Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Khai thác khoáng sản trong chiến lược tăng trưởng xanh ở Việt Nam" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Đình Hòa tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của Nguyễn Cảnh Nam, bảo vệ năm 2016 thuộc chuyên ngành Kinh tế phát triển (mã số: 62 31 01 05).
Về tính cấp thiết, tài nguyên thiên nhiên và khoáng sản là yếu tố đầu vào của sản xuất, gắn liền với lợi thế so sánh của quốc gia. Việt Nam có tiềm năng khoáng sản với hơn 5.000 mỏ và điểm mỏ của hơn 60 loại khoáng sản. Ngành công nghiệp khai khoáng thời gian qua đã có những đóng góp cho tăng trưởng GDP, thu ngân sách nhà nước và giải quyết việc làm. Tuy nhiên, hoạt động này đang bộc lộ nhiều hạn chế đối với mục tiêu phát triển bền vững và tăng trưởng xanh. Thực trạng khai thác diễn ra ồ ạt, hiệu quả sử dụng tài nguyên thấp, tỷ lệ tổn thất cao khiến nhiều loại tài nguyên khoáng sản có nguy cơ bước vào thời kỳ cạn kiệt. Công tác cấp phép khai thác thiếu hợp lý, xuất hiện tình trạng chia nhỏ khu vực khai thác. Phần lớn doanh nghiệp khai khoáng có quy mô nhỏ, kỹ thuật lạc hậu, tay nghề lao động hạn chế. Khoáng sản khai thác chủ yếu xuất khẩu ở dạng thô, chưa gắn kết với công nghiệp chế biến sâu trong nước, dẫn đến nguy cơ "chảy máu tài nguyên". Mặt khác, hoạt động khai khoáng thải ra khối lượng lớn đất đá thải, tác động tiêu cực tới môi trường, sinh kế và hạ tầng giao thông dân sinh. Lợi ích từ khai thác có xu hướng nghiêng về phía các doanh nghiệp mỏ, tiềm ẩn nguy cơ hình thành nhóm lợi ích và gây méo mó chính sách, đẩy nền kinh tế đối mặt với bẫy "lời nguyền tài nguyên".
Trong bối cảnh Việt Nam thực hiện tái cơ cấu kinh tế chuyển từ chiều rộng sang chiều sâu, chịu tác động của biến đổi khí hậu và cam kết hội nhập quốc tế, Chính phủ đã ban hành "Chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam giai đoạn 2011-2020" (Quyết định số 432/TTg ngày 12/4/2012) và "Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011-2020 và tầm nhìn đến 2050" (Quyết định số 1393/QĐ-TTg ngày 25/9/2012). Chiến lược tăng trưởng xanh đặt ra ba nhiệm vụ trọng tâm: giảm cường độ phát thải khí nhà kính, xanh hóa sản xuất, và xanh hóa lối sống gắn với tiêu dùng bền vững. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: các nghiên cứu hiện có tại Việt Nam chủ yếu giải quyết bài toán kỹ thuật mỏ đơn thuần hoặc đo lường đóng góp qua sản lượng xuất khẩu; chưa đánh giá đầy đủ tác động nhiều mặt dựa trên tổng chi phí - lợi ích, chi phí cơ hội và chi phí bồi hoàn tài nguyên; nguyên tắc cốt lõi của phát triển bền vững chưa được tích hợp trong hoạch định chính sách khoáng sản dài hạn; đặc biệt chưa có hệ thống tiêu chí định lượng và phương pháp tính toán chỉ số tổng hợp để theo dõi xu hướng phát triển bền vững của ngành khai khoáng theo chuỗi thời gian.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là làm rõ cơ sở lý luận về khai thác khoáng sản trong tăng trưởng xanh; đánh giá thực trạng khai thác khoáng sản ở Việt Nam theo các tiêu chí tăng trưởng xanh; từ đó đề xuất quan điểm, định hướng và giải pháp cho hoạt động khai thác khoáng sản trong quá trình thực hiện chiến lược tăng trưởng xanh.
Để đạt được mục tiêu trên, luận án xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận và thực tiễn về khai thác khoáng sản trong tăng trưởng xanh.
- Phân tích, đánh giá thực trạng khai thác khoáng sản trong chiến lược tăng trưởng xanh ở Việt Nam.
- Đề xuất quan điểm, định hướng và giải pháp về khai thác khoáng sản trong quá trình thực hiện chiến lược tăng trưởng xanh ở Việt Nam.
Luận án tập trung giải đáp hai câu hỏi nghiên cứu chính:
- Khai thác khoáng sản ở Việt Nam đã theo hướng tăng trưởng xanh chưa? (Câu hỏi này hướng đến việc xác định xu hướng diễn biến tốt lên hay xấu đi theo thời gian thay vì đưa ra kết luận xanh hay chưa xanh tuyệt đối do tính chất đánh đổi giữa các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường).
