Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong cơ cấu ngành nông nghiệp tại Việt Nam, trâu đóng vai trò cung cấp sức kéo chính phục vụ cày bừa, vận chuyển tại khu vực nông thôn, đồng thời cung cấp khối lượng lớn phân bón hữu cơ cho trồng trọt và đáp ứng nhu cầu thực phẩm. Thịt trâu ngày càng được thị trường ưa chuộng do đặc tính nhiều nạc, ít mỡ và hàm lượng cholesterol thấp. Tuy nhiên, rào cản lớn đối với sự phát triển chăn nuôi gia súc nhai lại tại các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng là tình trạng thiếu hụt thức ăn cả về số lượng lẫn chất lượng, cùng sự biến động thất thường của nguồn thức ăn theo mùa vụ.
Để đáp ứng nhu cầu sản phẩm chăn nuôi ngày một gia tăng, việc tận dụng hiệu quả nguồn thức ăn truyền thống và khai thác hợp lý các nguồn thức ăn không truyền thống là vấn đề mang tính quyết định (Makkar, 2004). Việc này đòi hỏi phải xác định chính xác thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của từng loại thức ăn nhằm thiết lập khẩu phần đáp ứng đầy đủ nhu cầu duy trì và sản xuất của vật nuôi, đồng thời giảm thiểu phát thải nitơ, phốt pho và khí nhà kính ra môi trường (Paquay, 2000).
Thực tế tại Việt Nam, các bảng thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng hiện hành phần lớn phải mượn tỷ lệ tiêu hóa từ các tài liệu nước ngoài hoặc ngoại suy từ các thí nghiệm trên cừu và bò. Sự khác biệt về loài, đặc biệt là đặc tính vi sinh vật đường tiêu hóa của trâu đối với thức ăn giàu xơ, khiến các khẩu phần lập ra theo dữ liệu mượn này có độ sai lệch cao, không xác định chắc chắn được mức độ thừa hay thiếu hụt dinh dưỡng. Do đó, việc xác định trực tiếp tỷ lệ tiêu hóa và giá trị năng lượng bằng phương pháp in vivo trên trâu là yêu cầu cấp thiết nhằm tạo lập cơ sở dữ liệu có độ tin cậy cao cho ngành chăn nuôi trong nước.
Đề tài đặt ra các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Xác định thành phần hóa học của 4 loại thức ăn thô xanh phổ biến nuôi trâu (cây ngô sau thu bắp, cỏ voi thường, cỏ B. mulato 2 và cỏ Ghinê TD 58).
- Xác định thành phần hóa học của phân thải ra từ trâu ăn 4 loại thức ăn thô xanh nói trên.
- Xác định tỷ lệ tiêu hóa in vivo các chất dinh dưỡng gồm vật chất khô (DM), protein thô (CP), mỡ thô (EE), xơ thô (CF), xơ không tan trong môi trường trung tính (NDF), xơ không tan trong môi trường axit (ADF), khoáng tổng số (Ash) và chất hữu cơ (OM).
- Tính toán các giá trị năng lượng gồm năng lượng thô (GE), năng lượng tiêu hóa (DE), năng lượng trao đổi (ME) và năng lượng thuần (NE) của từng loại thức ăn.
Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: 4 trâu đực, lứa tuổi từ 3 đến 5 năm tuổi, khối lượng cơ thể dao động từ 238 kg đến 350 kg.
- Vật liệu thức ăn: 4 loại thức ăn thô xanh gồm cây ngô sau thu bắp (thân lá tươi), cỏ voi thường (cắt ở giai đoạn tái sinh 45 ngày tuổi), cỏ B. mulato 2 và cỏ Ghinê TD 58.
- Địa điểm nghiên cứu: Thí nghiệm nuôi dưỡng và thu mẫu được thực hiện tại Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển chăn nuôi Miền núi. Công tác phân tích mẫu thức ăn và phân được tiến hành tại Phòng Phân tích thức ăn và Sản phẩm chăn nuôi thuộc Viện Chăn nuôi.
