ĐẶT VẤN ĐỀ Chăn nuôi lợn ở nước ta đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, đáp ứng yêu cầu tiêu thụ thịt nhiều nạc ngày càng nhiều cả về số lượng và chất lượng. Điều này đòi hỏi cần phải tăng cường nguồn gen có tỉ lệ nạc cao và chất lượng thịt tốt. Những giống lợn nội của nước ta bên cạnh những ưu điểm như khả năng thích nghi và chống chịu bệnh tốt thì những nhược điểm của nó: tăng trọng kém, tiêu tốn thức ăn cao, tầm vóc nhỏ, tỉ lệ nạc thấp… đã không đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của thị trường về số và chất lượng thịt. Do đó, từ những năm 1970 nước ta đã bắt đầu nhập các giống lợn ngoại như Đại Bạch, Landrace, Hamshire… và đặc biệt là những năm gần đây đã tiếp tục nhập các giống lợn ngoại cao sản là Yorkshire, Duroc, Piétrain… để cải tạo và nâng cao năng suất của đàn lợn trong nước.
Hai giống Landrace và Yorkshire đang là hai giống gốc chính trong cơ cấu đàn lợn ngoại ở Việt Nam. Các lợn đực của hai giống này cũng tham gia vào nhiều tổ hợp lai khác nhau, góp phần nâng cao năng suất và chất lượng thịt trong ngành chăn nuôi lợn nước ta. Đánh giá, tìm các giải pháp chọn lọc nâng cao khả năng sinh trưởng, tăng tỷ lệ nạc cũng đã trở thành hướng nghiên cứu quan trọng đối với hai giống lợn trên. Phan Xuân Hảo (2007) đã đánh giá tăng khối lượng trung bình hàng ngày, tỷ lệ nạc và tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng đối với lợn Landrace và Yorkshire.
Nguyễn Quế Côi và Võ Hồng Hạnh (2000) cũng đã ước tính hệ số di truyền, tương quan di truyền giữa các tính trạng tăng khối lượng trung bình, dày mỡ lưng và khả năng chuyển hoá thức ăn của lợn Landrace và Yorkshire. Nguyễn Hữu Tỉnh và cs. (2006) đã ước tính hệ số di truyền của tuổi đạt 90 kg, độ dày mỡ lưng đối với lợn Yorkshire, Landrace và Duroc nuôi tại cách tỉnh phía Nam. Trần Thị Minh Hoàng và cs.
(2010) đã ước tính giá trị giống đối với tăng khối lượng, dày mỡ 1 lưng của lợn Landrace và Yorkshire. Gen RNF4 và RBP4 được biết đến như là những gen ứng viên cho năng suất sinh sản của lợn. Kết quả của nghiên cứu trước đây (Nguyen Thi Vinh et al., 2017; Niu et al., 2009; Rothschild et al., 2000; Spotter et al., 2009; Terman et al., 2007; Wang et al., 2006 chỉ ra rằng 2 gen này có mối liên hệ với tính trạng số con đẻ ra và số con đẻ ra còn sống của lợn nái. Lợn mang kiểu gen CC (RNF4) hoặc BB của (RBP4) có số con sơ sinh và số con sơ sinh/ổ cao hơn so với lợn nái mang các kiểu gen khác.
Tuy nhiên, để định hướng cho công tác chọn lọc, việc đánh giá ảnh hưởng của gen RNF4 và RBP4 đến tính trạng sinh trưởng cũng rất quan trọng. Theo quy luật, số con sơ sinh/ổ tăng dẫn đến khối lượng cơ thể của lợn con giảm (Johnson et al. , 1999), tuy nhiên khối lượng cơ thể lợn con lại quyết định đến sức sinh trưởng và tuổi thọ của lợn sau này (Rydhmer et al. Chính vì lý do này, ngoài việc đánh giá ảnh hưởng của gen RNF4 và RBP4 đến năng suất sinh sản thì việc kiểm tra ảnh hưởng của chúng đến các tính trạng năng suất sinh trưởng cũng rất quan trọng trong định hướng công tác chọn giống dựa trên chỉ thị phân tử RNF4 và RBP4 là 2 gen ứng cử viên cho năng suất sinh sản ở lợn (Nguyen Thi Vinh et al., 2017; Niu et al., 2009; Rothschild et al., 2000; Spotter et al., 2009; Terman et al., 2007; Wang et al.