- Việc khai thác khoáng sản (duy trì theo phương thức khai thác như hiện nay) ảnh hưởng gì và như thế nào tới việc thực hiện chiến lược tăng trưởng xanh?
Đối tượng nghiên cứu của luận án là hiệu quả kinh tế, tác động đến xã hội và môi trường của khai thác khoáng sản trong quá trình thực hiện chiến lược tăng trưởng xanh ở Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Nghiên cứu tập trung vào hai chiều cạnh gồm khai thác khoáng sản theo hướng tăng trưởng xanh (nội bộ ngành khai khoáng) và đóng góp của khai khoáng vào kết quả chiến lược tăng trưởng xanh quốc gia, trọng tâm là các vấn đề kinh tế, xã hội, môi trường. Luận án không đi sâu vào khía cạnh kỹ thuật công nghệ xanh hóa mỏ thuần túy và không nghiên cứu sâu chuỗi sử dụng khoáng sản sau chế biến.
- Về không gian: Hoạt động khai thác khoáng sản trên lãnh thổ Việt Nam.
- Về thời gian: Tập trung nghiên cứu dữ liệu và chính sách trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2016.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu của luận án được phân chia thành hai nhóm công trình quốc tế và trong nước:
Các nghiên cứu quốc tế:
- Mối quan hệ giữa vốn tài nguyên và tăng trưởng kinh tế: Bắt nguồn từ việc mở rộng mô hình tân cổ điển của Solow (1956), Stiglitz (1974) và Dasgupta & Heal (1979) đã đưa vốn tài nguyên vào hàm sản xuất để đánh giá độ co giãn và khả năng thay thế giữa các yếu tố đầu vào. Gylfason & Zoega (2001), Cai và cộng sự (2011), Sturgill & Zuleta (2013) sử dụng hàm sản xuất Cobb-Douglas mở rộng có biến vốn tài nguyên để kiểm định tác động tới đầu tư và năng suất nhân tố tổng hợp (TFP). Báo cáo của Ngân hàng Thế giới (2008) về đo lường của cải các quốc gia thế kỷ 21 khẳng định tài nguyên không tái tạo là cấu phần trọng yếu của cải quốc gia.
- Luận điểm "lời nguyền tài nguyên": Sachs & Warner (1995, 1999, 2001) chỉ ra nghịch lý các nước giàu tài nguyên có xu hướng tăng trưởng chậm hơn do biến động vĩ mô và suy giảm năng lực cạnh tranh ("căn bệnh Hà Lan"). Crowson (2009) chứng minh mối liên hệ giữa xuất khẩu khoáng sản và tăng trưởng GDP. Gylfason (2001) cùng Douangngeune và cộng sự (2005) lập luận việc phụ thuộc tài nguyên làm suy giảm đầu tư công cho giáo dục. Ngược lại, một số nghiên cứu thực nghiệm của Philippot (2010), Ahrend (2002), Brunnschweiler (2010) cho thấy tài nguyên khoáng sản đóng góp tích cực cho tăng trưởng tại các nền kinh tế chuyển đổi và Liên bang Nga.
- Phân chia lợi ích trong khai khoáng: Ngân hàng Thế giới (2011) thí điểm khung lý thuyết phân chia lợi ích tại Ghana và Papua New Guinea; Viện CMI (2012) nghiên cứu tại Tanzania; Owens (2011) phân tích quy định trích tỷ lệ lợi nhuận cho cộng đồng tại Australia; Morgandi (2010) khảo sát phân bổ nguồn thu khoáng sản giữa các cấp chính quyền tại bảy quốc gia giàu tài nguyên.
- Tăng trưởng xanh và công nghiệp xanh: Khái niệm và khung chiến lược được phát triển bởi UNEP (2011a), UNEP & ILO (2008) về việc làm xanh, UNESCAP (2012), OECD (2011), Reilly (2012), UNIDO (2010, 2011a, 2011b, 2012) và Viện SERI (2009, 2010, 2011, 2012) về năng suất tài nguyên. Trái lại, Michaels & Murphy (2009), Morris và cộng sự (2011), Ngân hàng Thế giới (2012) và Copeland (2012) đặt ra các hoài nghi về rủi ro của việc gia tăng thuế phí môi trường khiến doanh nghiệp dịch chuyển địa điểm sản xuất.
- Phương pháp tính chỉ số phát triển bền vững (SDI): Fernández & Sánchez (2009) sử dụng chuẩn hóa Z-score; Singh (2007) và Satish và cộng sự (2013) dùng thang đo Likert và so sánh cặp đôi; Barrera-Roldán & Saldívar-Valdés (2002) áp dụng phương pháp chuẩn hóa Max-Min tương tự chỉ số HDI.
