đá trên đường nội bộ; tiếp theo là lượng chất rắn lơ lửng trong nước thải cưa xẻ mài gọt vượt quy chuẩn từ 3,2 đến 4,5 lần nếu không qua xử lý lắng lọc.
Công nghệ cưa cắt đá khối bằng dây kim cương kết hợp túi hydro mang lại lợi ích môi trường như thế nào? Công nghệ này sử dụng túi khí giãn nở và áp lực nước từ 0 đến 50 barơ giúp tách khối đá nguyên khối 250 m3 mà không gây rung chấn nứt vỡ địa tầng, giảm trên 70% lượng khói bụi và khí độc SO2, NOx phát sinh so với phương pháp nổ mìn phá khối truyền thống.
Lượng đất đá thải gần 80.000 m3/năm được xử lý ra sao để tránh nguy cơ sạt lở trong mùa mưa? Đất đá thải (khoảng 79.840 m3/năm) được phân loại để tái sử dụng làm vật liệu san lấp mặt bằng sân công nghiệp và đắp đường nội mỏ; phần còn lại được vận chuyển về bãi thải chuyên dụng, đổ thải giật cấp, đầm nén cơ giới và xây dựng rãnh thoát lũ chân bãi thải nhằm chống chịu lượng mưa lớn 391 mm/tháng.
Nước thải từ quá trình sơ chế đá có thể tái sử dụng tuần hoàn hoàn toàn được không? Có thể tái sử dụng hoàn toàn. Nước thải chứa bột đá mịn sau khi dẫn qua hệ thống hồ lắng bậc thang dung tích 500 m3 sẽ loại bỏ trên 80% hàm lượng chất rắn lơ lửng (TSS), đáp ứng đủ tiêu chuẩn cấp ngược lại cho công đoạn làm mát lưỡi cưa và tưới ẩm dập bụi đường nội bộ.
Phương án cải tạo và phục hồi môi trường sau khai thác cần ưu tiên thực hiện những hạng mục nào? Phương án ưu tiên gồm: bạt thoải góc dốc moong khai thác về trạng thái an toàn dưới 30 độ, cải tạo đáy moong thành hồ chứa nước sinh thái phục vụ nông nghiệp, san gạt phủ lớp đất màu dày tối thiểu 0,3m trên bãi thải và trồng phục hồi 2.500 cây keo/ha kết hợp thảm cỏ chống xói mòn.
Kết luận
- Luận văn đã phân tích toàn diện hiện trạng công nghệ và lượng hóa chính xác các nguồn thải từ mỏ đá vôi trắng công suất 160.000 m3/năm tại xã Tân Xuân, huyện Tân Kỳ.
- Nhận diện 3 yếu tố tác động môi trường trọng yếu: ô nhiễm bụi phát tán theo mùa, nước thải cưa cắt chứa hàm lượng chất rắn lơ lửng cao và nguy cơ trượt lở từ 79.840 m3 đất đá thải/năm.
- Dữ liệu thực nghiệm qua 13 vị trí quan trắc trong 2 mùa mưa - khô cung cấp cơ sở khoa học tin cậy để đánh giá mức độ suy giảm chất lượng không khí, đất và nước mặt xung quanh mỏ.
- Xác lập gói giải pháp kỹ thuật khả thi gồm mô hình hồ lắng tuần hoàn nước thải cưa xẻ và quy trình giật cấp, phủ xanh bãi thải thích ứng với địa hình karst.
- Đóng góp luận cứ thực tiễn quan trọng phục vụ công tác quy hoạch, cấp phép và thanh tra môi trường mỏ khoáng sản vật liệu xây dựng tại tỉnh Nghệ An.
Các cơ quan quản lý và doanh nghiệp khai khoáng cần khẩn trương áp dụng ngay lộ trình kiểm soát phát thải và triển khai phương án cải tạo phục hồi môi trường định kỳ, nhằm bảo đảm sự hài hòa giữa phát triển kinh tế công nghiệp và gìn giữ hệ sinh thái bền vững cho địa phương.