MỞ ĐẦU 1.TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Chăn nuôi lợn muốn đạt hiệu quả kinh tế cao và phát triển bền vững cần phải quan tâm đặc biệt đến công tác giống, trong đó công tác chọn lọc đực giống đóng vai trò quan trọng khi quyết định tới 50% năng suất chăn nuôi. Lợn đực giống ảnh hưởng tới chất lượng đời sau. Do vậy, việc kiểm tra đánh giá khả năng sinh trưởng, phẩm chất tinh dịch là một mắt xích quan trọng không thể thiếu trong chăn nuôi lợn đực giống để không ngừng nâng cao số lượng và chất lượng của đực giống. Di truyền phân tử đang được ứng dụng rộng rãi trong sinh học nông nghiệp nói chung và chăn nuôi nói riêng.
Sử dụng chỉ thị phân tử MAS (marker assisted selection) để chọn lọc là một trong những công nghệ được sử dụng để chọn giống lợn phổ biến hiện nay. Nhờ phương thức chọn giống mới này mà năng suất đàn giống đươc cải thiện nhanh chóng so với các phương pháp chọn giống truyền thống trước đây. Gen MC4R mã hoá cho thụ thể protein xuyên màng của tế bào. Thụ thể này đóng vai trò quan trọng trong việc điều khiển lượng thức ăn thu nhận, khối lượng cơ thể và duy trì ổn định năng lượng nội bào.
Lợn mang kiểu gen AA có khả năng tăng khối lượng cao hơn so với những cá thể lợn mang kiểu gen AG và GG (Houston et al., 2004, Piórkowska et al., 2010, Dvořáková et al., 2011, Muñoz et al., 2011, Davoli et al. Bên cạnh gen MC4R, gen PIT1 cũng ảnh hưởng đến các tính trạng về năng suất thân thịt và chất lượng thịt. Những cá thể lợn mang kiểu gen AB và BB có khối lượng thân thịt cao hơn so với những cá thể mang allen AA (Yu et al., 1995; Brunsch et al., 2002; Franco et al., 2005; Oczkowicz and Różycki, 2013). Vì vậy, việc chọn lọc và sử dụng những cá thể mang kiểu MC4R và PIT1 có khả năng sinh trưởng nhanh làm giống là cần thiết.
Nghiên cứu về đa hình gen MC4R và PIT1 trên lợn cũng đã được thực hiện ở Việt Nam. Tuy nhiên, các nghiên cứu này về gen MC4R mới chỉ được đề cập trên lợn đực rừng (Nguyễn Văn Nơi et al.,2010) và gen PIT1 trên lợn nhưng không nêu rõ giống lợn đã khảo sát (Chung Anh Dũng et al. Chưa có nghiên cứu nào đánh giá ảnh hưởng của gen MC4R, PIT1 đến các tính trạng về chất lượng tinh dịch ở lợn Duroc. 1 Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài“Ảnh hưởng của gen MC4R, PIT1 đến khả năng sinh trưởng và phẩm chất tinh dịch của lợn Duroc”.
MUC̣ TIÊU NGHIÊN CỨU Xác định đa hình gen MC4R, PIT1 và đánh giá ảnh hưởng của đa hình gen MC4R, PIT1 đến khả năng sinh trưởng của lợn hậu bị Duroc. Đánh giá ảnh hưởng của đa hình gen MC4R, PIT1 đến phẩm chất tinh dịch của lợn Duroc nhằm phục vụ cho công tác giống và định hướng chọn lọc theo kiểu gen để nâng cao năng suất của giống lợn này. PHAṂ VI NGHIÊN CỨU Trên cơ sở xác định kiểu gen MC4R, PIT1 của từng cá thể và đánh giá mối liên hệ giữa đa hình gen MC4R, PIT1 với các tính trạng sinh trưởng và phẩm chất tinh dịch của lợn Duroc nuôi tại Công ty TNHH lợn giống hạt nhân DABACO từ tháng 1/2017 đến tháng 4/2019. Ý NGHİÃ KHOA HOC̣ VÀTHƯC̣ TIỄN CỦA ĐỀTÀI 1.