Các nghiên cứu trong nước:
- Tiềm năng, trữ lượng và kỹ thuật: Lê Văn Thành (2004), Trần Văn Trị (2000), Dương Hồng Phi & Doãn Duy Cầm (1998) tập trung vào phân bố địa chất; Hoàng Văn Khanh (2008) chỉ rõ thực trạng lãng phí và tổn thất tài nguyên trong khai thác.
- Thể chế, chính sách và tài chính: Lại Văn Mạnh (2016) nghiên cứu chính sách tài chính trong quản lý khoáng sản bền vững; Hà Tất Thắng (2015) phân tích an toàn vệ sinh lao động trong khai thác đá; Phạm Thủy Chung (2012) rà soát pháp luật khai thác chế biến; Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2012), VCCI & Viện Tư vấn phát triển (2011), Viện Tư vấn phát triển (2010), Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009), Ngân hàng Thế giới (2010) và Nguyễn Thị Mai Hương (2008) đánh giá thực trạng thu thuế tài nguyên, thất thoát nguồn thu và tính khả thi của Luật Khoáng sản.
- Môi trường, xã hội và tăng trưởng xanh: Trung tâm Nghiên cứu giới và gia đình (2013) phân tích tác động khai khoáng theo giới; Trần Thanh Thủy và cộng sự (2012) khảo sát tác động môi trường và sinh kế dân sinh; Đặng Trung Thuận (2010, 2012) cảnh báo sa mạc hóa từ khai thác titan miền Trung và rủi ro bùn đỏ từ bôxit Tây Nguyên; Đào Trọng Hưng và cộng sự (2010) nghiên cứu ô nhiễm than Quảng Ninh; Nguyễn Danh Sơn (2009) đo lường chất thải rắn tại 8 tỉnh phía Bắc; Trung tâm Y tế dự phòng Bình Định (2009) khảo sát môi trường lao động mỏ; Nguyễn Cảnh Nam, Nguyễn Quang Tuyên và Đinh Văn Sơn (2010) xây dựng tiêu chí phát triển bền vững cho doanh nghiệp mỏ; Trần Ngọc Ngoạn và cộng sự (2016), Nguyễn Văn Tài (2011), Nguyễn Thế Chinh (2011), Trung Đức (2012), Bùi Tất Thắng (2012), Nguyễn Trọng Hoài (2012), Lê Anh Tuấn & Phương Hoàng Kim (2012), UNIDO (2011, 2012), Vũ Tuấn Anh và cộng sự (2015), UNDP (2012, 2014) và CIEM (2012) bàn về kinh tế xanh và chính sách tài khóa nhiên liệu hóa thạch.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Các công trình trong nước chủ yếu tiếp cận theo từng vấn đề riêng lẻ, chưa đặt hoạt động khai khoáng vào mô hình tái cấu trúc kinh tế theo hướng tăng trưởng xanh. Luận án giải quyết khoảng trống về việc thiết lập hệ thống tiêu chí đánh giá toàn diện, xây dựng phương pháp tính toán chỉ số phát triển bền vững (SDI) ngành khai khoáng theo chuỗi thời gian, và làm rõ cơ chế tái đầu tư nguồn thu khoáng sản vào vốn con người và vốn tự nhiên nhằm tránh bẫy "lời nguyền tài nguyên".
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên các nền tảng lý thuyết kinh tế học tài nguyên và tăng trưởng:
- Khái niệm về khoáng sản và khai thác khoáng sản: Áp dụng khái niệm theo Luật Khoáng sản năm 2010 (Điều 2), quy định khoáng sản bao gồm cả khoáng vật ở bãi thải mỏ và vùng chưa thể khai thác dưới biển sâu. Về hoạt động khai khoáng, luận án tiếp cận theo định nghĩa chuỗi của Ngân hàng Thế giới (2009a) và Paul Collier (Đại học Oxford), gồm các công đoạn: quy hoạch, cấp hợp đồng/giấy phép, giám sát quá trình khai thác, thu ngân sách, quản lý phân bổ nguồn thu và thực hiện các dự án phục vụ phát triển bền vững.
- Quan niệm về tăng trưởng xanh: Tích hợp định nghĩa của UNEP (2011a), Ngân hàng Thế giới (2012), UNIDO (2012) và Quyết định số 1393/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, nhấn mạnh tăng trưởng xanh là phương thức tăng trưởng dựa trên nâng cao năng suất các yếu tố đầu vào, giảm phát thải khí nhà kính và hướng tới công bằng xã hội.
- Lý thuyết kinh tế về tài nguyên không tái tạo:
- Quy tắc Hotelling (1931): Xác định mức khai thác tối ưu khi tốc độ tăng giá tài nguyên ròng bằng tỷ lệ chiết khấu, phản ánh tính khan hiếm theo thời gian để điều tiết sản lượng khai thác.
