LỜI MỞ ĐẦU Mỹ phẩm là một trong những nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống, với nền kinh tế ngày càng phát triển như hiện nay thì nhu cầu sử dụng mỹ phẩm ngày càng nhiều, càng cao. Vì chúng không những giúp cho chị em phụ nữ ngày càng trẻ trung mà còn là một nhu cầu không thể thiếu cho chúng ta khi giao tiếp ngoài xã hội, giúp chúng ta tự tin hơn. Sự phát triển ngày càng cao về kinh tế và sự phát triển khoa học kỹ thuật cùng với tân tiến của máy móc thiết bị cũng như việc đòi hỏi khắc khe về chất lượng và sự cạnh tranh để tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao cấp, phục vụ theo nhu cầu của người tiêu dùng. Hiện nay xu hướng quay về với thiên nhiên ngày càng được chú trọng hơn là sử dụng các hợp chất tổng hợp.
Nghệ có nhiều loại, hiện nay là phổ biến nhất là chiết xuất nghệ vàng, nghệ vàng được trồng một cách đại trà và được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực: dược phẩm, mỹ phẩm, thực phẩm chức năng. Nhưng bên cạnh đó, dân gian cũng truyền bá một loại thực vật cùng họ với nghệ vàng nhưng chỉ mọc hoang ở những vùng cao, với tên gọi là nghệ trắng, cũng có tác dụng sinh học có lợi cho cơ thể.Tuy nhiên tại Việt Nam, việc ứng dụng chiết xuất nghệ trắng vẫn chưa được nghiên cứu cụ thể. Do đó, đề tài với xu hướng đi từ chiết xuất tự nhiên, đặc biệt là giới thiệu và đồng thời nâng cao giá trị của thảo dược Việt Nam ra thị trường trong nước lẫn ngoài nước, đã định hướng nghiên cứu sử dụng chiết xuất Nghệ Trắng vào mỹ phẩm. Đây là một đề tài có tiềm năng và có tính khả dụng cao.Tổng quan về nghệ trắng: 2.Cây Nghệ trắng: Tên khoa học: Curcuma aromatica Salisb Tên thông thường: Wild Tumeric.
Tên Việt Nam[2]: nghệ trắng, ngải trắng, ngải mọi, nghệ sùi. Tên trong đông y Việt Nam [2]: ngọc kim, uất kim. Phân lớp : thực vật 2 lá mầm, thuộc bộ Zingiberales, họ Gừng – Zingiberaceae, phân họ Zingiberoideae, chi Curcuma. Là cây thảo cao khoảng 20-60cm (1m), có thân rễ khỏe, thân rễ hình con quay có nhiều rễ con hình trứng, thịt màu trắng lục, hơi vàng, rất thơm.
Lá rộng hình giáo, nhẵn ở mặt trên, có lông mềm mượt ở mặt dưới, dài 30-60cm, rộng 10-20cm; cuống lá ngắn ôm lấy thân. Cây mọc hoang ở nơi đất ẩm, mát ven rừng, ven suối [1]. Hình 1: Hoa và củ nghệ trắng Curcuma aromatica Đây là thực vật châu Á nhiệt đới. Nghệ trắng được trồng khá phổ biến ở Ấn độ, Trung Quốc, Thái Lan.
Ở Việt Nam nghệ trắng phân bố hầu khắp nước ta. Cây mọc hoang ở nơi đất ẩm, mát ven rừng, ven suối khu vực miền trung Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Ngãi và vùng trung cao nguyên như Đaklak, Lâm Đồng, cây cũng thường được trồng trong các vườn gia đình để lấy củ thơm. Thu hoạch thân rễ vào mùa thu hay đông. [1] Lá, cuống lá, củ của nghệ trắng đều có chứa tinh dầu, tùy thuộc vào điều kiện thổ nhưỡng mà có sự khác nhau về thành phần tinh dầu.
Nhưng nhìn chung tinh dầu có màu tím nhạt đến tím đậm và có mùi hơi giống mùi long não. Tinh dầu Curcuma aromaticathường 7 được biết chứa các thành phần mono và sesquiterpenes. Các sesquiterpenes chủ yếu là 1 α- và 1 β-curcumene. Trong tinh dầu còn chứa các monocyclic tertiary sesquiterpene alcohol, camphor, p- camphene, p- methoxycinnamic và các acid khác [2,3].