- Thời gian nghiên cứu: Từ ngày 18 tháng 11 năm 2016 đến ngày 18 tháng 5 năm 2017.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận tổng thuật hệ thống cơ sở lý thuyết về dinh dưỡng gia súc nhai lại:
- Khái niệm thức ăn và chất dinh dưỡng: Tiếp cận theo định nghĩa của Pond và cộng sự (1995) cùng Dryden (2010), thức ăn là vật liệu ăn được cung cấp dinh dưỡng phục vụ duy trì, sinh trưởng, sinh sản và tiết sữa.
- Phân loại thức ăn cho gia súc nhai lại: Khóa luận phân tích các hình thức phân loại theo nguồn gốc (thực vật, động vật, khoáng), theo thành phần dinh dưỡng (giàu protein, giàu lipit, giàu xơ...), theo đương lượng tinh bột (thức ăn thô dưới 45%, thức ăn tinh trên 45%) và hệ thống phân chia quốc tế thành 8 nhóm thức ăn tiêu chuẩn.
- Các phương pháp xác định tỷ lệ tiêu hóa và giá trị dinh dưỡng: Tổng quan phương pháp in vivo (thu thập tổng số theo Cochran và Galyean, 1994; Burns và cs, 1994), phương pháp túi nilon in situ / in sacco (Mehrez và Orskov, 1977), phương pháp tiêu hóa 2 giai đoạn (Tilley và Terry, 1963), phương pháp sinh khí in vitro gas production (Menke và cs, 1979; Menke và Steingass, 1988; Makkar, 2000, 2004), phương pháp sử dụng enzyme pepsin - cellulase (De Boever và cs, 1986) và quang phổ hấp phụ cận hồng ngoại (NIRS).
- Các hệ thống đánh giá dinh dưỡng quốc tế: Hệ thống Scandinavơ (đơn vị SFU, hệ thống protein AAT-PBV), hệ thống NRC của Mỹ (chuyển đổi TDN sang DE và hệ thống NE), hệ thống ARC của Anh (đánh giá ME, GE và RDP/UDP), hệ thống INRA của Pháp (đơn vị tạo sữa UFL, đơn vị thịt UFV và hệ thống PDI bao gồm PDIA, PDIM, PDIN, PDIE).
- Tình hình nghiên cứu: Tổng hợp các công bố quốc tế về tiêu hóa in vivo trên cừu và gia súc nhai lại (Aerts và cs, 1984; Xande và cs, 1989; JIRCAS, 2010) và trong nước (Nguyễn Văn Thưởng và cs, 1992; Viện Chăn nuôi, 2001; Paul Pozy và cs, 2001, 2002; Vũ Chí Cương và cs, 2003, 2004, 2016; Đinh Văn Mười, 2012; Trần Văn Thăng và cs, 2016).
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm:
- Bố trí thí nghiệm in vivo: Sử dụng 4 trâu đực (ký hiệu T01: 350 kg, T02: 317 kg, T03: 238 kg, T04: 260 kg), nuôi nhốt cá thể trong từng ô chuồng riêng có máng ăn và vòi uống tự động. Tất cả trâu được tẩy sán lá gan và trải qua thời gian nuôi thích nghi sơ bộ 15 ngày trước khi bước vào các thời kỳ thí nghiệm.
- Thiết kế thời kỳ: Thí nghiệm thực hiện theo phương pháp chia thời kỳ qua 4 giai đoạn ứng với 4 loại thức ăn (Thời kỳ 1: Cây ngô sau thu bắp; Thời kỳ 2: Cỏ voi thường; Thời kỳ 3: Cỏ B. mulato 2; Thời kỳ 4: Cỏ Ghinê TD 58). Mỗi thời kỳ kéo dài 15 ngày, bao gồm 10 ngày chuẩn bị (làm quen thức ăn) và 5 ngày thí nghiệm thu phân. Mức ăn cung cấp hàng ngày được cố định ở mức 120% nhu cầu duy trì.