- Quy tắc Hartwick (1977) dựa trên mô hình Solow (1974) và phát triển bởi Hamilton (1995): Mức tiêu dùng cố định liên thế hệ có thể được duy trì nếu toàn bộ lợi tức (địa tô kinh tế) từ khai thác tài nguyên không tái tạo được tái đầu tư vào vốn vật chất và vốn con người (giáo dục, y tế).
- Lý thuyết "Lời nguyền tài nguyên" và "Căn bệnh Hà Lan": Giải thích nguy cơ suy giảm sức cạnh tranh công nghiệp do biến động tỷ giá hối đoái thực, sự chuyển dịch méo mó nguồn lực và hiện tượng tìm kiếm đặc lợi (rent-seeking).
- Cơ sở quản trị khai khoáng và công cụ kinh tế: Cơ chế quản trị giữa ba chủ thể (Nhà nước, doanh nghiệp, cộng đồng địa phương) và sự kết hợp giữa công cụ mệnh lệnh kiểm soát với các công cụ kinh tế (thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường, tiền cấp quyền khai thác, quỹ ký quỹ phục hồi môi trường).
Phương pháp nghiên cứu thực tế của luận án kết hợp định tính và định lượng:
- Phương pháp định tính:
- Phương pháp so sánh: So sánh chuỗi thời gian các giai đoạn chính sách và so sánh chéo giữa các chỉ tiêu kinh tế, xã hội, môi trường của tăng trưởng xanh.
- Phương pháp phân tích: Phân tích thống kê số liệu kinh tế - xã hội và điều tra doanh nghiệp từ năm 2000 đến năm 2016; phân tích chính sách về tính đồng bộ pháp luật, tính khả thi khi khai thác hầm lò xuống sâu làm tăng chi phí nhưng thuế tài nguyên tăng, tính phù hợp của phân cấp quản lý cho cấp huyện.
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tiễn: Thực hiện khảo sát thực tế, phỏng vấn sâu đại diện chính quyền 3 cấp (tỉnh, huyện, xã), doanh nghiệp và người dân tại: khai thác titan ở tỉnh Bình Định; khai thác quặng sắt và volfram ở tỉnh Thái Nguyên; khai thác bôxit tại Tân Rai (Lâm Đồng) và Nhân Cơ (Đắk Nông).
- Phương pháp tổng hợp: Khái quát hóa luận điểm từ các dữ liệu định tính và định lượng.
- Phương pháp định lượng:
- Tính chỉ số Herfindahl-Hirschman (HHI): Đo lường mức độ tập trung và thu hút của ngành công nghiệp khai khoáng đối với các địa phương có mỏ.
- Xây dựng và tính toán chỉ số phát triển bền vững (SDI): Chuẩn hóa dữ liệu các chỉ tiêu thành phần kinh tế, xã hội, môi trường theo chuỗi thời gian để xác định xu hướng tăng trưởng xanh của ngành khai khoáng Việt Nam.
- Mô hình kinh tế lượng: Ước lượng mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng khai thác khoáng sản và năng suất nhân tố tổng hợp (TFP).
Nguồn tư liệu và dữ liệu:
- Dữ liệu thứ cấp: Các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược của Đảng và Nhà nước; số liệu điều tra doanh nghiệp hàng năm của Tổng cục Thống kê (giai đoạn 2000-2014/2016); niên giám thống kê; báo cáo của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV), Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Tài chính.
- Dữ liệu sơ cấp: Biên bản phỏng vấn sâu cán bộ quản lý địa phương, phiếu khảo sát và thông tin phỏng vấn trực tiếp doanh nghiệp, người dân tại Bình Định, Thái Nguyên, Lâm Đồng, Đắk Nông.
