Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước Ở cấp độ quốc tế, cho đến nay, có nhiều nghiên cứu về thực trạng khai thác và phát triển ngành công nghiệp khai khoáng, trong đó đáng chú ý là các nghiên cứu có giá trị khoa học dưới góc độ bổ sung, hoàn thiện lý luận về tăng trưởng xanh. Các nghiên cứu bàn về khai thác khoáng và quan hệ của nó với tăng trưởng kinh tế 1. Các nghiên cứu bàn về vốn tài nguyên, tài nguyên khoáng sản trong tăng trưởng kinh tế Các nhà kinh tế học theo trường phái tân cổ điển khi xem xét tới tăng trưởng kinh tế thường chỉ đề cập đến vốn vật chất và lao động.
Robert Solow, năm 1956, đã bổ sung yếu tố công nghệ cùng với các yếu tố như vốn vật chất, lao động là những đầu vào của tăng trưởng kinh tế. Các cách tiếp cận này chủ yếu đề cập tới về số lượng của tăng trưởng kinh tế. Với cuộc khủng hoảng dầu lửa những năm 1970, các nhà kinh tế học đã nhận ra “Sự giới hạn của tăng trưởng” (The limits to growth), đó là: tài nguyên thiên nhiên không phải là vô tận và môi trường đang bị ô nhiễm có nguy cơ tới hạn khả năng chịu đựng của hệ sinh thái. Nếu tình trạng này kéo dài sẽ ảnh hưởng tới tăng trưởng trong tương lai và chất lượng cuộc sống của con người.
Chính vì vậy, đầu những năm 1970, các nhà kinh tế học đã mở rộng mô hình tăng trưởng tân cổ điển bằng việc xem vốn tài nguyên với tư cách là đầu vào sản xuất nhằm đánh giá đầy đủ hơn vai trò và ảnh hưởng của việc sử dụng loại vốn này. Stiglitz (1974) [151] đã ước lượng độ co giãn giữa các đầu vào sản xuất, bao gồm: vốn vật chất, lao động và năng lượng. Dasgupta và Heal (1979) [101] ước lượng sự thay thế lẫn nhau giữa các đầu vào sản xuất và nhấn mạnh rằng đầu ra của nền kinh tế liệu có đầy đủ khi không có tài nguyên, trong trường hợp việc thiếu tài nguyên sẽ không xảy ra quá trình sản xuất. Điểm chung trong các nghiên cứu này là 10 đều khẳng định rằng tài nguyên không tái tạo là đầu vào quan trọng của sản xuất.
Tuy nhiên, các nghiên cứu đã bỏ qua sự thay thế của đầu tư vào các công nghệ mới và cải thiện các kỹ năng lao động. Hơn nữa, các nguyên cứu chưa xem xét tới thương mại quốc tế – bắt đầu phát triển mạnh trong những năm 1990 và hiện đã trở thành xu thế chủ đạo trong kinh tế thế giới – để bổ sung cho nguồn năng lượng ở trong nước khi cạn kiệt. Mặc dù vậy, các nghiên cứu này cũng đã nhấn mạnh tới tầm quan trọng của vốn tài nguyên trong tăng trưởng kinh tế. Các nghiên cứu đã áp dụng hàm sản xuất Cobb–Douglas với việc bổ sung vốn tài nguyên để đưa ra các giải thích đối với tăng trưởng kinh tế (vốn tài nguyên là đầu vào sản xuất, mặt trái của khai thác và sự cần thiết đầu tư vào vốn tài nguyên): – Gylfason và Zoega (2001) [114] áp dụng hàm sản xuất Cobb–Douglas với các biến đầu vào là lao động, vốn vật chất và vốn tài nguyên; và qua các bước biến đổi để ước lượng việc gia tăng khối lượng vốn tài nguyên ảnh hưởng như thế nào đến đầu tư.
