CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Đặc điểm sinh trưởng và tiêu hóa của lợn con 1. Đặc điểm sinh trưởng * Khái niệm về sinh trưởng Sinh trưởng là sự tăng khối lượng và kích thước của cơ thể do các tế bào trong cơ thể tăng về số lượng và kích thước.
Theo Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường, 1978 [15], thì sinh trưởng là quá trình tích lũy chất hữu cơ do đồng hóa và dị hóa, thể hiện bằng sự tăng chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở tính di truyền của đời trước. Sinh trưởng chính là sự tích lũy dần các chất, chủ yếu là Protein mà tốc độ và khối lượng tích lũy các chất do tốc độ hoạt động của các gen điều khiển sự sinh trưởng. Sinh trưởng được xem như là quá trình tổng hợp protein nên người ta thường lấy việc tăng khối lượng làm chỉ tiêu đánh giá quá trình sinh trưởng. Sự tăng trưởng chính là việc các tế bào của mô cơ có sự tăng thêm về số lượng, khối lượng các chiều.
Sự sinh trưởng của con vật được tính từ lúc trứng thụ tinh cho đến khi cơ thể trưởng thành và được chia làm 2 giai đoạn: Giai đoạn bào thai và giai đoạn ngoài bào thai. Các đặc tính của các bộ phận hình thành quá trình sinh trưởng tuy là một sự tiếp tục, thừa hưởng các đặc tính di truyền của bố mẹ, nhưng mức độ mạnh hay yếu là do tác động của môi trường. Nghiên cứu về sinh trưởng cần phải đề cập đến vấn đề phát dục, đây là một quá trình biến đổi về chất, tức là tăng thêm và hoàn chỉnh tính chất chức năng của các bộ phận cơ thể, phát dục của cơ thể con vật là quá trình phức tạp trải qua nhiều giai đoạn bắt đầu từ khi thụ tinh cho đến khi trưởng thành. n 4 * Quá trình sinh trưởng phát dục ở lợn Quá trình này được tuân theo các quy luật sau: - Quy luật sinh trưởng phát dục không đồng đều: Quy luật này thể hiện ở cường độ sinh trưởng và tốc độ sinh trưởng thay đổi theo tuổi.
- Quy luật sinh trưởng phát dục theo giai đoạn: Quy luật này được chia làm 2 giai đoạn đó là giai đoạn trong thai và giai đoạn ngoài thai. + Giai đoạn trong thai của lợn bao gồm: Thời kỳ phôi thai: Từ 1 - 22 ngày Thời kỳ tiền thai: Từ 23 - 39 ngày Thời kỳ thai nhi: Từ 40 - đẻ + Giai đoạn ngoài thai (ngoài cơ thể mẹ): Được chia thành các thời kỳ: thời kỳ bú sữa, thời kỳ thành thục, thời kỳ trưởng thành và thời kỳ già cỗi. Trong các thời kỳ trên thì thời kỳ bú sữa được coi là quan trọng hơn cả. Thời kỳ bú sữa thường là 60 ngày, nguồn dinh dưỡng là sữa mẹ, thức ăn nhân tạo phải phù hợp với khả năng tiêu hóa của lợn con.
Sau khi tách mẹ những ngày đầu, thì thức ăn nhân tạo phải đảm bảo sao cho lợn con tăng trọng đều mỗi ngày như khi vẫn bú mẹ. Có như vậy, lợn con đưa vào nuôi thịt hay nuôi hậu bị không bị chậm lớn. Đây là điều kiện để cai sữa sớm cho lợn con có kết quả (Nguyễn Thiện và cs, 1996 [32]). * Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của lợn con Theo quy luật chung thì trong thời kỳ bào thai phát triển tốt sẽ ảnh hưởng tốt đến sự phát triển về sau, khả năng phát triển của lợn con nhanh hơn so với một số gia súc khác (khi cai sữa ở 2 tháng tuổi khối lượng gấp10 - 12 lần so với sơ sinh, trong khi đó bê nghé chỉ tăng 3 - 4 lần).
