CHƯƠNG 1: BOI CANH HÌNH THÀNH DE TÀI, MỤC TIỂU VA NHIỆM VU CUA LUẬN VĂN. Bồi cảnh hình thành đề tài luận văn. Trước tình hình phản ứng phụ khá gay gắt khi sử dụng tân dược trong điều trị vào dau những năm thập niên 80 thế ky 20, tổ chức y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo nên sử dụng các phương thức không dùng thuốc tân dược trong điều trị. Ở Việt Nam, từ lâu đã có hai phương pháp điều trị không dùng thuốc tân được.
Đó là phương pháp châm cứu và sử dụng đông dược trong chữa bệnh. Phương pháp điều trị bằng châm cứu đã được sử dụng rộng rãi trong chữa bệnh từ tuyến xã đến tuyến tỉnh. Song khi sử dụng phương pháp châm cứu trong điều trị thì xảy ra nguy cơ lây lan những căn bệnh hiểm nghèo như: viêm gan siêu vi B, C, bệnh HIV. qua kim châm.
Việt Nam có truyền thống sử dụng đông dược trong điều trị. Đây là phương pháp thứ hai trong điều trị không dùng thuốc tân dược. Việt Nam là một nước được thiên nhiên ưu đãi, có khoảng 4000 cây thuốc trong đó có nhiều loại dược liệu quý được thế giới công nhận. Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua chúng ta chỉ khai thác nguồn đông dược quý báu này mà không chú ý đến việc nâng cao chất lượng các loại đông dược quý báu đó.
Trong bối cảnh ấy, năm 1985 phòng thí nghiệm Công nghệ laser trình bày với Ban giám hiệu trường Đại học Bách Khoa thành phố Hỗ Chí Minh định hướng nghiên cứu mới của mình với tên gọi “Nghiên cứu ứng dụng laser bán dẫn công suất thấp trong y học và sinh học”. Bước đột phá đầu tiên của định hướng này là chương trình “Nghiên cứu ứng dụng laser bán dẫn công suất thấp trong châm cứu cô truyền phương Đông”. Từ đó đến nay, theo định hướng “Nghiên cứu ứng dụng laser bán dẫn trong y học” phòng thí nghiệm công nghệ laser đã thu được không ít thành công Luận văn thạc sĩ HVTH: Hồ Thụy Minh Hiển 2 [23]. Trên cơ sở ấy, phòng thí nghiệm công nghệ laser tiến hành nghiên cứu về thứ hai của định hướng: “Nghiên cứu ứng dụng laser trong y học và sinh học”.
Bước đột phá đầu tiên của về thứ hai của định hướng nghiên cứu được để ra năm 1985 là chương trình với tên gọi “Nghiên cứu ứng dụng laser bán dẫn công suất thấp trong nâng cao chất lượng quý báu của một số loại Đông dược quý của Việt Nam”. Dé tài luận văn thạc sĩ với tên gọi: “Tương tác chùm tia laser bán dân công suât thâp lên cây trinh nữ hoàng cung” là những bước đi của chương trình nghiên cứu ây. Mục tiêu cua dé tài luận van. Mục tiêu chính của đề tài là: Xây dựng được phương pháp nghiên cứu bằng thực nghiệm, nâng cao hàm lượng lycorine trong lá của cây trinh nữ hoàng cung băng chùm tia laser bán dân công suât thâp.
Nhiệm vụ chính của đề tài luận văn. Đê thực hiện hoàn chỉnh mục tiêu chính nêu trên, cân phải thực hiện: 1) Tiến hành thực hiện tong quan các van dé chính liên quan trực tiếp đến dé tài, bao gồm: e Những van dé cơ bản về cây trinh nữ hoảng cung. e Hàm lượng lycorine của hợp chat alkaloid. e Việc sử dụng trinh nữ hoàng cung trong điều trị.
e Các công trình nghiên cứu ứng dụng laser công suất thấp lên thực vật. 2) Xây dựng phương pháp nghiên cứu băng thực nghiệm sự tương tác của chùm tia laser bán dẫn làm việc ở các bước sóng khác nhau với công suất thấp lên cây trinh nữ hoàng cung nhằm nâng cao hàm lượng lycorine của hop chat alkaloid trong lá trinh nữ hoàn cung. 3) Xây dựng phương pháp phân tích để đánh giá hàm lượng lycorine trong lá trinh nữ hoàng cung. 4) Đánh giá kết quả nghiên cứu bằng thực nghiệm.