| Nhóm phương pháp |
Công cụ / Kỹ thuật cụ thể |
Mục đích và phạm vi áp dụng |
Nguồn dữ liệu sử dụng |
| Định tính |
So sánh chuỗi thời gian và so sánh chéo |
Đánh giá chuyển biến chính sách khoáng sản và hệ quả theo tiêu chí tăng trưởng xanh |
Văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo chính sách giai đoạn 2000-2016 |
|
Phân tích chính sách |
Đánh giá tính đồng bộ, khả thi của thuế tài nguyên, phân cấp quản lý cấp huyện |
Luật Khoáng sản, các Nghị định, Thông tư tài chính |
|
Khảo sát thực địa và phỏng vấn sâu |
Khảo sát tác động môi trường, sinh kế và bất cập chính sách tại 4 địa bàn trọng điểm |
Khảo sát tại Bình Định (titan), Thái Nguyên (sắt, volfram), Lâm Đồng và Đắk Nông (bôxit) |
| Định lượng |
Chỉ số tập trung HHI |
Đo lường mức độ tập trung không gian và thu hút đầu tư của ngành khai khoáng |
Số liệu điều tra doanh nghiệp Tổng cục Thống kê |
|
Chỉ số phát triển bền vững (SDI) |
Đánh giá xu hướng tổng hợp ngành khai khoáng theo 3 trụ cột (kinh tế, xã hội, môi trường) |
Chuỗi số liệu thống kê ngành khai khoáng Việt Nam |
|
Mô hình kinh tế lượng hồi quy |
Đánh giá tương quan giữa tốc độ tăng trưởng khai thác và tăng trưởng TFP |
Dữ liệu vĩ mô và điều tra doanh nghiệp giai đoạn nghiên cứu |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong và ngoài nước thành các nhóm chủ đề cụ thể:
- Về nghiên cứu quốc tế: Điểm lại các công trình về vai trò của vốn tài nguyên trong tăng trưởng kinh tế (Stiglitz 1974; Dasgupta & Heal 1979; Gylfason & Zoega 2001; Cai và cs 2011; Sturgill & Zuleta 2013; Báo cáo Ngân hàng Thế giới 2008); các công trình nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm về "lời nguyền tài nguyên" (Sachs & Warner 1995, 1999, 2001; Crowson 2009; Gylfason 2001; Philippot 2010; Ahrend 2002); các nghiên cứu phân chia lợi ích mỏ (World Bank 2011; CMI 2012; Owens 2011; Morgandi 2010); tài liệu về tăng trưởng xanh và công nghiệp xanh (UNEP 2011a; UNESCAP 2012; OECD 2011; UNIDO 2010, 2011, 2012; SERI 2009-2012) cùng các nghiên cứu phản biện rủi ro chính sách xanh (Michaels & Murphy 2009; World Bank 2012; Copeland 2012); các phương pháp tính toán chỉ số phát triển bền vững SDI (Fernández & Sánchez 2009; Singh 2007; Satish và cs 2013; Barrera-Roldán & Saldívar-Valdés 2002).
- Về nghiên cứu trong nước: Tổng kết các nghiên cứu trữ lượng kỹ thuật (Lê Văn Thành 2004; Trần Văn Trị 2000; Hoàng Văn Khanh 2008); thể chế chính sách và tài chính (Lại Văn Mạnh 2016; Hà Tất Thắng 2015; VCCI & VIDS 2011; World Bank 2010); tác động môi trường và xã hội của khai khoáng (Trung tâm Nghiên cứu giới và gia đình 2013; Trần Thanh Thủy và cs 2012; Đặng Trung Thuận 2010, 2012; Đào Trọng Hưng và cs 2010; Nguyễn Cảnh Nam và cs 2010); các công trình về tăng trưởng xanh tại Việt Nam (Trần Ngọc Ngoạn và cs 2016; Nguyễn Văn Tài 2011; Nguyễn Thế Chinh 2011; Bùi Tất Thắng 2012; Vũ Tuấn Anh và cs 2015; UNDP 2012, 2014; CIEM 2012).
- Tiểu kết chương khẳng định: Các nghiên cứu trước chưa đưa ra được bộ chỉ tiêu đánh giá tăng trưởng xanh chuyên biệt cho ngành khai khoáng, thiếu việc tính toán chỉ số tổng hợp SDI theo chuỗi thời gian để nhận diện xu hướng phát triển thực tế tại Việt Nam.
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về khai thác khoáng sản trong tăng trưởng xanh
Chương 2 làm rõ các khái niệm, cơ sở lý thuyết và kinh nghiệm quốc tế:
- Luận giải khái niệm khoáng sản theo Luật Khoáng sản 2010 và hoạt động khai khoáng theo chuỗi giá trị 5 công đoạn của Ngân hàng Thế giới (2009a). Phân tích nội hàm tăng trưởng xanh theo UNEP, WB, UNIDO và Quyết định số 1393/QĐ-TTg, chỉ rõ tăng trưởng xanh là phương thức để đạt được phát triển bền vững trên ba trụ cột kinh tế, môi trường, xã hội.
- Trình bày cơ sở lý thuyết kinh tế tài nguyên không tái tạo gồm: Quy tắc khai thác tối ưu Hotelling (1931); Quy tắc Hartwick (1977) về tái đầu tư tiền thu từ tài nguyên vào vốn con người và vốn sản xuất để duy trì phúc lợi liên thế hệ; phân tích nguyên nhân "lời nguyền tài nguyên" qua bốn khía cạnh (căn bệnh Hà Lan, bất ổn vĩ mô, suy giảm đầu tư giáo dục, tham nhũng và tìm kiếm đặc lợi).
- Phân tích cơ sở quản trị khai khoáng (cấp phép minh bạch qua đấu giá, quản trị môi trường, quản trị nguồn thu) và sự kết hợp giữa công cụ kinh tế với pháp luật.
