Đặt vấn đề Đinh lăng từ xa xưa đã được trồng để làm thuốc và làm rau ăn sống. Loài Đinh lăng lá nhỏ có tên khoa học Polyscias fruticosa (L.) Harms họ Ngũ Gia Bì – Araliaceac, dân gian còn gọi là cây Gỏi cá, cây Nam dương sâm là cây có hàm lượng các chất để làm dược liệu tốt nhất trong chi Đinh Lăng. Cây Đinh lăng là cây dược liệu quý, rất dễ trồng và dễ sống, ít bị sâu bệnh gây hại do vậy hầu như không cần sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người trồng. Canxi là một trong những chất dinh dưỡng quan trọng trong sinh trưởng và phát triển của cây trồng.
Không những thế nó còn là nhân tố quan trọng tác động đến lý hóa tính của đất đặc biệt là thay đổi pH đất tạo môi trường thuận lợi cho quá trình hấp thụ chất dinh dưỡng và thúc đẩy sự sinh trưởng, phát triển ở cây trồng. Hiện nay, sử dụng bột vỏ trứng làm nguồn canxi bón cho cây đang được ứng dụng rộng rãi trên thế giới. Tác giả Faridi and Arabhosseini (2018) cũng cho rằng sẽ rất kinh tế khi chuyển đổi chất thải vỏ trứng để tạo thành nguồn phân bón cung cấp canxi và các hợp chất khác cho cây trồng. Ngoài ra tác dụng của vỏ trứng trong cải thiện lý hóa tính của đất cũng đã được chứng minh bởi nhiều tác giả Munirwan et al.
(2019), Amu et al. Bên cạnh đó, các tác giả MacNeil (1997) và Framing (1998) cũng đánh giá bột vỏ trứng là nguồn canxi tự nhiên rất tốt chứa đến 95% canxi cacbonat và hàm lượng lớn Magiê, Kali, Sắt, Phốt pho. Đồng thời lớp màng vỏ bao gồm 10% collagen, 69,2% protein, 2,7% chất béo, 1,5% độ ẩm và 27,2% tro là những chất rất có lợi cho sự sinh trưởng và phát triển đặc biệt kích thích sự phát triển bộ rễ của cây trồng. 1 Hơn thế nữa, bột vỏ trứng có thể làm tăng độ pH đất giúp cải thiện đất và bảo vệ cây trồng.
Ánh sáng có vai trò quan trọng đối với tất cả các cơ thể sống, là một trong những yếu tố quan trọng nhất của môi trường, ảnh hưởng đến quá trình điều hòa sinh trưởng và phát triển của cây trồng. Mỗi giai đoạn sinh trưởng khác nhau cây yêu cầu về cường độ ánh sáng khác nhau. Che sáng cho cây là biện pháp che bớt ánh nắng để giảm cường độ ánh sáng mặt trời. Đây là vấn đề quan trọng bởi cường độ ánh sáng sẽ ảnh hưởng đến quá trình quang hợp, từ đó ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển và tích lũy các hoạt chất trong cây.
Với mục đích làm giảm cường độ ánh sáng ở những tháng có cường độ ánh sáng mạnh (Vụ hè từ tháng 5 đến tháng 9) để tạo cường độ ánh sáng thích hợp, ẩm độ không khí và nhiệt độ hợp lý hơn từ đó có thể làm thay đổi quá trình quang hợp thúc đẩy quá trình sinh trưởng, phát triển và tích luỹ hoạt chất của cây trồng. Do đó, để góp phần hoàn thiện về quy trình trồng, chăm sóc, bón phân cho cây đinh lăng giúp cây sinh trưởng phát triển tốt, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người nông dân cũng như làm tăng chất lượng dược liệu nên dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Ninh Thị Phíp, chúng tôi thực hiện đề tài:“Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng bột vỏ trứng và chế độ che sáng cho cây Đinh lăng (Polyscias fruticosa (L.) Harms) tại Gia Lâm - Hà Nội”. Mục đích và yêu cầu 1. Mục đích Đánh giá ảnh hưởng của liều lượng bột vỏ trứng và chế độ che sáng đến sinh trưởng cây đinh lăng 1 - 3 năm tuổi nhằm xác định liều lượng bột vỏ trứng và chế độ che sáng phù hợp cho cây đinh lăng góp phần hoàn thiện quy trình trồng cây đinh lăng tại Gia Lâm, Hà Nội.
