Chương 1 GIỚI THIỆU Cây Mai dương là một loài cây bụi, mọc dày đặc và rất nhiều gai cứng, được xem là một trong các loài sinh vật ngoại lai xâm hại ở nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Hiện nay, tại Vườn Quốc gia Tràm Chim (Đồng Tháp), Vườn Quốc gia Cát Tiên, đồng bằng sông Cửu Long, vùng Đông Nam Bộ…, cây Mai dương mọc tràn lan, khó kiểm soát và tiêu diệt (IUCN, 2003). Theo số liệu của Phòng Nghiên cứu Khoa học và Môi trường thuộc Khu Bảo tồn Tràm Chim, những năm 1984-1985, Khu Bảo tồn Tràm Chim (nay là Vườn Quốc gia Tràm Chim) chỉ có vài bụi Mai dương xuất hiện. Năm 1999, diện tích bị Mai dương xâm lấn khoảng 150 ha.
Đến năm 2000, loại cây này đã lây lan và chiếm một diện tích gần 1000 ha. Vào đầu năm 2004, con số này đã là 1500 ha. Với tốc độ lan nhanh như vậy, theo các chuyên gia dự đoán chỉ đến cuối năm 2005, cây Mai dương sẽ chiếm diện tích không dưới 2000 ha (chỉ tính trong vùng lõi) tại Vườn Quốc gia Tràm Chim này (Cửu Long, 2004). Tại An Giang, theo báo cáo của Chi cục Bảo vệ Thực vật tỉnh An Giang, tính đến ngày 20/11/2003, diện tích bị xâm nhiễm Mai dương tại An Giang là 362,72 ha.
Trong đó, xâm nhiễm trên đất lâm nghiệp là 6,5 ha, đất nông nghiệp: 57,56 ha, trên đất không ngập nước (bờ kinh, ven lộ) là 305,21 ha. Địa hình phân bổ diện tích bị nhiễm Mai dương phủ đều 11 huyện thành thị, nhiễm nhiều nhất là ở huyện Thoại Sơn (106,30 ha) (Trung tâm Khuyến nông tỉnh An Giang, 2004). Tác hại chính của Mai dương là làm thay đổi thảm thực vật, gây tác hại đến hệ động vật ở những vùng nó xâm lấn. Hầu như có rất ít loài thực vật có thể mọc được dưới tán Mai dương.
Mai dương mọc dày đặc làm cản trở việc đi lại của con người, động vật và gia súc chăn thả. Người ta cũng thu được từ Mai dương một loại acid amin là mimosine gây độc đối với nhiều loài động vật (IUCN, 2003). 1 Trước đây, Mai dương nhập vào nhiều quốc gia để che phủ đất, chống xói mòn, làm phân xanh, làm thuốc chữa bệnh,…Ngày nay, khi Mai dương phát triển tràn lan, người ta bắt đầu tìm nhiều biện pháp để hạn chế và kiểm soát sự phát triển của Mai dương, trong đó có những nghiên cứu về việc sử dụng Mai dương làm thức ăn trong chăn nuôi. Có thể nói, cây Mai dương đang là đối tượng cần được quan tâm nghiên cứu nhiều hơn.
Hiện nay, ở đồng bằng sông Cửu Long, dê được nuôi ở nhiều nơi nhằm mục đích khai thác thịt và sữa. Dê là loài động vật nhai lại, ăn được nhiều loại thức ăn như lá cây cỏ nghèo dinh dưỡng, chịu đựng cam khổ, khí hậu nóng ẩm. Vốn đầu tư trong chăn nuôi dê tương đối thấp, chuồng trại đơn giản, có thể tận dụng được thức ăn có sẵn trong tự nhiên. Dê rất mắn đẻ, bình quân mỗi năm đẻ 2 lứa.
Nó có hiệu suất sử dụng thức ăn cao, dễ nuôi (Hồ Quảng Đồ, 2000). Nhưng trong thời gian qua, con dê chưa được mọi người quan tâm đúng mức. Nguồn thức ăn để nuôi dê hiện nay có nhiều, nhưng người dân chưa tận dụng một cách triệt để. Do vậy cây mai dương có thể là nguồn thức ăn xanh bổ sung đạm có giá trị đối với dê thịt chăn nuôi gia đình.
Mục tiêu của đề tài này là: - Xác định thành phần dinh dưỡng chủ yếu của cây mai dương để làm thức ăn cho dê thịt. - Xác định tỉ lệ tiêu hóa các dưỡng chất trong khẩu phần của dê thịt có sử dụng cây mai dương. 2 Chương 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2. Một số đặc điểm thực vật và phân bố địa lý của cây Mai dương (Mimosa pigra L.