- Xây dựng khung phân tích và hệ thống tiêu chí đánh giá khai thác khoáng sản trên quan điểm tăng trưởng xanh (Bảng 2.1). Trình bày mô hình tách rời tài nguyên và tác động môi trường trong tăng trưởng kinh tế (Hình 2.1). Khái quát kinh nghiệm quốc tế về khai khoáng bền vững và rút ra bài học cho Việt Nam.
Chương 3: Thực trạng khai thác khoáng sản trong chiến lược tăng trưởng xanh ở Việt Nam
Chương 3 trình bày các kết quả đánh giá thực trạng dựa trên hệ thống số liệu thực nghiệm và khảo sát:
- Về khía cạnh kinh tế: Đánh giá đóng góp của công nghiệp khai khoáng vào GDP (Bảng 3.1) và đóng góp vào ngân sách nhà nước (Bảng 3.2). Phân tích tỷ lệ giá trị gia tăng trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp của ngành khai khoáng (Bảng 3.3). Đánh giá xu hướng khai thác giai đoạn 1980-2013 (Hình 3.1), xu hướng năng suất tài nguyên (Hình 3.3). Phân tích tình hình tổn thất than tại các mỏ của Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam (Bảng 3.4), tính toán chỉ số tập trung không gian HHI và EG của ngành (Bảng 3.5), phân tích tương quan giữa tăng trưởng khai thác và tăng trưởng TFP (Hình 3.8). Kết quả cho thấy tăng trưởng khai khoáng chủ yếu dựa vào gia tăng sản lượng thô, năng suất tài nguyên và TFP chưa được cải thiện tương xứng.
- Về khía cạnh môi trường: Hoạt động khai thác làm gia tăng phát thải khí nhà kính (tốc độ tăng khai thác than đi liền với phát thải CO2 thể hiện qua Hình 3.4 và Hình 3.7). Khảo sát tại Bình Định cho thấy khai thác titan phá hủy rừng phòng hộ ven biển, làm gia tăng hiện tượng cát bay và sa mạc hóa; khai thác sắt tại Thái Nguyên tạo lượng đất đá thải lớn; khai thác bôxit tại Tây Nguyên đối mặt với nguy cơ an toàn hồ bùn đỏ. Tình hình chi ngân sách cho sự nghiệp môi trường còn hạn chế so với quy mô tác động (Bảng 3.6).
- Về khía cạnh xã hội: Phân tích số lao động làm việc trong ngành (Hình 3.2), tốc độ tăng trưởng khai thác và tốc độ tăng tiền lương tại các doanh nghiệp (Hình 3.5). Khảo sát thực tế chỉ ra mâu thuẫn trong phân chia lợi ích: người dân địa phương chịu ô nhiễm bụi, tiếng ồn, suy giảm nguồn nước và hỏng đường giao thông nhưng tỷ lệ trích nộp ngân sách phục vụ an sinh tại chỗ còn thấp.
- Đánh giá tổng hợp: Xây dựng và tính toán các chỉ số thành phần kinh tế, xã hội, môi trường và chỉ số SDI tổng hợp ngành công nghiệp khai khoáng Việt Nam (Hình 3.6), chứng minh xu hướng phát triển của ngành thời gian qua chưa đáp ứng đầy đủ các tiêu chí của chiến lược tăng trưởng xanh.
Chương 4: Đề xuất hoàn thiện, đổi mới khai thác khoáng sản trong chiến lược tăng trưởng xanh ở Việt Nam
Chương 4 xây dựng định hướng và nhóm giải pháp chính sách:
- Phân tích bối cảnh quốc tế và trong nước: Cam kết quốc tế về biến đổi khí hậu, hội nhập chuỗi giá trị và thực tế tài nguyên mỏ lộ thiên cạn kiệt, buộc các mỏ phải khai thác hầm lò xuống sâu làm chi phí gia tăng.
- Xác định quan điểm và định hướng: Khai thác khoáng sản phải phục vụ mục tiêu phát triển bền vững quốc gia; gắn khai thác thô với chế biến sâu; vận dụng quy tắc Hartwick để sử dụng nguồn thu khoáng sản đầu tư phát triển vốn con người, hạ tầng và bảo vệ môi trường; đảm bảo hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư địa phương.
- Đề xuất các nhóm giải pháp:
- Nhóm giải pháp hoàn thiện thể chế: Đổi mới quy trình cấp phép khai thác thông qua đấu giá quyền khai thác mỏ công khai thay cho cơ chế xin - cho; rà soát và siết chặt quy hoạch cấp phép mỏ nhỏ lẻ; hoàn thiện phân cấp quản lý khoáng sản phù hợp với năng lực chuyên môn của cán bộ cấp huyện.