Các kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng vốn tài nguyên có tác động tới tăng trưởng kinh tế. Loại vốn này cũng có thể cản trở tới quy mô vốn đầu tư, nếu chúng chậm quá trình phát triển tài chính và ảnh hưởng gián tiếp tới chất lượng của đầu tư. – Sturgill và Zuleta (2013) [145] áp dụng hàm Cobb–Douglass với 4 biến gồm vốn vật chất (tổng tích lũy tài sản), vốn con người (tỷ lệ lao động qua đào tạo), vốn tài nguyên (tỷ trọng khu vực khai thác tài nguyên trong cơ cấu kinh tế) và quy mô lao động (số lượng lao động đang làm việc). Nghiên cứu tập trung tính toán đóng góp của các nhân tố vào tăng trưởng và ảnh hưởng của các nhân tố này vào TFP (năng suất nhân tố tổng hợp), năng suất cận biên của các yếu tố khác.
– Trong nghiên cứu về vốn tài nguyên và tăng trưởng trong dài hạn, Cai và cộng sự (2011) [92] nghiên cứu mô hình tăng trưởng nội sinh dựa trên hàm sản xuất Cobb–Douglass với các biến giải thích gồm vốn vật chất, lao động và vốn tài nguyên. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng hệ kinh tế – môi trường sẽ tăng trưởng ổn định trong dài hạn nếu có sự đầu tư thỏa đáng cho tái tạo tài nguyên và môi trường. Các nghiên cứu vừa đề cập chưa bàn đến sự thay thế và độ co giãn thay thế giữa các loại vốn khác nhau (một đầu vào này có thể thay thế được bao nhiêu các yếu tố 11 đầu vào khác). Hơn nữa, các nghiên cứu này đã bỏ qua sự thay thế của năng lượng tái tạo đối với tài nguyên không tái tạo.
Ngân hàng Thế giới (2008) [39], trong báo cáo với tựa đề “Của cải của các quốc gia ở đâu? Đo lường nguồn của cải Thế kỷ 21”, khi hạch toán tài sản của các quốc gia đã xây dựng các biến số đầu vào là vốn vật chất, vốn con người, nguồn năng lượng không tái tạo (dầu, khí tự nhiên, than đá) và tài nguyên đất đai. Kết quả nghiên cứu này khẳng định vốn tài nguyên là một trong các cấu thành quan trọng nhất trong tổng giá trị của hầu hết các quốc gia. Nghiên cứu đề xuất cách tiếp cận mới trong việc đo lường sự biến động của cải và nhấn mạnh tới tầm quan trọng của vốn tài nguyên, song việc quản lý tốt hơn hệ sinh thái và nguồn lực tự nhiên như thế nào chưa được đề cập tới. Các nghiên cứu về luận điểm “lời nguyền tài nguyên” và các mối quan hệ đối với tăng trưởng kinh tế “Lời nguyền tài nguyên” là thuật ngữ bắt nguồn từ các kết quả nghiên cứu thực nghiệm, được khởi xưởng bởi Sachs và Warner (1995) khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa khai thác tài nguyên và tăng trưởng kinh tế.
Thuật ngữ này dùng để nói lên một nghịch lý rằng các quốc gia giàu có tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên không tái tạo (khoáng sản, dầu mỏ và khí đốt), nhưng lại không thể biến được lợi thế đó để phát triển đất nước, ngược lại, thường là các quốc gia kém phát triển. – Sachs và Warner (1999) [139] nghiên cứu về các nguy hại tiềm ẩn của việc khai thác khoáng sản tới tăng trưởng kinh tế trong dài hạn. Các tác giả nghiên cứu đối với 85 quốc gia về tăng trưởng kinh tế (được đo lường bằng thu nhập bình quân đầu người) trong giai đoạn 1965 – 1998 và vốn tài nguyên (được tính bằng tỷ trọng vốn tài nguyên trong tổng vốn – bao gồm vốn vật chất, vốn con người và vốn tài nguyên). Tuy nhiên, nghiên cứu này chủ yếu để so sánh giữa các nhóm quốc gia giàu tài nguyên và nghèo tài nguyên, kết quả nghiên cứu chưa giải thích được cho quốc gia trong các giai đoạn phát triển như thế nào, nhất là trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển.