Nhưng những nghiên cứu gần đây thì có chứa curcumol trong tinh dầu. Tinh dầu của lá, cuống lá, củ của tinh dầu nghệ trắng (chiết bằng chưng cất lôi cuốn hơi nước) từ Assam, Ấn Độ có thành phần như sau: Bảng 1: Thành phần chính trong tinh dầu chủ yếu trong một số bộ phận của nghệ trắng Ấn độ Thành phần Lá (%) Cuống lá (%) Củ (%) 1,8 -Cineole 20 8.4 Bên cạnh một số thành phần cần chú ý như:limone trong tinh dầu của lá, elsholtzia ketone trong cuống lá [4]. Tinh dầu trong củ nguồn Ấn Độ còn chứa các thành phần khác như 34% curcumene, 15% curcumene and 11% zingiberene. Trong khi tinh dầu từ củ ở Nhật bản được tìm thấy các thành phần sau: urdione, germacrone,1,8- cineole, (4S, 5S)- germacrone,(4S, 5S)- epoxide, elemene, và linalool [5].
Ở Argentine thì thành phần tinh dầu được tìm thấy 19% curcumene, 26% Z- curcumene và 26% xanthorrhizol[6]. Ở Trung Quốcthì thấy pinene, camphene, 1,8- cineole, isofuranogermacrene,borneol, isoborneol, camphor, germacrone, and tetramethyl pyrazine [7]. Ở Việt Nam cũng tìm thấy các thành phần tương tự như trên ở tinh dầu từ củ. Hoạt chất và tính chất của chiết xuất nghệ trắng: 2.
Hoạt tính kháng oxy hóa: Ruberto và Baratta (2000)[8] báo cáo rằng vài thành phần thiết của chiết xuất (α- pinene, β-pinene, α-terpineol, 1,8-cineole, camphor, p-cymene, 2-heptanol, linalol oxide, 2- nonanol, caryophyllene và α-humulene) tại 1000ppm thì khả năng ức chế sự peoxy hóa tương ứng là 12.7% theo phương pháp thiobarbituric acid reactive species (TBARS). Weng (2004) [9]báo cáo rằng thân rễ nghệ 8 trắng chứa thành phần những tinh dầu thiết yếu này và trải dài từ 0.Ngoài ra, tinh dầu limonene tại 0.01M biểu hiện khả năng ức chế sự peoxy hóa là 21.Những thành phần tinh dầu chủ yếu đề cập ở trên có trong thân rễ nghệ trắng và góp phần vào khả năng hoạt động chống oxy hóa của nghệ trắng. Chiết củ nghệ trắng chiết bằng dung môi ethanol và nước nóng cho thấy tổng hàm lượng phenol là thành phần chính kháng oxy hóa là 53. Từ kết quả này thể hiện khả năng kháng oxy hóa tốt của chiết xuất từ củ nghệ trắng[10].
Hoạt tính kháng khuẩn: [11,12,13] Tinh dầu củ nghệ trắng được chiết bằng phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước và được khử trùng trước khi thử nghiệm tính kháng khuẩn.Thử nghiệm tính kháng khuẩn ở phương pháp khuyến tán đĩa và phương pháp pha loãng. Vi sinh vật thử nghiệm: • Vi khuẩn gam dương: Vibrio cholerae (NVC), Salmonellaenteritidis (SE), entero toxigenic E. • Vi khuẩn gam âm:Staphylococcus aureus (SA) vàBacillus cereus ATCC 11606(BC)] Kết quả : cả 2 phương pháp đều thấy có sự ức chế vi khuẩn. Trong phương pháp pha loãng thì MIC đối với BC có độ nhạy cảm cao nhất trong 6 lại vi khuẩn kiểm tra là 0.
Hoạt tính kháng khuẩn của tinh dầu đối với BC không bị ảnh hưởng sau khi giai nhiệt ở 121oC trong 20 phút[11]. Trong nghiên cứu khác, hợp chất curcumin trong tinh dầu rễ nghệ trắng có tác dụng kháng khuẩn và nấm, tính kháng nấm hiệu quả hơn kháng khuẩn.Rara và Kurucheve cho thấy tinh dầu từ củ nghệ trắng có hoạt tính kháng lại nấm Macrophomina phaseolina[12]. Chiết xuất ethanolic của củ nghệ trắng đã được tìm thấy hoạt tính kháng khuẩn mạnh đối với Bacillus cereus ở 1000 µg/ml và kháng khuẩn trung bình đối với viêm phổi Klebselia, Staphylococcus aureus và nấm Candida albicans[13]. Hoạt tính kháng viêm:[14,15,16] Dịch chiết nước và cồn của nghệ trắng thể hiện cho thấy hoạt động chống viêm đáng kể trên chân của chuột khi tiêm carrageenan (chất bảo quản sử dụng trong thực phẩm và thuốc), và hiệu quả tương tự như prednisolone (chất chống viêm và kích ứng).