Yêu cầu Đánh giá ảnh hưởng của liều lượng bột vỏ trứng khác nhau đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây đinh lăng ở các độ tuổi 1; 2; 3 năm tuổi. Đánh giá ảnh hưởng của các chế độ che sáng khác nhau đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây đinh lăng tuổi 1; 2; 3 năm tuổi. Ý nghĩa của đề tài Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học nghiên cứu quy trình trồng và kỹ thuật thâm canh nâng cao năng suất thu hoạch tươi cũng như khô của cây đinh lăng. Kết quả nghiên cứu của đề tài bổ sung thêm tài liệu cho công tác nghiên cứu khoa học, tài liệu giảng dạy, tài liệu tham khảo cho các cán bộ kỹ thuật nông nghiệp.
Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần xây dựng và hoàn thiện quy trình trồng, chăm sóc cây đinh lăng phục vụ người dân sản xuất theo hướng hàng hóa, làm tăng năng suất, tăng hiệu quả kinh tế và chất lượng đinh lăng, đáp ứng nhu cầu nguồn dược liệu. 3 PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Giới thiệu chung về cây Đinh Lăng 2. Nguồn gốc - phân bố - phân loại thực vật 2.
Nguồn gốc cây đinh lăng Cây Đinh lăng (Polyscias spp.) hay còn được gọi cây gỏi cá, Nam Dương sâm, thuộc bộ hoa tán (Apiales), họ: ngũ gia bì hay họ nhân sâm (Araliaceae), chi (Polyscias) chi này chứa khoảng 114 - 150 loài. Đinh lăng có nguồn gốc từ vùng đảo Polynésic ở Thái Bình Dương, được trồng khắp nơi từ đồng bằng đến miền núi (Đỗ Tất Lợi, 2006; Đỗ Bích Huy và cs. Phân bố Cây phân bố ở Malayxia, Indonexia, Lào, miền nam Trung Quốc. Ở Việt Nam, cây đinh lăng đã có từ rất lâu trong nhân dân và được trồng khá phổ biến trong các vườn gia đình, đình chùa, bệnh viện, trạm xá, vườn thuốc để làm cảnh, làm thuốc và rau gia vị (Đỗ Bích Huy, 1993; Phạm Hoàng Hộ và cs.
Đinh lăng được trồng ở nhiều nơi trên cả nước. Ở miền Bắc, trồng nhiều nhất ở Nam Định, Thái Bình, Vĩnh Phúc, Bắc Giang. Ngoài ra, đinh lăng còn được trồng ở Tây Nguyên và Miền Nam. Phân loại thực vật Đinh lăng chia làm nhiều loài khác nhau và một số loài được trồng nhiều là: đinh lăng lá nhỏ (Polyscias fruticosa); đinh lăng lá tròn (Polyscias balfouriana Baill); đinh lăng lá trổ (đinh lăng viền bạc) (Polyscias guilfoylei (Cogn Marche) Baill); đinh lăng lá to (đinh lăng răng) (Polyscias filicfolia (Merr) Baill); đinh lăng đĩa (Polyscias scutillarius (Burm f) Merr); đinh lăng răng (lá 2 lần kép, thân màu trắng) (Polyscias serrata Ballf) (Phạm Hoàng Hộ, 2000).
4 Theo dân gian, đinh lăng được chia làm 2 loại chính là: Đinh lăng nếp và đinh lăng tẻ. Đinh lăng nếp là loại lá nhỏ, thân nhẵn, củ to, rễ nhiều và mềm, vỏ bì dày cho năng xuất cao chất lượng tốt. Khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh bất thuận tốt. Vì vậy khi sản xuất nên chọn loại này để trồng và hiện nay đinh lăng nếp đang trồng phổ biến, chiếm đa số diện tích trồng của người dân.