Mô tả Cây Mai dương còn có các tên khác là: Cây Ngưu ma vương, cây Mắc cỡ Mỹ, cây Trinh nữ nhọn, móng mèo…, tên khoa học là Mimosa pigra L., thuộc họ Mimosaceae, chi Mimosa, có 400 - 450 loài, hầu hết có nguồn gốc từ Trung và Nam Mỹ. Cây Mai dương được Linnaeus mô tả là một loài riêng lần đầu tiên vào năm 1759 (Lonsdale, 1992). Mai dương (a) thân, (b) lá, (c) hoa và (d) trái và hạt 3 Mai dương là một loài cây bụi thường mọc ở nơi đất trống, ẩm ướt ở vùng nhiệt đới, có thể cao đến 6 m. Thân phân nhiều nhánh, trên thân và cành có nhiều gai nhọn, gai dài khoảng 7 mm với đáy to.
Lá có 2 lần kép lông chim. Cuống dài 0,3-1,5 cm. Sóng lá chét dài 3,5-12 cm, có gai thẳng đứng, mảnh, mũi nhọn hướng lên trên, ở giữa gốc của 6-14 cặp lá chét và thỉnh thoảng có gai mọc chệch hoặc mọc giữa các cặp lá. Mỗi lá chét có khoảng 20-42 cặp lá chét con, thuôn, dài 3-8 mm, rộng 0,5-1,25 mm; gân lá gần song song với gân giữa, mép lá có lông tơ.
Các lá thường co lại khi bị tác động nhưng thường chậm hơn so với các loài cây mắc cỡ khác. Hoa màu hồng, phát hoa hình đầu, đường kính khoảng 1 cm. Mỗi phát hoa có khoảng 100 hoa. Mỗi nách lá có 1-2 phát hoa.
Đài nhỏ, xẻ không đều, dài 0,75-1 mm. Tràng dài 2,25-3 mm, 8 tiểu nhị. Chụm trái trung bình khoảng 7 trái. Trái màu nâu, dài 3-8 cm, rộng 0,9-1,4 cm, trên trái có nhiều lông và có từ 14-26 đốt, mỗi đốt chứa 1 hạt, khi chín rụng từng đốt chừa lại hai bìa.
Hạt khi chín có màu nâu hay xanh ô-liu, kích thước hạt: 4-6 mm, trọng lượng 100 gr hạt: 1,1g. Từ khi cây ra hoa đến lúc trái chín khoảng 5 tuần. Đốt trái rất nhẹ, có lông, do đó rất dễ phát tán theo gió hay trôi theo dòng nước (Lonsdale, 1992) hoặc dính vào lông chim hoang. Phân bố địa lý Cây Mai dương có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới Châu Mỹ và hiện nay phân bố rộng khắp các vùng nhiệt đới.
Cây Mai dương là cỏ dại ở Malaysia, Myanmar, Lào, Cambodia và Việt Nam (Lonsdale, 1992). Người ta không biết cây Mai dương xâm nhập vào Việt Nam khi nào, nhưng đã phát hiện những vùng bị cây Mai dương xâm lấn ở miền Bắc như Vĩnh Phú, Hà Nội, Hải Hưng, ở miền Trung như Bảo Lộc, ở miền Nam như phía Bắc sông La Ngà, thành phố Hồ Chí Minh, đồng bằng sông Cửu Long (Miller và cộng sự, 1992). Sinh thái Khí hậu nhiệt đới với hai mùa khô và ẩm rất thích hợp cho cây Mai dương. Nó được tìm thấy ở những vùng nhiệt đới có lượng mưa hàng năm > 750mm, ngoại trừ xung quanh các đập nước và sông suối.
Cây Mai dương không kén đất nhưng thường mọc ở nơi ẩm ướt như đồng bằng ven sông, ven 4 biển. Nó có rất ít hoặc không có loài thiên địch, và ít bị ảnh hưởng bởi sự cạnh tranh khác loài. Cây Mai dương tạo nên thảm cây bụi cao, dày đặc, rậm rạp, che bóng không cho hạt của các loài cây bản địa nẩy mầm. Nó còn chiếm cả những hồ nước nông, chỉ chừa lại một khoảnh nhỏ nước sâu xa bờ (Lonsdale, 1992).