Dịch chiết từ cồn có hiệu quả thấp hơn dịch chiết từ nước [14]. Tinh dầu từ củ nghệ trắng cũng có khả năng kháng viêm [15]. 9 Tinh dầu của củ nghệ trắng (chiết bằng dung môi cồn) có hiệu quả kháng viêm đáng kể khi thử trên chuột đã tiêm arachidonic acid (chất gây viêm tai) [16]. Hoạt tính làm liền sẹo:[16] Tinh dầu của củ nghệ trắng (chiết bằng dung môi cồn) có hoạt tính làm lành vết thương đáng kểkhi cho vào một công thức kem mỹ phẩm.
Sau đó tiến hành thoa khi thử ở vết cắt trên chuột thí nghiệm trong khoảng thời gian 16 ngày và kiểm tra phần trăm khu vực co của vết thương. Kết quả sau 16 phần trăm tăng lên từ 83% đến 99 % tùy thuộc mẫu kem thoa trên vết thương. Hoạt tính kháng giun: [17,18,19,20] Chiết xuất nghệ trắng có khả năng kháng giun hay ức chế chống lại mọi hoạt động của giun đặc biệt là giun Meloidogyne incognita (MI).Dịch chiết Butanolic ức chế tối đa sự nôi dưỡng của MI sau khi tiếp xúc được 120 giờ và ở nồng độ 1000 ppm[17]. Dịch chiết cồn cho thấy có khả năng kháng lại giun đũa [18].
Zederon, một sesquiterpenoid phân lập tự củ nghệ trắng cho thấy hoạt tính chống lại ấu trùng của Spilarctia oblique hình sao[19].Neocurdione,isopro-curcumenol, và 9- oxoneoprocurcumenol, trong tinh dầu cũng có tác dụng kháng giun[20]. Hoạt tính kháng ung thư:[21] Một sốbài báo cáo trước kết luận rằng chiết xuất từ thân rễ trắng có thể ức chế sự tăng trưởng của tế bào ung thư khác nhau trong vitro và in vitro. Các nghiên cứu gần đây cho thấy tinh dầu nghệ trắng là hợp chất bao gổm nhiều thành phần chống khối u như: β-elemene, curcumol, curdione, elemicin… 2. Hoạt tính giảm đường huyết: [22] Ara và các cộng sựthấy rằng germacrone,(4S,5S) epoxide được tìm thấy trong chiết xuất nghệ trắng có hạn chế mức độ đường trong máu.1Trongy học cổ truyền:[2] Từ lâu nghệ trắng đã được sử dụng như một loại cây thuốc điều trị giảm đau, kháng viêm và như một loại gia vị ở Ấn Độ và Đài Loan.
Phụ nữ dân tộc Thái dùng thân rễ nghệ trắng làm thuốc chữa bế kinh, huyết tích bằng cách phối hợp với thân rễ nghệ vàng và nghệ đen (liều lượng mỗi thứ 20g), ngâm nước trong một ngày một đêm, thái mỏng, phơi khô, sắc với 400 ml 10 còn 100 ml, uống làm 2 lần trong ngày. Để chữa băng huyết, máu xấu, đau bụng kinh: nghệ trắng, nhọ nồi (sao cháy), hương phụ tử chế, mần tưới (sao vàng) mỗi vị 20g, tô mộc 16g, ngải cứu 12g (sao đen). Tất cả thái nhỏ, sắc uống làm 2 lần trong ngày. Nghệ trắng còn có tác dụng hành khí giải uất, lương huyết phá ứ lợi mật, trừ hoàng đản.
Công dụng thường dùng trị tức ngực và trướng bụng; nôn ra máu và chảy máu cam; viêm gan mạn, xơ gan đau nhức, hoàng đản. Người ta còn dùng củ giã ra ngâm trong rượu hoặc sao lên và trộn với những vị thuốc khác để trị đau thấp khớp. Dùng ngoài, nghệ trắng phối hợp với rễ ô đầu, nhân hạt gấc, mật gấu, mật trăn, huyết linh, ngâm rượu dùng xoa bóp chữa bong gân, sai khớp. Nhân dân vùng đồng bằng miền Nam dùng thân rễ nghệ trắng chữa sưng tấy, tê thấp.
Nhân dân vùng Sầm Nưa (Lào) coi nghệ trắng như một vị thuốc bổ dùng cho phụ nữ sau khi sinh. Trong y học hiện đại: Nghiên cứu trước đây đã chứng minh có thể giảm MnSOD trong biểu bì Barrett ở bệnh nhân và biểu bì thực quản dạng ống ở chuột sau khi thông 2 mạch biểu bì (EDA) [23]. Curcuma aromatica bảo vệ tế bào khỏe mạnh từ các hiệu ứng độc hại của các tế bào ung thư thực quản, và ức chế bệnh tiểu đường và bệnh thận [23,24].