Qua các thí nghiệm và qua thực tế sản xuất cho thấy so với khối lượng sơ sinh, thì sau 10 ngày tuổi lợn con tăng gấp 2 lần, sau 30 ngày tuổi tăng gấp 4 lần, sau 60 ngày tuổi tăng gấp 10 lần trở lên. n 5 Quá trình sinh trưởng của lợn con từ khi sơ sinh đến khi cai sữa phải gặp thời kì khủng hoảng lúc 3 tuần tuổi. Nhiều tài liệu nghiên cứu của các nước trên thế giới và tài liệu nghiên cứu được trên giống lợn nuôi ở Việt Nam chứng minh được rõ rệt và chính xác thời kỳ này. Sự sinh trưởng của lợn, các nhân tố ảnh hưởng * Các chỉ tiêu đánh giá sự sinh trưởng + Tốc độ sinh trưởng Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [22]: Tốc độ sinh trưởng là chỉ tiêu kinh tế quan trọng hàng đầu trong chăn nuôi lợn thịt.
Tốc độ sinh trưởng nhanh sẽ góp phần giảm tiêu tốn thức ăn trên 1kg tăng khối lượng, tỷ lệ thịt nạc trong thịt xẻ, giảm chi phí trong chăn nuôi… Khả năng sinh trưởng được tính theo gam/ngày hay kg/tháng. Tốc độ sinh trưởng của các giống lợn khác nhau là khác nhau. Các giống lợn nội có khả năng tăng khối lượng thấp hơn lợn lai và lợn ngoại. Trong phạm vi ứng dụng để đánh giá tốc độ sinh trưởng ta thường dùng các chỉ tiêu sau đây: - Sinh trưởng tích lũy: Là khối lượng cơ thể, kích thước các chiều đo tăng lên sau một thời gian sinh trưởng.
Đồ thị sinh trưởng tích lũy có dạng hình chữ S. - Sinh trưởng tuyệt đối: Là khối lượng, kích thước của cơ thể gia súc tăng lên trong một đơn vị thời gian. Đối với lợn, đơn vị thời gian thường là ngày. Sinh trưởng tuyệt đối cho biết mỗi con lợn, mỗi ngày tăng được bao nhiêu gam.
Giá trị sinh trưởng tuyệt đối càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn. Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối có dạng hình quả chuông úp. - Sinh trưởng tương đối: Là tỷ lệ % của khối lượng cơ thể, thể tích hay kích thước các chiểu đo tăng lên của lần khảo sát sau so với lần khảo sát trước. n 6 * Những yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của lợn + Ảnh hưởng của yếu tố di truyền (loài, giống, cá thể).
- Cơ sở của sự di truyền Sinh trưởng là tính trạng số lượng, sự di truyền của các tính trạng này tuân theo qui luật của Mendel. Tính trạng số lượng được thể hiện qua các chỉ tiêu như: Số con/lứa, khả năng tăng trọng, phẩm chất phần thân thịt có giá trị… Đó là những tính trạng do nhiều đôi gen qui định và chịu sự tác động của ngoại cảnh với nhiều mức độ khác nhau (Nguyễn Thiện và cộng sự, 1998) [33]. Giá trị kiểu hình của một tính trạng được kí hiệu là P (phenotype). Giá trị kiểu gen được kí hiệu là G (Genotype) và sai lệch môi trường được kí hiệu là E (Enviroment).
Mối quan hệ này được biểu thị bằng công thức: P = G + E. Giá trị kiểu gen (G) của giá trị số lượng do nhiều gen có hiệu ứng nhỏ (minorgene) cấu tạo thành. Các gen này có hiệu ứng riêng biệt của từng gen thì rất nhỏ, nhưng tập hợp nhiều gen nhỏ sẽ ảnh hưởng rất rõ rệt tới tính trạng nghiên cứu, hiện tượng này gọi là hiệu ứng đa gen (Polygen). Các minorgen tác động lên tính trạng theo 3 phương thức: cộng gộp và át gen.