Luận văn thạc sĩ HVTH: Hồ Thụy Minh Hiển 3 CHƯƠNG 2: TONG QUAN CÁC VAN DE CHÍNH LIEN QUAN TRỰC TIẾP DEN DE TAL 2. Khái quát về cây trinh nữ hoàng cung Trinh nữ hoàng cung có tên khoa học là Crinum latifolium L. thuộc ho Amaryllidaceae hay còn gọi là họ Thủy tiên (Náng loa kèn). Họ Amaryllidaceae theo hệ thống phân loại ngành thực vật hạt kín của nhóm tác giả A.
Takhtajan công bố năm 1987 và sửa đổi năm 2009 [3. 15] được phân loại như sau: Ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta) v Lop hanh (Liliopsida) Vv Phân lớp Hành (Liltidae) Vv Liên bộ hành (Lilianae) Vv Bo Thuy Tién (Amaryllidales) Vv Ho Thuy tién (Amaryllidaceae) Vv Chi Crinum Vv Crinum latifolium L. So dé 1: Hé thong phán loại ngành thực vat hat kin Luận văn thạc sĩ HVTH: Hồ Thụy Minh Hiển Hình 1: Cay trinh nit hoàng cung khi ra hoa Đa số các loài thuộc họ Thủy tiên nói chung hay cây trinh nữ hoảng cung nói riêng đều có dạng thân cỏ, sống nhiều năm nhờ thân hành hay thân rễ. Cây trinh nữ hoảng cung có thân hành to, hình cầu, đường kính 10 — 12 em, lá hình dải có bẹ mọc ốp vào nhau thành một thân giả ngăn, phiến lá mỏng dài 60 — 90 em, rộng 6 — 11 em, gân lá song song, mép lá lượn sóng, hơi nhám, mặt trên lá lõm thành rãnh, mặt dưới lá có một số gân lá nổi rất rõ, đầu be lá nơi sát đất có màu đỏ tia.
Lá cây trinh nữ hoảng cung rất ưa nước phát triển mạnh vào mùa mua, khi vào mùa khô cây phát triển chậm lại, lá phát triển chậm, từ thân hành moc rất nhiều củ con có thé tách ra dé trồng riêng dé dàng. Mỗi năm cây trưởng thành cho 6 — 8 lá mới va sinh thêm 3 — 5 hành con. Cây ra hoa hang năm vào khoảng tháng 6 — 8. Hoa mọc thành tán gồm 6 — 12 hoa trên một tán hoa, dài 30 — 60 em.
Cánh hoa mau trang hơi phot hồng, bao hoa hơi cong dài 7 — 10 em, phiến hoa dài hình ống rộng tới 2,5 em có mỏ bao quanh hình tam giác dài 7 cm. Tuy nhiên, bộ phận sử dụng chủ yếu là lá và thân hành [3]. Theo tài liệu của nhóm tác giả Võ Văn Chi, cây trình nữ hoàng cung mọc hoang ở ven suối trong rừng, mọc nhiều ở các xứ nhiệt đới như: Việt Nam, Lào, Campuchia, Ấn Độ, Nhật Bản, Thái Lan, Malaixia. Ở Việt Nam, cội nguồn của cây trinh nữ hoàng cung là ở Huế, Bà Rịa - Vũng Tàu và được trồng rộng rãi ở các tỉnh từ Quang Nam — Đà Nẵng trở vào [3].
Luận văn thạc sĩ HVTH: Hồ Thụy Minh Hiển Bên cạnh đó, trinh nữ hoàng cung là loại cây trong chi crinum mà các cây thuộc chỉ crinum đều có hình thái tương đồng nhau nên dé tránh nhằm lẫn, tác giả Võ Thị Bạch Huệ cùng các cộng sự đã phân tích va phân biệt Crinum latifolium L. với một số loại Crinum khác trên một sô bộ phận nhận được một sô điêm khác nhau sau: Bảng 1: So sánh một số đặc điểm hình thái của một số loài Crinum [16]. Crinum Crinum Crinum Bộ ,. Crinum Crinum Crinum Câu tạo Latifolium Asiaticum | Amabile phan spl sp2 sp3 L.