Còn loại đinh lăng tẻ là loại lá to, vỏ thân xù xì, màu xanh nhạt, củ nhỏ, rễ ít và cứng, vỏ bì mỏng cho năng suất thấp, ít được trồng. Đặc điểm thực vật học Đinh lăng còn được gọi là cây gỏi cá (vì nhân dân thường lấy lá để ăn gỏi cá, nhưng tên đinh lăng được sử dụng phổ biến hơn) là một loại cây nhỏ, thân nhẵn, không có gai, thường cao 0,8 đến 1,5 mét có những nơi đất tốt cây cao 1,8 - 2 mét. Lá kép 3 lần xẻ lông chim dài 20 - 40cm, không có lá kèm rõ. Lá chét có cuống gầy dài 3 - 10mm, phiến lá chét có răng cưa không đều, lá có mùi thơm đặc trưng.
Cụm hoa hình chùy ngắn 7 - 18 mm gồm nhiều tán, mang nhiều hoa nhỏ. Tràng 5, nhị 5 với chỉ nhị gầy, bầu hạ 2 ngăn có dìa trắng nhạt. Quả dẹt dài 3 - 4 mm, dày 1 mm có vòi tồn tại. Bộ phận sử dụng Rễ củ thu hái vào mùa thu, lúc này rễ mềm, nhiều hoạt chất, rửa sạch.
Rễ nhỏ để nguyên, rễ to chỉ dùng vỏ rễ. Thái rễ mỏng, phơi khô ở chỗ mát, thoáng gió để đảm bảo mùi thơm và phẩm chất. Khi dùng, để nguyên hoặc tẩm rượu gừng 5%. Sao qua, rồi tẩm 5% mật ong, sao thơm (Đỗ Huy Bích và cs.
Yêu cầu sinh thái của cây Đinh lăng Đinh lăng là cây sống lâu năm, có thể sống đến vài chục năm, chịu hạn khá tốt, ưa sáng, ưa ẩm nhưng sẽ phát triển kém hoặc chết khi gặp úng. Phân bố rộng khắp trên cả nước, ở các vùng sinh thái, có thể phát triển ở nhiều loại đất nhưng tốt nhất ở đất pha cát. Cây phát triển mạnh khi nhiệt độ dưới 28oC (từ giữa thu 5 đến cuối xuân). Cây tồn tại và phát triển tốt ở những vùng có đặc trưng khí hậu nhiệt đới mưa mùa.
Một năm có 2 mùa rõ rệt mùa khô và mùa mưa và thường được trồng chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía Bắc. Yêu cầu nhiệt độ của cây đinh lăng từ 22,5°C - 23,1°C, cây đinh lăng chịu được nhiệt độ tối thấp tuyệt đối - 2,8°C và tối cao tuyệt đối 41,4°C. Yêu cầu về độ ẩm không khí trung bình của cây đinh lăng từ 82 - 89% và lượng mưa bình quân năm của cây đinh lăng từ 1420,7 mm - 2574,5 mm. Đinh lăng phát triển tốt trên các loại đất ẩm mát và thoát nước tốt, thành phần cơ giới trung bình (cát pha đến thịt), tầng đất dày trên 1m, nhiều mùn, tơi xốp, cây thích hợp với đất feralit đỏ vàng và đất feralit giàu mùn trên núi.
Tuyệt đối không trồng ở những nơi đất úng, bí chặt và không thoát được nước, trường hợp trồng trong vườn và ruộng nơi đất thấp cần lên luống cao trước khi trồng. Cây có khả năng tái sinh dinh dưỡng cao nên người dân trồng chủ yếu bằng cách giâm cành bánh tẻ hoặc cành già vào tháng 2 - 4 hoặc tháng 8 - 10. Trong năm mùa Thu và mùa Xuân thuận lợi cho cây sinh trưởng phát triển nhanh nhất (Võ Văn Chi, 2012) 2. Thành phần hóa học Năm 1989, Nguyễn Khắc Viện đã nghiên cứu và cho thấy trong rễ đinh lăng có 4% saccarose, một chất kết tinh A chưa xác định cấu trúc hóa học, có điểm sôi trong khoảng 158-161oC, tan nhiều trong cloroform và aceton.
Theo Nguyễn Thị Thu Hương và Lương Kim Bích (2001), trong rễ, thân và lá cây Đinh lăng có các glucosid, alkaloid, tanin, vitamin B1, và 20 loại acid amin khác: argenin, alanin, asparagin, acid glutamic, leucin, lysin, phenil alanin, prolin, threonin, tyrosin, cystein, triptophan, metionin. Bằng phương pháp GC - MS để phân tích thành phần tinh dầu của lá cây đinh lăng mọc ở Fiji và Thái Lan.