– Crowson (2009) [100] nghiên cứu về mối liên hệ giữa đóng góp từ xuất khẩu khoáng sản và tăng trưởng GDP, qua đó chứng minh về hiện tượng “lời nguyền tài 12 nguyên”. Tác giả đã sử dụng tỷ trọng xuất khẩu tài nguyên trong tổng xuất khẩu, đây có thể là biến giải thích chưa hoàn hảo, bởi nền kinh tế có khả năng là tái xuất khẩu (nhập khẩu để gia công và sau đó xuất khẩu). – Gylfason (2001) [113] tập trung vào chứng minh về mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa giàu tài nguyên và phát triển giáo dục, các quan hệ này cũng có thể liên quan tới tăng trưởng kinh tế. Kết quả nghiên cứu này chỉ ra rằng, các nước giàu tài nguyên có xu hướng đầu tư cho giáo dục thấp hơn so với các nước nghèo tài nguyên.
Douangngeune và cộng sự (2005) [102] lập luận rằng đóng góp từ khai thác khoáng sản có quan hệ nghịch đảo với chi tiêu công về giáo dục và số năm đến trường của học sinh nữ. Các nghiên cứu này sử dụng biến tỷ trọng nguồn thu từ khai thác tài nguyên trong tổng nguồn thu ngân sách có thể chưa hẳn đã phù hợp, bởi nguồn thu từ tài nguyên phụ thuộc vào biến động của giá cả trên thị trường và các chi phí khai thác. Hơn nữa, các nghiên cứu dường như chưa đánh giá thỏa đáng các lợi ích dài hạn của giáo dục khi được đầu tư bằng nguồn thu từ khai thác tài nguyên. Trong khi các nghiên cứu tập trung chứng minh “lời nguyên tài nguyên”, không ít nghiên cứu lại đưa ra các kết luận rằng khai thác tài nguyên có thể đóng góp tích cực cho tăng trưởng kinh tế.
Philippot (2010) [134] nghiên cứu đối với 28 nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi thuộc Đông Âu và Liên xô (cũ) trong giai đoạn 1990 – 2003, với biến phụ thuộc là GDP bình quân đầu người và biến giải thích là sản lượng khai thác các loại tài nguyên không tái tạo (dầu lửa, khí đốt, các loại khoáng sản), kết quả cho thấy khai thác tài nguyên đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế. Các kết luận tương tự cũng được rút ra từ các nghiên cứu Ahrend (2002) [82] và Brunnschweiler (2010) [91], đó là, khai thác dầu lửa có tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế của các vùng lãnh thổ của Liên bang Nga. Việc các nghiên cứu đưa ra các kết luận và các tranh luận trái ngược nhau về “lời nguyền tài nguyên” cũng là điều dễ hiểu, bởi sự thiếu nhất quán trong việc sử dụng phương pháp và các biến đại diện để giải thích cho vấn đề nghiên cứu. Đây cũng là chủ đề cần có nhiều nghiên cứu hơn nữa để góp phần làm sáng tỏ vấn đề.
Các nghiên cứu ủng hộ “lời nguyền tài nguyên” đều đề cập đến các bài học cay đắng từ việc khai thác khoáng sản ở một số quốc gia. Điểm chung của các tác giả là 13 có xu hướng gợi ý các nước giàu tài nguyên khoáng sản nên để giành các tài nguyên này dưới lòng đất thay vì khai thác. Các gợi ý này có thể đúng khi tài nguyên khoáng sản ngày càng cạn kiệt, khan hiếm và việc dự trữ càng mang lại giá trị theo thời gian. Vấn đề đặt ra là các nước phụ thuộc vào tài nguyên để tăng trưởng, nhất là các nước nghèo, thì việc khai thác khoáng sản như thế nào để mang lại sự thịnh vượng?; theo nghĩa đó thì các nghiên cứu này chưa thể hiện rõ.