Linn Donn Than | Than hanh có áo có áo có áo có áo đặc đặc Màu bẹ lá Tím Trăng Tím Trăng Tím Trăng Phiến lá: - đài (cm) 95 90 85 90 120 140 La -rộng(cm) | 8 6 7 6 15 17 Mép lá lượn | ++ + + - + + song Ông nhựa| - - - - + + mủ Ông bao hoa: 8 12 11 12 8 10 - dai (cm) 0.6 Hoa | - rộng (cm) , , Phớt hông Trăng Trăng sọc | Trăng Trăng Trăng sọc Màu của , F tim tim phién 1a H 14 .5 - - : - + + Cựa ở đỉnh Chỉ | Màu Trăng Trên tím | Trên tím | Trắng Trên tím | lrên tím nhị đậm, đậm, dưới đậm, dưới | đậm, dưới Luận văn thạc sĩ HVTH: Hồ Thụy Minh Hiển 6 dưới trắng trắng trắng trắng Màu Vàng nhạt Vàng Vàng đậm | Vàng Vàng Vàng đậm Bao , | Dài (cm) 3 2.5 noan Vòi | Dài (cm) 22 21 20 22 15 18 nhụy Tại Việt Nam, hai loại Crinum có thé dé dàng tìm thấy là Crinum latifolium L. (Trinh nữ hoàng cung) va Crinum asiaticum L. Hai loại này néu nhìn hình thái bên ngoài có thé dẫn đến nhằm lẫn. Bởi vay, tác giả Võ Thi Bạch Huệ cùng các cộng sự đã phân tích hai trinh nữ hoàng cung va nang hoa trăng vê hình thái, vi phẫu cát ngang lá cho thay một số điểm khác nhau [16]: Bang 2: So sánh về hình thái và giải phẩu của hai cây Crinum latifolium L.
và Crinum asiaticum L. Trinh nir hoang cung Nang hoa trang (Crinum latifolium L.) Than hanh nhu cu hanh tay Thân hành hình trứng thuon La mong hơn, màu xanh nhạt Lá dày hơn, màu xanh đậm hơn hơn Hinh thai Mặt dưới sóng lá có một gờ săt Mặt dưới sóng lá trơn nhẫn chạy dọc Hoa trăng phớt hông Hoa trắng Vi phẫu lá Mặt dưới sóng lá tạo thành một Mặt dưới sóng lá đường vòng cát ngang góc tù cung déu đặn Luận văn thạc sĩ HVTH: Hồ Thụy Minh Hiển 7 Không đối xứ qua sóng lá, một | Đôi xứng qua sóng lá bên mặt hõm vào Mô khuyết nhỏ, không rõ Mô khuyết rat to giữa hai bó libe — gỗ Tinh thé calci oalat hình ruột | Tinh thé calci oxalat hình kim chì 2. Thành phần hóa học của cây trinh nữ hoàng cung Chi Crinum được xem là đại diện của họ Amaryllidaceae do thành phan hoa học có hau hết các hợp chất của các chi khác trong họ. Thanh phần hóa học của chi Crinum được nghiên cứu từ năm 1950 bởi nhóm tác giả Ghosal và các cộng sự gồm hai nhóm hợp chất là alkaloid, non-alkaloid.
Trong hai nhóm hợp chất, có khoảng 180 alkaloid và 100 non-alkaloid thuộc nhiều nhóm cấu trúc khác nhau được phân lập và định danh. Hợp chất alkaloid là một trong những nhóm chất thứ cấp quan trọng có mặt ở nhiều loại cây khác nhau trong chi Crinum [17]. Theo kết quả phân tích thành phần hoá học cây trinh nữ hoàng cung ở Việt Nam của một số tác giả [16] thì lá cây có chứa lượng lớn alkaloid, saponin, axit hữu cơ, axit amin và chất chống oxy hoá. Alkaloid là nhóm chat quan trọng nhất của trinh nữ hoàng cung, bao gồm chủ yếu là lycorin, hippadin, ambellin và các dẫn suất của chúng.
Hàm lượng alkaloid trong lá cây tăng dân từ đầu mùa mưa cho đến tháng 5, hàm lượng alkaloid đạt cao nhất vao trước thời kỳ cây ra hoa và đến dau thang 6, khi cây trổ hoa thì giảm đột ngột [17]. Đặc biệt các alkaloid này chỉ tìm thay ở trinh nữ hoàng cung và một số loài khác thuộc họ Amaryllidaceae mà không hé tồn tại ở bat cứ họ nào khác.