- Kỹ thuật thu mẫu: Thu toàn bộ lượng phân bài tiết hàng ngày trong 5 ngày thí nghiệm liên tục, cân khối lượng tươi mỗi ngày, lấy mẫu đại diện 10% bảo quản ở 4°C. Hết 5 ngày, trộn đều các mẫu ngày, sấy khô ở 60°C đến khối lượng không đổi, nghiền nhỏ qua rây 1 mm để phân tích. Lượng thức ăn ăn vào và thức ăn thừa cũng được cân và lấy mẫu hàng ngày.
- Phương pháp phân tích phòng thí nghiệm:
- Lấy mẫu theo tiêu chuẩn TCVN 4325-2007.
- Vật chất khô (DM) xác định theo TCVN 4326-2007 bằng phương pháp sấy khô đến khối lượng không đổi.
- Protein thô (CP) xác định theo TCVN 4328-2007 bằng phương pháp Kjeldahl.
- Xơ thô (CF) xác định theo TCVN 4329-2007 bằng phương pháp Henneberg và Stohmann.
- NDF và ADF xác định theo phương pháp của Van Soest và cộng sự (1991).
- Khoáng tổng số (Ash) xác định theo TCVN 4327-2007 bằng phương pháp nung ở 550°C trong 4,5 giờ.
- Công thức tính toán tỷ lệ tiêu hóa và giá trị năng lượng:
- Tỷ lệ tiêu hóa chất A (%) =
[(Lượng chất A ăn vào - Lượng chất A thải ra trong phân) / Lượng chất A ăn vào] * 100.
- Năng lượng thô:
GE (kcal/kg OM) = 4543 + 2,0113 * CP (g/kg OM) ± 32,8 (Jarrige, 1978; Xande và cs, 1989b), sau đó quy đổi về kcal/kg DM và MJ/kg DM.
- Năng lượng tiêu hóa:
DE = GE * dE (kcal/kg OM); với tỷ lệ tiêu hóa năng lượng thô dE = 1,0087 * dOM - 0,0377 ± 0,007 (dOM là tỷ lệ tiêu hóa chất hữu cơ). Quy đổi sang MJ/kg DM.
- Năng lượng trao đổi:
ME (kcal/kg DM) = 1752 - (22 * G24) + (24,9 * DM) - (133 * EE) + (51 * Ash) (Từ Quang Hiển và cs, 2013; với G24 là lượng khí sinh ra sau 24 giờ ủ in vitro). Quy đổi sang MJ/kg DM.
- Năng lượng thuần:
NE = ME * kl; với hiệu quả sử dụng năng lượng trao đổi kl = 0,463 + [0,24 * (ME/GE)] (Jarrige, 1978; Xande và cs, 1989b).
- Xử lý số liệu: Dữ liệu được quản lý bằng Microsoft Excel và phân tích thống kê mô tả (tính số lượng mẫu n, giá trị trung bình Mean, sai số chuẩn SE) bằng phần mềm Minitab phiên bản 17.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Tác giả trình bày tính cấp thiết của việc phát triển đàn trâu tại Việt Nam nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ thịt nạc chất lượng cao. Khóa luận chỉ rõ điểm nghẽn lớn nhất là việc thiếu hụt dữ liệu thực nghiệm tiêu hóa trực tiếp trên trâu tại Việt Nam. Việc phải vay mượn các hệ số tiêu hóa từ cừu, bò hoặc tài liệu quốc tế dẫn đến sai số khi xây dựng khẩu phần. Từ đó, tác giả xác định mục tiêu đánh giá thành phần hóa học, tỷ lệ tiêu hóa in vivo và giá trị năng lượng của 4 loại thức ăn thô xanh phổ biến làm cơ sở khoa học cho thực tiễn sản xuất.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Chương này hệ thống hóa các khái niệm nền tảng về thức ăn gia súc nhai lại, phân tích ưu nhược điểm của các phương pháp đánh giá dinh dưỡng (in vivo, in vitro, in situ, NIRS). Tác giả so sánh cơ chế đánh giá năng lượng và protein giữa các hệ thống tiên tiến: Scandinavơ, NRC (Mỹ), ARC (Anh), INRA (Pháp). Phần tổng quan chỉ ra rằng phần lớn số liệu bảng dinh dưỡng hiện nay được xác định trên cừu (do chi phí thấp hơn đại gia súc), trong khi các công trình đo đạc trực tiếp trên trâu tại Việt Nam còn thiếu vắng.