Sinh trưởng và phát triển Ở đất ngập nước theo mùa, cây Mai dương trưởng thành có nhiều nhánh mọc từ gốc với hệ thống rễ phụ. Rễ cọc lớn cắm sâu vào lòng đất dài 1-2 m với hệ thống rễ bên mở rộng đến 3,5 m ở độ sâu khoảng 5 cm. Cây rụng bớt lá trong mùa khô, đến gần cuối mùa khô thì lá rụng đến 40-50%. Ở đất ngập nước vĩnh viễn, cây sinh trưởng và ra hoa liên tục hoặc nhiều hoặc ít quanh năm.
Tỉ lệ nụ nở thành hoa rất thấp trong mùa khô. Tỉ lệ nụ hoa nở tạo thành hạt là 2,1- 4,5%. Phần lớn quần thể cây Mai dương nằm tiềm ẩn trong đất dưới dạng hạt. Chiều cao cây tăng trưởng cực đại là 1,33 cm/ngày ở cây mầm và 1,1 cm/ngày ở cây hơn một năm tuổi.
Lá kép ở nhiều loài cây thuộc chi Mimosa nhạy cảm với các loại kích thích khác nhau như điện, cơ học, hóa chất, nhiệt độ, vết cắt và ánh sáng. Loại này cũng có đặc tính khép lá ban đêm (Lonsdale, 1992). Mùa mưa là mùa sinh trưởng chủ yếu của cây. Thời kỳ ra hoa chính là từ giữa đến cuối mùa mưa, nhưng hoa vẫn tiếp tục trổ khi nào môi trường còn đủ nước cung cấp cho cây.
Từ búp nụ nở thành hoa trong khoảng 7-9 ngày, và thành trái trưởng thành cần thêm 25 ngày hoặc hơn. Hạt đầu tiên rụng một tháng trước mùa mưa, hạt rụng nhiều nhất vào cuối mùa mưa, đầu mùa khô. Không tìm thấy nấm ở Mai dương, chỉ có một ít chủng Rhizobium. Tuy nhiên, những nốt sần có kích thước nhỏ và ít nên chúng không phải là nguồn nitrogen đáng kể cho cây (Lonsdale, 1992).
Sinh sản Cây con phát triển rất nhanh và ra hoa vào khoảng 4-12 tháng sau khi nẩy mầm. Cây tạo trái sau khi ra hoa gần 5 tuần và trái chín khoảng sau 3 tháng (Department of the Environment and Heritage and the CRC for Australian Weed Management, 2003). Ở xứ bản địa, cây Mai dương là loài thụ phấn nhờ ong. Cây tự thụ phấn khi không có vật truyền hạt phấn, đôi khi 5 thụ phấn nhờ gió.
Trong môi trường ẩm ướt, cây cũng có hiện tượng thai sinh. Mỗi năm cây tạo trung bình 9000 hạt/cây. Ở nơi khô hơn cây tạo ít trái hơn. Cây mọc gần hồ có nhiều trái hơn cây mọc ở đồng lũ.
Mỗi đốt trái có lông nên trôi nổi trong nước, do đó hạt phát tán nhanh chóng theo hệ thống sông ngòi (Lonsdale, 1992). Hạt của Mai dương cứng nên nước thoát dần ra khỏi hạt tươi có lẽ qua rốn hạt. Hạt nẩy mầm không cần trải qua miên trạng, cũng không nhạy cảm với ánh sáng. Hạt sống hơn 5 năm trong phòng thí nghiệm.
Hạt có thể tồn tại ít nhất 23 năm trong đất cát. Nhiệt độ cao cũng không ảnh hưởng đến sức sống của hạt, hơn nữa dao động của nhiệt độ còn làm vỡ vỏ hạt và làm hạt dễ hút nước để nẩy mầm. Vì luôn có một số lượng lớn hạt nằm sâu trong đất ít bị thất thoát nên phải kiểm soát cây mầm nhiều năm sau khi đã loại trừ được cây trưởng thành. Tỉ lệ nẩy mầm cao nhất khi hạt nằm ở khoảng 1 cm trong đất và thấp đến bằng 0 ở 10 cm trong đất.
Phần lớn hạt nằm trong khoảng 10 cm cách mặt đất (Lonsdale, 1992). Mai dương có thể nẩy mầm quanh năm nếu đất ẩm nhưng không bị ngập lụt, và phần lớn sự nẩy mầm xảy ra vào đầu và cuối mùa mưa. Sức sống của hạt thấp trong suốt mùa khô.