- Nhóm giải pháp tài chính và công cụ kinh tế: Cải cách chính sách thuế tài nguyên theo hướng linh hoạt, tính đến yếu tố mỏ khai thác xuống sâu; hoàn thiện biểu phí bảo vệ môi trường; thực hiện nghiêm túc quỹ ký quỹ cải tạo phục hồi môi trường; phân bổ nguồn thu ngân sách từ khoáng sản để tái đầu tư thỏa đáng cho các địa phương nơi có mỏ.
- Nhóm giải pháp công nghệ và quản trị môi trường: Khuyến khích doanh nghiệp đổi mới công nghệ khai thác nhằm giảm tỷ lệ tổn thất than và khoáng sản; kiểm soát chất thải rắn và nước thải mỏ; tăng cường cơ chế giám sát cộng đồng đối với các dự án khoáng sản lớn.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận:
- Luận án hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về khai thác khoáng sản trong chiến lược tăng trưởng xanh: xác định mục tiêu khai thác khoáng sản theo hướng tăng trưởng xanh là tạo ra giá trị gia tăng lớn hơn trên cơ sở tiêu hao ít hơn tài nguyên và giảm thiểu tối đa các tác động tiêu cực đến môi trường tự nhiên.
- Cung cấp luận cứ khoa học cho quá trình hoạch định chính sách nhằm thực hiện sự tách rời (decoupling) giữa tăng trưởng kinh tế và việc khai thác quá mức tài nguyên khoáng sản.
- Vận dụng quy tắc kinh tế Hartwick và Hotelling vào điều kiện thực tiễn quản lý khoáng sản ở Việt Nam: chỉ ra rằng để đảm bảo tính bền vững liên thế hệ, nguồn thu từ tài nguyên không tái tạo cần được trích lập và chuyển hóa thành vốn con người, cơ sở hạ tầng và năng lực phục hồi môi trường.
- Đề xuất phương pháp luận và xây dựng bộ tiêu chí, tính toán chỉ số phát triển bền vững (SDI) ngành khai khoáng theo chuỗi thời gian, tạo công cụ đo lường xu hướng tăng trưởng xanh của ngành.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn và kiến nghị giải pháp:
- Phân tích thực trạng khai khoáng giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2016 bằng hệ thống dữ liệu thống kê doanh nghiệp kết hợp kết quả điều tra thực địa tại Bình Định, Thái Nguyên, Lâm Đồng, Đắk Nông; lượng hóa xu hướng phát triển của ngành thông qua các chỉ số HHI, SDI và tương quan TFP.
- Chỉ ra các điểm nghẽn chính sách: bất cập trong phân cấp cấp phép mỏ cấp huyện, sự thiếu linh hoạt của chính sách thuế tài nguyên đối với mỏ hầm lò xuống sâu, tình trạng tổn thất tài nguyên than cao trong các đơn vị mỏ, và sự bất công bằng trong phân chia lợi ích đối với cộng đồng dân cư địa phương.
- Đề xuất hệ thống giải pháp: thực hiện cấp phép thông qua đấu giá quyền khai thác; tái cấu trúc chính sách tài chính khoáng sản; thành lập cơ chế phân bổ nguồn thu khoáng sản tái đầu tư cho phát triển bền vững địa phương; tăng cường năng lực giám sát môi trường và an toàn lao động.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Luận án tập trung nghiên cứu phương thức khai thác khoáng sản theo hướng tăng trưởng xanh trên ba khía cạnh kinh tế, xã hội, môi trường; không đi sâu phân tích các khía cạnh kỹ thuật khai thác mỏ thuần túy và công nghệ xử lý môi trường chi tiết.
- Phạm vi nghiên cứu tập trung vào công đoạn khai thác và sơ chế gắn với mỏ, chưa đi sâu vào chuỗi giá trị sử dụng khoáng sản sau chế biến sâu và các ngành công nghiệp hạ nguồn.
- Một số chỉ tiêu định lượng trong tính toán chỉ số tổng hợp phụ thuộc vào mức độ sẵn có và tính đồng bộ của số liệu thống kê doanh nghiệp và số liệu thứ cấp của các bộ ngành trong giai đoạn đến năm 2016.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Nghiên cứu sâu về các giải pháp kỹ thuật, công nghệ khai thác sạch và mô hình kinh tế tuần hoàn trong tái chế chất thải mỏ (đất đá thải, bùn quặng).
- Mở rộng đánh giá chuỗi giá trị và tác động của các sản phẩm khoáng sản chế biến sâu trong việc tham gia vào mạng lưới sản xuất toàn cầu trong các giai đoạn tiếp theo.