Ý nghĩa khoa học Cung cấp các tư liệu khoa học liên quan đến khả năng sinh trưởng và phẩm chất tinh dịch của lợn Duroc và ảnh hưởng của gen MC4R, PIT1 đến các khả năng đó. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp đánh giá được ảnh hưởng của gen MC4R, PIT1 đến khả năng sinh trưởng và phẩm chất tinh dịch lợn Duroc để từ đó có định hướng cho sự phát triển đàn lợn.TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan về giống lợn Duroc Nguồn gốc: Lợn Duroc có nguồn gốc từ miền Đông nước Mỹ và vùng Corn Belt.
Dòng Duroc được tạo ra ở vùng New York năm 1823, bởi Isaac Frink. Giống Duroc-Jersey có nguồn của hai dòng khác biệt Jersey đỏ của New Jersey và Duroc của New York. Còn dòng Jersey đỏ được tạo ra vào năm 1850 vùng New Jersey bởi Clark Pettit. Chủ yếu được nuôi ở vùng New Jersey và vùng New York, nước Mỹ.
Đây là giống có nguồn gốc từ Mỹ, nhưng hiện nay đã hiện diện khắp nơi trên thế giới vì chúng cho năng suất cao và tỷ lệ nạc khá lớn, ít mỡ. Lợn Duroc được coi là giống lợn tốt trên thế giới hiện nay và được nuôi rất phổ biến ở nhiều nơi, đặc biệt nuôi theo hướng nạc. Tuy nhiên, nuôi Lợn Duroc cần có chế độ dinh dưỡng cao và chăm sóc tốt mới đạt được kết quả tốt nhất. Đặc điểm: Lợn toàn thân có lông màu hung đỏ hoặc nâu đỏ (do đó thường gọi là heo bò), đầu to vừa phải, mõm dài, tai to và dài, cổ nhỏ và dài, mình dài, vai-lưng-mông-đùi rất phát triển.
Lợn thuần chủng có sắc lông đỏ nâu, bốn móng ở mỗi chân màu đen huyền, khi lai có màu vàng nhạt và xuất hiện đốm bông đen (thường ở đùi, mông, bụng). Chúng có tai nhỏ, xụ nhưng gốc tai đứng, lưng còng, ngắn đòn, bụng thon, chân thấp. Giống Duroc là giống tiêu biểu cho hướng nạc, có tầm vóc trung bình. Chúng có bốn móng chân và mõm đen.
Thân hình vững chắc, tai xụ từ nửa vành phía trước, dài đòn, chân chắc và khỏe. Sinh sản: Duroc có khả năng sinh sản tương đối cao. Trung bình đạt 1,7 – 1,8 lứa/năm. Mỗi lứa đẻ từ 9 đến 11 con, lợn con trung bình đạt 1,2 – 1,3 kg, trọng lượng cai sữa trung bình 12 – 15 kg.
Sức tiết sữa của lợn đạt 5 – 8 kg/ngày. Khả năng sinh trưởng của lợn tốt. Tuy nhiên khả năng sinh sản của nái không cao, đẻ khoảng 7-9 con/lứa, nuôi con kém. Lợn nái đẻ mỗi năm 1,8 lứa, mỗi lứa 8–9 con, nái tiết sữa kém, nuôi con kém, nhu cầu dinh dưỡng cao, sức kháng bệnh kém.
Do chân thấp nên nái tơ Duroc phối với lợn đực cao chân thường khó khăn, trắc trở và có thể xảy ra việc dương vật lợn đực có thể gieo nhầm vào hậu môn thay vì âm đạo (tình dục bằng đường hậu môn), ngược lại nọc tơ Duroc phối với nái cao thường khó khăn như dễ bị té bật ngửa, hoảng sợ, hoặc dương vật không đi sâu qua cổ tử cung nên tỉ lệ đậu thai thấp, tinh trùng thường bị trào ra ngoài âm đạo sau khi phối trực tiếp, nó có thể bị phụt ra ngoài và khó thụ thai. Cơ sở khoa học của sự sinh trưởng Sinh trưởng là sự tăng thêm về khối lượng, kích thước, thể tích của từng bộ phận hay toàn bộ cơ thể con vật. Thực chất của sinh trưởng là sự tăng trưởng, phân chia của các tế bào trong cơ thể vật nuôi. Quá trình sinh trưởng được sự điều khiển của hormone sinh trưởng (Somato stropin).