Phần 3: Vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Trình bày chi tiết đối tượng 4 trâu đực (khối lượng 238-350 kg) và 4 nguồn thức ăn thô xanh. Thiết kế thí nghiệm chia làm 4 thời kỳ nối tiếp, mỗi thời kỳ 15 ngày (10 ngày chuẩn bị, 5 ngày thu mẫu) kèm giai đoạn thích ứng ban đầu 15 ngày. Mô tả chi tiết quy trình lấy mẫu, các tiêu chuẩn phân tích hóa học TCVN (TCVN 4325, 4326, 4327, 4328, 4329-2007) và quy trình Van Soest. Nêu rõ hệ thống công thức toán học xác định các chỉ tiêu GE, DE, ME, NE và công cụ thống kê Minitab 17.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương này tập trung công bố và phân tích 4 nhóm dữ liệu thực nghiệm:
- Thành phần hóa học thức ăn: Tỷ lệ DM, CP, EE, CF, NDF, ADF, Ash của 4 loại thức ăn. Cây ngô sau thu bắp có DM cao nhất (36,86%), cỏ B. mulato 2 có CP cao nhất (8,51%), cỏ voi thường có mỡ thô và khoáng cao nhất (lần lượt 2,46% và 10,68%).
- Thành phần hóa học chất thải (phân): Đánh giá tương quan giữa thức ăn ăn vào và phân thải. Phân của trâu ăn ngô sau thu bắp có CP cao nhất (11,23%); phân của trâu ăn cỏ voi thường có CF (37,23%), NDF (88,45%), ADF (44,62%) và Ash (18,21%) cao nhất.
- Tỷ lệ tiêu hóa in vivo: Phân tích khả năng tiêu hóa biểu kiến các chất dinh dưỡng. Cỏ voi thường dẫn đầu về tiêu hóa DM (75,27%), CP (71,40%), NDF (67,64%) và Ash (57,83%). Cây ngô sau thu bắp dẫn đầu về tiêu hóa EE (68,86%), CF (70,47%) và ADF (67,37%). Khả năng tiêu hóa các chỉ tiêu xơ và protein của trâu vượt trội so với các công bố trên cừu của Đinh Văn Mười (2012).
- Giá trị năng lượng: GE dao động từ 19,52 đến 19,59 MJ/kg DM; DE từ 10,04 đến 14,65 MJ/kg DM; ME từ 7,99 đến 8,87 MJ/kg DM; NE từ 4,48 đến 5,07 MJ/kg DM.
Phần 5: Kết luận và đề nghị
Đưa ra kết luận tổng hợp về khoảng biến thiên của các chỉ tiêu dinh dưỡng và các mức năng lượng của 4 loại thức ăn thô xanh thí nghiệm trên trâu. Đồng thời, đề xuất mở rộng quy mô nghiên cứu in vivo sang các nhóm thức ăn thô khô, thức ăn ủ chua, thức ăn năng lượng và thức ăn giàu đạm.