Giá trị tham khảo
Luận án cung cấp giá trị tham khảo cho các nhóm đối tượng:
- Cơ quan hoạch định chính sách (Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Công Thương và chính quyền địa phương các tỉnh có hoạt động khoáng sản): Tham khảo khung tiêu chí đánh giá tăng trưởng xanh, các khuyến nghị về đấu giá quyền khai thác, cơ chế điều chỉnh thuế tài nguyên phù hợp với độ sâu khai thác, và phương thức phân bổ nguồn thu ngân sách tái đầu tư cho an sinh xã hội tại địa bàn khai thác mỏ.
- Nghiên cứu sinh, giảng viên và các viện nghiên cứu chuyên ngành Kinh tế phát triển, Kinh tế tài nguyên và môi trường: Tham khảo khung phân tích lý thuyết (Hotelling, Hartwick, căn bệnh Hà Lan), phương pháp luận xây dựng chỉ số phát triển bền vững (SDI), tính toán chỉ số tập trung HHI và mô hình kinh tế lượng phân tích tác động khoáng sản tới TFP.
- Các doanh nghiệp khai khoáng (như TKV và các doanh nghiệp khoáng sản địa phương): Tham khảo các chỉ tiêu về tổn thất tài nguyên, chi phí môi trường và định hướng đổi mới công nghệ nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn của chiến lược tăng trưởng xanh.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án tiếp cận khái niệm khai thác khoáng sản theo cấu trúc nào?
Luận án tiếp cận khai thác khoáng sản theo khung phân tích chuỗi giá trị của Ngân hàng Thế giới (2009a) và Paul Collier, gồm 5 công đoạn: quy hoạch; cấp hợp đồng và giấy phép khai thác; giám sát quá trình khai thác (bảo vệ môi trường và giảm thiểu tác động xã hội); thu ngân sách; quản lý, phân bổ nguồn thu và thực hiện các dự án phục vụ phát triển bền vững.
2. Tại sao luận án nhận định khai thác khoáng sản tại Việt Nam có nguy cơ rơi vào "lời nguyền tài nguyên"?
Do hoạt động khai khoáng chủ yếu tập trung xuất khẩu quặng thô, tỷ lệ tổn thất cao; nguồn lợi kinh tế nghiêng lệch về doanh nghiệp mỏ tạo nguy cơ hình thành nhóm lợi ích; chi phí môi trường và xã hội đổ dồn lên cộng đồng địa phương; đồng thời nguồn thu từ khoáng sản chưa được chuyển hóa thành vốn con người (giáo dục, y tế) và hạ tầng thay thế theo nguyên tắc bền vững.
3. Tác giả đã tiến hành khảo sát thực địa tại những địa bàn và loại khoáng sản cụ thể nào?
Tác giả đã khảo sát thực địa và phỏng vấn sâu chính quyền 3 cấp, doanh nghiệp và người dân tại: khai thác titan ở tỉnh Bình Định; khai thác quặng sắt và volfram ở tỉnh Thái Nguyên; khai thác bôxit tại tổ hợp Tân Rai (tỉnh Lâm Đồng) và Nhân Cơ (tỉnh Đắk Nông).
4. Những công cụ định lượng cụ thể nào được sử dụng trong luận án?
Luận án sử dụng: chỉ số Herfindahl-Hirschman (HHI) và chỉ số EG để đo lường mức độ tập trung không gian của ngành; xây dựng và tính toán chuỗi thời gian của chỉ số phát triển bền vững (SDI) ngành khai khoáng; sử dụng mô hình kinh tế lượng hồi quy để phân tích tương quan giữa tăng trưởng khai thác khoáng sản và năng suất nhân tố tổng hợp (TFP).
5. Luận án vận dụng quy tắc Hartwick để đề xuất chính sách gì cho Việt Nam?
Luận án vận dụng quy tắc Hartwick để đề xuất cơ chế quản lý tài chính: toàn bộ hoặc một tỷ lệ thích đáng từ nguồn thu thuế, phí và tiền cấp quyền khai thác khoáng sản phải được Nhà nước tái đầu tư vào vốn con người (giáo dục, đào tạo nghề) và vốn tự nhiên tái tạo, nhằm duy trì nguồn lực tăng trưởng cho thế hệ tương lai khi mỏ khoáng sản cạn kiệt.
Kết luận
Luận án của Nguyễn Đình Hòa làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động khai thác khoáng sản trong bối cảnh thực hiện Chiến lược tăng trưởng xanh tại Việt Nam giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2016. Thông qua việc kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, công trình đã xác lập hệ thống tiêu chí, tính toán chỉ số phát triển bền vững (SDI) và chỉ rõ các hạn chế về kinh tế, xã hội, môi trường của ngành công nghiệp khai khoáng. Các giải pháp do luận án đề xuất cung cấp luận cứ khoa học phục vụ việc hoàn thiện thể chế quản lý, đổi mới chính sách tài chính và chuyển đổi mô hình khai thác khoáng sản theo hướng bền vững.