Ở Việt Nam hiện nay, chưa đề tài nào nghiên cứu về ảnh hưởng của hai gen trên đến khả năng sinh trưởng và năng suất thịt trên hai giống lợn Landrace và Yorkshire. Xuất phát từ lý do trên, đề tài tiến hành đánh giá: “Ảnh hưởng của đa hình gen RNF4 và RBP4 đến sinh trưởng và năng suất thịt của lợn cái hậu bị Landrace và Yorshire”. MỤC ĐÍCH – YÊU CẦU 2. Mục đích - Xác định đa hình gen RNF4 trên quần thể lợn Landrace và Yorkshire.
2 - Xác định đa hình gen RBP4 trên quần thể lợn Landrace và Yorkshire. - Đánh giá ảnh hưởng của kiểu gen RNF4 đến sinh trưởng và năng suất thịt của lợn Landrace và Yorkshire. - Đánh giá ảnh hưởng của kiểu gen RBP4 đến sinh trưởng và năng suất thịt của lợn Landrace và Yorkshire. Yêu cầu - Xác định được đa hình gen RNF4 và RBP4 trên quần thể lợn Landrace và Yorkshire.
- Thu thập, ghi chép phân tích số liệu một cách chính xác và khoa học. - Nắm được quy trình, cách thức và phương pháp tiến hành nghiên cứu. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. GIỐNG LỢN LANDRACE 1.
Nguồn gốc Lợn Landrace là giống được hình thành ở Đan Mạch bằng cách cho lai giữa các giống Youtland có nguồn gốc từ Đức, giống Yorkshire của Anh với các giống trắng địa phương của Đan Mạch. Giống này được nhập vào Việt Nam khoảng những năm 1970 từ Trung Quốc, Cuba, sau này nhập từ Bỉ, Nhật Bản, Thái Lan,… 1. Đặc điểm ngoại hình của lợn Landrace Màu lông trắng, tai cúp về phía trước rủ che kín mắt, mõm thẳng, mông nở, chân to thẳng, ngoại hình thể chất vững chắc, thích nghi cao, chống bệnh tốt, nhanh lớn. Dòng đực Landrace có phần mông đặc biệt phát triển, cho nhiều nạc hơn giống Yorkshire.
Nái Landrace mắn đẻ, đẻ nhiều, khả năng làm mẹ tốt, ngoại hình đẹp, tăng trọng nhanh. Đây là giống lợn hướng nạc. Hiện nay trên thế giới có rất nhiều giống lợn Landrace vì mỗi một nước khi nhập giống lợn Landrace đều cố tạo ra các giống lợn Landrace phù hợp với thị hiếu tiêu dùng của nước mình như lợn Landrace của nước Bỉ có phần mông rất phát triển, lợn Landrace của Nhật thì dài mình… Việt Nam nhập lợn Landrace từ Cu Ba, Trung Quốc, sau này nhập từ Bỉ, Nhật Bản, Thái Lan… vào khoảng những năm 1970. Trong các năm 1975 đến 1986 nhập lợn Landrace từ Nhật và Bỉ (Trần Văn Phùng và cs, 2004).
Theo như tài liệu của công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam giống lợn Landrace có đặc điểm: Mình dài, mỏng mình, chân cao và nhỏ, mông vai nở, tai to cụp che kín mắt, da lông màu trắng ngà hoặc màu trắng, tỉ lệ nạc cao. Lợn Landrace có tầm vóc to, mình dài và dầy, nhìn ngang trông giống hình cái nêm, lông màu trắng tuyền, đầu dài, hơi hẹp, tai to, dài rủ xuống che cả mặt. Lưng vồng lên, mặt lưng bằng phẳng, bụng thon, mông phát triển, nẩy 4 tròn, chân to và thẳng. Lợn Landrace có 12 - 14 vú, 4 chân hơi yếu.
Đặc điểm sinh trưởng Theo Trần Văn Phùng và cs (2004), giống lợn Landrace là giống lợn có năng suất cao. Tốc độ sinh trưởng nhanh, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng thấp từ 2,7 - 3,01 kg. Tăng khối lượng bình quân/ngày từ 700 - 800g, tỷ lệ thịt nạc/thịt xẻ từ 58 - 60%. Khi trưởng thành con đực nặng khoảng 280 - 320 kg/con, con cái nặng khoảng 220 - 250 kg/con.