Kết quả và đóng góp
Số liệu thực nghiệm tổng hợp
Dưới đây là các bảng số liệu chi tiết được trích xuất trực tiếp từ kết quả phân tích trong khóa luận:
| Loại thức ăn |
DM (%) |
CP (%) |
EE (%) |
CF (%) |
NDF (%) |
ADF (%) |
Khoáng tổng số (%) |
| Ngô sau thu bắp |
36,86 |
8,17 |
1,63 |
25,15 |
56,13 |
29,30 |
7,13 |
| Cỏ voi thường |
18,32 |
7,99 |
2,46 |
27,50 |
67,60 |
31,27 |
10,68 |
| Cỏ B. mulato 2 |
20,11 |
8,51 |
1,93 |
26,90 |
60,38 |
29,14 |
10,14 |
| Cỏ Ghinê TD 58 |
21,05 |
7,71 |
1,59 |
31,79 |
69,79 |
36,71 |
9,16 |
Bảng 1: Thành phần hóa học của bốn loại thức ăn thô xanh thí nghiệm (% theo vật chất khô)
| Mẫu phân theo loại thức ăn |
DM (%) |
CP (%) |
EE (%) |
CF (%) |
NDF (%) |
ADF (%) |
Khoáng tổng số (%) |
| Ngô sau thu bắp |
26,80 |
11,23 |
1,78 |
26,04 |
66,94 |
33,54 |
15,39 |
| Cỏ voi thường |
20,42 |
9,24 |
3,14 |
37,23 |
88,45 |
44,62 |
18,21 |
| Cỏ B. mulato 2 |
16,34 |
7,85 |
1,53 |
29,65 |
70,21 |
35,67 |
14,45 |
| Cỏ Ghinê TD 58 |
25,10 |
5,87 |
1,41 |
35,80 |
77,24 |
43,19 |
12,78 |
Bảng 2: Thành phần hóa học của phân bốn loại thức ăn thô xanh (% theo vật chất khô)
| Loại thức ăn |
Tiêu hóa DM (%) |
Tiêu hóa CP (%) |
Tiêu hóa EE (%) |
Tiêu hóa CF (%) |
Tiêu hóa NDF (%) |
Tiêu hóa ADF (%) |
Tiêu hóa Khoáng (%) |
Tiêu hóa OM (%) |
| Ngô sau thu bắp |
71,48 ± 1,06 |
62,19 ± 1,41 |
68,86 ± 1,16 |
70,47 ± 1,10 |
65,99 ± 1,26 |
67,37 ± 1,21 |
38,45 ± 2,29 |
74,02 ± 0,97 |
| Cỏ voi thường |
75,27 ± 1,03 |
71,40 ± 1,19 |
68,43 ± 1,31 |
66,52 ± 1,39 |
67,64 ± 1,35 |
64,71 ± 1,47 |
57,83 ± 1,75 |
77,35 ± 0,94 |
| Cỏ B. mulato 2 |
51,86 ± 5,33 |
55,59 ± 4,92 |
61,83 ± 4,23 |
46,93 ± 5,88 |
44,02 ± 6,20 |
41,07 ± 6,53 |
31,39 ± 7,60 |
54,16 ± 5,08 |
| Cỏ Ghinê TD 58 |
52,11 ± 2,16 |
63,54 ± 1,65 |
57,53 ± 1,92 |
46,07 ± 2,44 |
47,00 ± 2,39 |
43,66 ± 2,55 |
33,19 ± 3,02 |
54,02 ± 2,08 |
Bảng 3: Tỷ lệ tiêu hóa in vivo các chất dinh dưỡng trên trâu (Mean ± SE, n = 4)
| Loại thức ăn |
GE (MJ/kg DM) |
DE (MJ/kg DM) |
ME (MJ/kg DM) |
Tỷ lệ ME/GE |
NE (MJ/kg DM) |
| Ngô sau thu bắp |
19,58 |
14,02 |
8,79 |
0,45 |
5,02 |
| Cỏ voi thường |
19,54 |
14,65 |
7,99 |
0,41 |
4,48 |
| Cỏ B. mulato 2 |
19,59 |
10,10 |
8,62 |
0,44 |
4,90 |
| Cỏ Ghinê TD 58 |
19,52 |
10,04 |
8,87 |
0,45 |
5,07 |
Bảng 4: Giá trị năng lượng của bốn loại thức ăn thô xanh
Đóng góp so với các nghiên cứu trước
- So sánh với dữ liệu tiêu hóa trên cừu của Đinh Văn Mười (2012): Tỷ lệ tiêu hóa protein thô trên cừu của các loại cỏ thô xanh (cỏ Brizantha, cỏ tự nhiên, cỏ Paspalum, cỏ Ghinê) chỉ dao động từ 32,4% đến 59,1%, trong khi tỷ lệ tiêu hóa CP trên trâu ở nghiên cứu này đạt từ 55,59% đến 71,40%. Tương tự, tỷ lệ tiêu hóa CF (46,07 - 70,47%), NDF (44,02 - 67,64%) và ADF (41,07 - 67,37%) trên trâu đều vượt trội so với cừu (CF: 54,4 - 63,5%; NDF: 50,0 - 61,3%; ADF: 54,2 - 62,5%). Điều này xác nhận hệ vi sinh vật dạ cỏ của trâu có năng lực phân giải chất xơ và tiêu hóa protein thô tốt hơn so với cừu.