Cường độ sinh trưởng có liên quan chặt chẽ đến hàm lượng hormone. Ở lợn nhiều mỡ ít nạc thì hàm lượng hormone sinh trưởng ít hơn so với lợn nhiều nạc ít mỡ. Mối liên hệ giữa khối lượng và tuổi của vật nuôi được thể hiện bằng đồ thị hình chữ S. Giai đoạn trước thành thục sinh dục có tốc độ sinh trưởng nhanh, sau đó tốc độ sinh trưởng chậm lại và giảm dần cho đến khi đạt ổn định về khối lượng, lúc này vật nuôi thành thục về thể vóc.
Khả năng sinh trưởng được mô tả bằng sinh trưởng tuyệt đối và sinh trưởng tương đối. Sinh trưởng tuyệt đối được xác định bằng tỷ lệ giữa khối lượng cơ thể vật nuôi tăng lên với khoảng thời gian để tăng được khối lượng đó. Chỉ tiêu này được sử dụng để đánh giá khả năng tăng khối lượng trung bình hàng tháng (kg/tháng) hoặc hàng ngày (g/ngày). Sinh trưởng tuyệt đối được mô hình hoá bằng đồ thị parabol.
Đối với lợn thịt cần xác định được thời điểm đạt giá trị cực đại (đỉnh parabol) để kết thúc giai đoạn nuôi thịt nhằm đạt hiệu quả cao nhất. Sinh trưởng tương đối: là tỷ lệ % tăng lên về khối lượng kích thước và thể tích cơ thể lúc khảo sát so với lúc ban đầu khảo sát. Đồ thị sinh trưởng tương đối có dạng hypebol. Trong quá trình sinh trưởng thành phần hóa học cũng như tỉ lệ các phần thịt và phẩm chất thịt cũng thay đổi.
Cùng với sự tăng lên về trọng lượng thì tỉ lệ vật chất khô và mỡ cũng tăng lên, đồng thời tỉ lệ protit lại giảm nhẹ. Để đánh giá quá trình sinh trưởng thì một phần được xác định bằng số liệu qua tính toán sự thay đổi về cả chiều, khối lượng, thể tích, các cơ quan và bộ phận. Để biểu thị quá trình sinh trưởng của lợn thì người ta thường dựa vào độ sinh trưởng tích lũy. Đó là khối lượng, kích thước, thể tích của toàn bộ cơ thể hoặc của từng bộ phận của cơ thể tại thời điểm khảo sát.
Độ sinh trưởng tích lũy được biểu thị bằng đồ thị hình chữ S. Dùng trục tung biểu thị đồ thị sinh trưởng tích lũy (kg, g), dùng trục hoành biểu thị thời gian t (tháng, ngày). Bên cạnh về khả năng sinh trưởng, năng suất thân thịt đóng vai trò quan trọng quyết định đến hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn thịt. Năng suất thân thịt của lợn được đánh giá qua các chỉ tiêu: dày mỡ lưng (mm), dày cơ thăn 4 (mm), tỷ lệ nạc (%), khối lượng móc hàm (kg), tỷ lệ móc hàm (%), khối lượng thịt xẻ (kg), tỷ lệ thịt xẻ (%), dài thân thịt (cm), diện tích cơ thăn (cm2).
Chất lượng thịt được định nghĩa bởi những tính trạng mà người tiêu dùng hài lòng, bao gồm các tính trạng cảm quan, chế biến và sự tin tưởng. Những tính trạng chất lượng thịt được phân loại dựa trên những yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài. Yếu tố bên trong liên quan đến những đặc tính sinh lý của thịt như: màu sắc, kết cấu của thịt, màu mỡ, tỷ lệ mỡ dắt, sự phân bố mỡ dắt trong cơ, tỷ lệ mất nước bảo quản (tính trạng cảm quan), độ dai, giá trị pH, mùi vị và sự tích nước (tính trạng chế biến). Yếu tố bên ngoài liên quan đến những đặc tính về sự tin tưởng như an toàn, dinh dưỡng, độc tố… 2.
Tổng quan về tinh dịch và tinh trùng lợn 2. Sự hình thành và cấu tạo của tinh trùng lợn Tinh trùng là tế bào sinh dục đực đã hoàn chỉnh về hình thái, cấu tạo và đặc điểm sinh lý, sinh hóa bên trong và có khả năng thụ thai (thụ tinh).