Vì vậy giá trị kiểu gen hoạt động thể hiện qua công thức: G=A+D+I Trong đó: G - Giá trị kiểu gen A - Giá trị cộng gộp D - Giá trị sai lệch trội I - Giá trị sai lệch cộng gộp A là thành phần quan trọng nhất của kiểu gen vì nó ổn định, có thể xác định được và di truyền cho đời sau. Hai thành phần D và I cũng có vai trò quan trọng vì đó là giá trị giống đặc biệt và chỉ xác định thông qua con đường thực nghiệm. n 7 Lasley (1974) cho biết những tính trạng có hệ số di truyền từ 0,12 - 0,3 là những tính trạng có hệ số di truyền thấp. Những tính trạng có hệ số di truyền bằng 0,4 - 0,5 là những tình trạng có hệ số di truyền trung bình.
Những tính trạng có hệ số di truyền > 0,5 là những tính trạng có hệ số di truyền cao và cho hệ quả chọn lọc cao: Còn những tính trạng có hệ số di truyền thấp sẽ cho ưu thế lai cao (Trích theo Nguyễn Thiện và cs, 1998) [33]. Từ kết quả phân tích trên cho thấy, các tính trạng về năng suất ở lợn cũng như các vật nuôi khác là kết quả tác động giữa các yếu tố di truyền và các yếu tố môi trường. Theo Trần văn Phùng và cs (2004) [22] cho biết: Yếu tố di truyền là một trong những yếu tố có ý nghĩa quan trọng nhất ảnh hưởng đến sinh trưởng phát dục của lợn. Quá trình sinh trưởng phát dục của lợn tuân theo các quy luật sinh học, nhưng chịu ảnh hưởng của các giống lợn khác nhau.
Do ảnh hưởng của các tuyến nội tiết và hệ thống thần kinh mà hình thành nên sự khác nhau giữa các giống lợn nguyên thủy và các giống lợn đã được cải tiến cũng như giữa các giống lợn thành thục sớm và giống lợn thành thục muộn. Sự khác nhau này không những chỉ khác nhau về các trúc tổng thể của cơ thể mà còn khác nhau ở sự hình thành nên các tế bào, các bộ phận của cơ thể và đã hình thành nên các giống lợn có hướng sản xuất khác nhau như: Giống lợn hướng nạc, hướng mỡ. Tính trạng số lượng (sinh trưởng, cho lông, cho thịt, trứng, sản lượng sữa, sinh sản…) những tính trạng ở đó có sự sai khác giữa các cá thể là sự sai khác nhau về mức độ hơn là sự sai khác nhau về chủng loại. Darwin đã chỉ rõ sự sai khác này chính là nguyên liệu cho quá trình chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân tạo, sự nghiên cứu các tính trạng này phụ thuộc vào sự đo lường như: Khối lượng cơ thể, tốc độ tăng trọng, sản lượng trứng, kích thước và chiều đo…(Trần Đình Miên và cs, 1975) [16].
n 8 - Ảnh hưởng của quá trình trao đổi chất Quá trình trao đổi chất xảy ra dưới sự điều khiển của các hormone. Hormone tham gia vào tất cả các quá trình trao đổi chất của tế bào và giữ cân bằng các chất trong máu. Trong thời kì đầu tiên của quá trình sống, kể cả khi chưa có sự hoạt động của tuyến giáp đã có sự tham gia của tuyến ức trong điều khiển quá trình sinh trưởng. Về sau điều khiển quá trình sinh trưởng có sự tham gia của tuyến yên.
Hormon của thùy trước tuyến yên STH (somatotropin hormone) là loại hormon rất cần thiết cho sinh trưởng của cơ thể.