- So sánh với nghiên cứu in vitro của Trần Văn Thăng và cs (2016) trên cỏ B. mulato 2: Nghiên cứu in vitro ghi nhận tỷ lệ tiêu hóa chất hữu cơ (OMD) đạt 76,27% và năng lượng trao đổi (ME) là 5,35 MJ/kg DM. Tuy nhiên, kết quả in vivo trực tiếp trên trâu cho thấy OMD chỉ đạt 54,16% nhưng giá trị ME thực tế đạt tới 8,62 MJ/kg DM, phản ánh sự khác biệt giữa mô phỏng phòng thí nghiệm và quá trình sinh lý thực tế ở động vật sống.
- Giải pháp kỹ thuật được đề xuất: Do cỏ voi thường, cỏ B. mulato 2 và cỏ Ghinê TD 58 đều có hàm lượng NDF vượt ngưỡng 60% (ngưỡng làm suy giảm lượng ăn vào theo Meissner và cs, 1991), người chăn nuôi khi sử dụng các loại thức ăn này bắt buộc phải phối hợp thêm các loại thức ăn khác để duy trì lượng thu nhận chất khô tối đa.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài:
- Quy mô nghiên cứu mới chỉ tập trung vào 4 loại thức ăn thô xanh đơn lẻ, chưa bao quát các nhóm thức ăn thô khô, thức ăn ủ chua, phụ phẩm nông nghiệp, thức ăn giàu tinh bột hay thức ăn bổ sung đạm.
- Số lượng gia súc thí nghiệm dừng ở quy mô 4 trâu đực, thực hiện tại một địa bàn sinh thái duy nhất (Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển chăn nuôi Miền núi), chưa đánh giá sự biến động giữa các nhóm trâu khác nhau (trâu cái, trâu đang sinh trưởng hoặc trâu nuôi vỗ béo).
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Đề nghị tiếp tục tiến hành các thử nghiệm in vivo để xác định tỷ lệ tiêu hóa và giá trị năng lượng của các loại thức ăn thô khô, thức ăn ủ chua, phụ phẩm công - nông nghiệp, thức ăn năng lượng và thức ăn giàu protein.
- Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu hoàn chỉnh về tỷ lệ tiêu hóa và giá trị dinh dưỡng thức ăn chuyên biệt cho loài trâu tại Việt Nam, giảm thiểu việc tham chiếu số liệu ngoại lai.
Giá trị tham khảo
Tài liệu này hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên cao học và giảng viên các chuyên ngành Chăn nuôi, Thú y, Dinh dưỡng động vật tại các trường đại học khối nông nghiệp: Cung cấp tài liệu tham khảo về phương pháp luận bố trí thí nghiệm thu phân tổng số (in vivo total faeces collection) trên đại gia súc và phương pháp quy đổi năng lượng theo hệ thống dinh dưỡng quốc tế.
- Các cán bộ nghiên cứu tại các viện, trung tâm chăn nuôi: Cung cấp số liệu gốc về tỷ lệ tiêu hóa thực tế của trâu đối với 4 loại thức ăn thô xanh nhiệt đới.