Tác giả Lê Hồng Mận (2006), thì cho rằng lúc trưởng thành con đực đạt 270 - 400 kg/con, con cái đạt 200 - 320 kg/con. Lợn Landrace có khả năng sinh sản khá cao và khả năng nuôi con khéo. Hiện nay giống Landrace không chỉ được dùng trong các công thức lai kinh tế giữa các giống ngoại với nhau hoặc các giống nội để tạo đàn thương phẩm có chất lượng thịt cao mà còn được nhân thuần để tăng số lượng đàn. Khả năng sản xuất Theo Vũ Đình Tôn (2009), lợn Landrace có tuổi phối giống lần đầu 310 ngày, trọng lượng cái trưởng thành 220 - 250 kg, số con đẻ ra trên lứa từ 9 - 11 con, khối lượng sơ sinh từ 1,3 - 1,4kg/con, khối lượng lúc 70 ngày tuổi đạt 16 - 18kg/con.
Lợn đực có thể đưa vào sử dụng lúc 8 tháng tuổi, lượng tinh dịch khai thác đạt 270 ml/lần. Trọng lượng đực trưởng thành 300 - 320 kg. GIỐNG LỢN YORKSHIRE 1. Nguồn gốc Lợn Yorkshire là giống được nuôi rộng rãi nhất trên thế giới bởi khả năng thích nghi rộng rãi cũng như khả năng sinh sản cao.
Giống Yorkshire được nhập về Việt Nam từ Liên Xô cũ (1964), Cuba (1978), Anh, Canada… 1. Đặc điểm ngoại hình của lợn Yorkshire Thân hình cao, to, dài. Toàn thân có màu trắng, hơi có ánh vàng, mặt hơi thô, mõm hơi cong lên, đầu nhỏ, tai dài to hướng thẳng đứng về phía 5 trước, kết cấu cơ thể vững chắc, bốn chân khỏe mạnh, lưng và hông rộng, vai đầy đặn. Đặc điểm sinh trưởng và khả năng sản xuất Lợn Yorkshire có tốc độ sinh trưởng nhanh.
Lợn có khối lượng lớn, con đực trưởng thành nặng từ 350 - 380 kg, dài thân 170 - 185 cm. Con cái trưởng thành nặng từ 250 - 280 kg, khối lượng lúc 60 ngày tuổi đạt 16 - 20 kg/con (Võ Trọng Hốt và cs, 2000). Lợn vỗ béo đạt 100kg khoảng 5 - 6 tháng tuổi , tỉ lệ nạc đạt 52 - 55%, tuy nhiên có thể đạt tỷ lệ nạc lên đến 55 – 60% (Coline T. Khả năng sản xuất Lợn cái thành thục về tính lúc 6 tháng tuổi và có thể phối giống lần đầu khoảng 240 - 260 ngày, số con đẻ ra trên lứa cao từ 11 - 13 con, số lứa/nái/năm là 2,0 – 2,2.
Khối lượng sơ sinh/con từ 1,3 - 1,4kg/con, khối lượng 60 ngày tuổi từ 16- 18kg/con. Lợn đực đưa vào khai thác lúc 8 tháng tuổi, lượng tinh dịch một lần khai thác trung bình 232 ml (Vũ Đình Tôn, 2009). Theo tài liệu của công ty CP Việt Nam, lợn Yorkshire được đưa vào phối giống lần đầu vào khoảng 34 tuần tuổi tức khoảng 8,5 tháng đối với lợn nái, trọng lượng cái trưởng thành 250 - 280 kg, khối lượng sơ sinh trung bình 1,2 - 1,4 kg/con. Lợn đực có thể đưa vào sử dụng lúc 8 tháng tuổi, lượng tinh khai thác được 250 ml/lần.
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học của sự sinh trưởng Sinh trưởng là sự tăng thêm về khối lượng, kích thước, thể tích của từng bộ phận hay toàn bộ cơ thể con vật. Thực chất của sinh trưởng là sự tăng trưởng, phân chia của các tế bào trong cơ thể vật nuôi. Quá trình sinh trưởng được sự điều khiển của hormone sinh trưởng (Somato stropin).
Cường độ sinh trưởng có liên quan chặt chẽ đến hàm lượng hormone. Ở lợn nhiều mỡ ít nạc 6 thì hàm lượng hormone sinh trưởng ít hơn so với lợn nhiều nạc ít mỡ (Schimiten, 1989). Trong quá trình sinh trưởng thành phần hóa học cũng như tỉ lệ các phần thịt và phẩm chất thịt cũng thay đổi.