- Kỹ sư dinh dưỡng, chủ trang trại và người chăn nuôi trâu thịt, trâu vỗ béo: Có thể ứng dụng trực tiếp các số liệu về DM, CP, DE, ME, NE trong Bảng 1, Bảng 3 và Bảng 4 để phối hợp khẩu phần ăn chính xác, đáp ứng đúng nhu cầu dinh dưỡng mà không bị lãng phí nguồn thức ăn.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận nghiên cứu trên những loại thức ăn nào và hàm lượng vật chất khô của chúng là bao nhiêu?
Nghiên cứu khảo sát 4 loại thức ăn thô xanh: cây ngô sau thu bắp có tỷ lệ vật chất khô (DM) là 36,86%; cỏ voi thường là 18,32%; cỏ B. mulato 2 là 20,11%; và cỏ Ghinê TD 58 là 21,05%.
2. Thí nghiệm in vivo trên trâu được thiết kế theo quy trình thời gian như thế nào?
Thí nghiệm sử dụng 4 trâu đực (khối lượng 238-350 kg). Trước khi bắt đầu, trâu được nuôi thích nghi 15 ngày và tẩy sán lá gan. Thí nghiệm chia thành 4 thời kỳ tương ứng với 4 loại thức ăn. Mỗi thời kỳ kéo dài 15 ngày, gồm 10 ngày chuẩn bị để trâu quen khẩu phần và 5 ngày thu mẫu phân liên tục, thức ăn được cấp ở mức 120% nhu cầu duy trì.
3. Loại thức ăn nào có tỷ lệ tiêu hóa vật chất khô và chất hữu cơ cao nhất trên trâu?
Cỏ voi thường có tỷ lệ tiêu hóa vật chất khô (DM) cao nhất đạt 75,27 ± 1,03% và tỷ lệ tiêu hóa chất hữu cơ (OM) cao nhất đạt 77,35 ± 0,94%. Tiếp theo là ngô sau thu bắp với tiêu hóa DM đạt 71,48 ± 1,06% và tiêu hóa OM đạt 74,02 ± 0,97%.
4. Dữ liệu trong khóa luận chứng minh trâu tiêu hóa chất xơ và protein tốt hơn cừu như thế nào?
Khi so sánh với số liệu trên cừu của Đinh Văn Mười (2012), trâu tiêu hóa protein thô ở mức 55,59 - 71,40% (ở cừu là 32,4 - 59,1%). Tỷ lệ tiêu hóa xơ thô của trâu đối với ngô sau thu bắp và cỏ voi thường đạt lần lượt 70,47% và 66,52%, tiêu hóa NDF đạt 65,99% và 67,64%, tiêu hóa ADF đạt 67,37% và 64,71%; các chỉ số này trên cừu chỉ dao động trong khoảng 50,0 - 63,5%.
5. Giá trị năng lượng trao đổi (ME) và năng lượng thuần (NE) của 4 loại thức ăn đạt mức bao nhiêu?
Năng lượng trao đổi (ME) của cây ngô sau thu bắp, cỏ voi thường, cỏ B. mulato 2 và cỏ Ghinê TD 58 lần lượt là 8,79; 7,99; 8,62 và 8,87 MJ/kg DM. Năng lượng thuần (NE) tương ứng của 4 loại thức ăn lần lượt là 5,02; 4,48; 4,90 và 5,07 MJ/kg DM.
Kết luận
Khóa luận của Nông Thành Cương đã xác định thành công thành phần hóa học, tỷ lệ tiêu hóa in vivo và các giá trị năng lượng (GE, DE, ME, NE) của 4 loại thức ăn thô xanh phổ biến nuôi trâu gồm ngô sau thu bắp, cỏ voi thường, cỏ B. mulato 2 và cỏ Ghinê TD 58. Kết quả thực nghiệm khẳng định trâu có khả năng tiêu hóa chất xơ và protein thô vượt trội so với các công bố trước đây trên cừu, phản ánh rõ ưu thế sinh lý tiêu hóa của loài này. Toàn bộ hệ số tiêu hóa và định mức năng lượng được cung cấp trong công trình là căn cứ thực nghiệm chuẩn xác phục vụ việc xây dựng khẩu phần cân đối cho trâu nuôi thịt và vỗ béo tại Việt Nam.