Đặt vấn đề Hòa cùng sự phát triển của nền kinh tế các nước trên thế giới và trong khu vực, nền kinh tế nước ta cũng có những bước phát triển nhảy vọt. Khi nền kinh tế phát triển, nhu cầu của người tiêu dùng về những sản phẩm chất lượng cao ngày càng tăng và nhu cầu về thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao cũng không nằm ngoài qui luật. Để đáp ứng nhu cầu thực phẩm ngày càng cao của xã hội, trong những năm gần đây ngành chăn nuôi đã áp dụng khoa học công nghệ nâng cao số lượng, chất lượng đàn vật nuôi và chăn nuôi thỏ là một trong những hướng đi mới nhằm giải quyết những đòi hỏi đó. Khác với chăn nuôi lợn, gà, vịt.
thỏ có khả năng sử dụng nhiều thức ăn thô xanh trong khẩu phần, tận dụng các nguồn sản phẩm phụ nông nghiệp như rau, lá, cỏ tự nhiên. Chăn nuôi thỏ vốn đầu tư ban đầu thấp, quay vòng nhanh, chuồng trại tận dụng vật liệu sẵn có, rẻ tiền, vốn mua con giống ban đầu ít hơn so với các gia súc khác. Vòng đời sản xuất của thỏ ngắn, nuôi từ 3 đến 3,5 tháng sẽ đạt trọng lượng giết thịt, từ 5,5 đến 6 tháng thỏ bắt đầu sinh sản. Một năm thỏ cái đẻ từ 6-7 lứa, mỗi lứa 6-7 con.
Một thỏ mẹ nặng 4-5 kg có thể sản xuất ra 90-140 kg thịt thỏ một năm nên thu hồi vốn nhanh, phù hợp với khả năng của nhiều gia đình (Nguyễn Chu Chương, 2004)[7]. Mặt khác, thịt thỏ là loại thực phẩm dễ tiêu hóa, thơm ngon, giàu và cân đối chất dinh dưỡng hơn các loại thịt gia súc khác. Hàm lượng đạm của thịt thỏ cao (21,0%), hàm lượng mỡ thấp (10,0%), giàu chất khoáng (1,2%) và hàm lượng cholesteron rất thấp nên thịt thỏ là loại thực phẩm được sử dụng điều dưỡng cho người bệnh tim mạch. Đặc biệt không có bệnh truyền nhiễm nào ở thỏ có khả năng lây sang người, vì vậy thịt thỏ là loại thực phẩm an toàn cho người sử dụng (Đinh Văn Bình và cs, 2005)[4].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 2 Chăn nuôi thỏ không những góp phần vào sự phát triển của ngành chăn nuôi mà còn đóng góp cho công tác thú y và y học, miễn dịch học rất hiệu quả. Trong khi ngành chăn nuôi hiện nay luôn phải đối mặt với nguy cơ bùng phát các dịch bệnh nguy hiểm như dịch cúm gia cầm, tai xanh ở lợn, lở mồm long móng. gây tổn thất lớn cho ngành chăn nuôi, nên việc khuyến khích và phát triển chăn nuôi thỏ ở nông hộ là sự lựa chọn đúng đắn của nhiều địa phương trên cả nước hiện nay. Tại tỉnh Tuyên Quang trong những năm gần đây nghề chăn nuôi thỏ cũng đã phát triển khá mạnh trong các nông hộ do có nhiều thuận lợi trong chăn nuôi qui mô gia đình như đầu tư vốn ban đầu ít , chuồng trại không cần nhiều diện tích và tận dụng được công lao động phụ trong gia đình.
Thức ăn cho thỏ chủ yếu là cỏ, lá tự nhiên, củ quả và những phụ phẩm khác trong nông nghiệp. Cây sắn được trồng nhiều ở Tuyên Quang và các tỉnh miền núi , ngoài việc thu hoạch củ dùng chế biến thực phẩm và thức ăn chăn nuôi thì lá sắn là một nguồn phụ phẩm nông nghiệp dồi dào , sử dụng làm nguồn thức ăn bổ sung protein rất tốt cho vật nuôi trong đó có chăn nuôi thỏ. Trong lá sắn có chứa một lượng axit HCN là một chất độc có hại cho sức khoẻ của động vật. Đã có nhiều công trình nghiên cứu bổ sung lá sắn vào khẩu phần chăn nuôi lợn, gà.
cho kết quả khả quan, tuy nhiên việc nghiên cứu tỷ lệ lá sắn thí ch hợp trong khẩu phần thức ăn xanh cho chăn nuôi thỏ thì chưa được quan tâm nghiên cứu. Xuất phát từ tình hình thực tế trên chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu sử dụng lá sắn trong khẩu phần chăn nuôi thỏ New Zealand tại thị xã Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang” nhằm tận dụng nguồn thức ăn dồi dào sẵn có tại địa phương và góp phần nâng cao hiệu quả cho người chăn nuôi. Mục tiêu của đề tài - Nghiên cứu tình hình chăn nuôi thỏ tại thị xã Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang. - Xác định ảnh của các tỷ lệ lá sắn khác nhau tới tỉ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng của khẩu phần chăn nuôi thỏ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 3 - Xác định ảnh hưởng của các tỷ lệ lá sắn khác nhau trong khẩu phần thức ăn xanh nuôi thỏ New Zealand thương phẩm đến khả năng sinh trưởng và chất lượng thịt của thỏ nuôi trong hộ gia đình. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài * Ý nghĩa khoa học: Đề tài nghiên cứu được ảnh hưởng của các tỷ lệ lá sắn khác nhau trong khẩu phần ăn nuôi thỏ thịt đến khả năng sinh trưởng và cho thịt của thỏ New Zealand nuôi trong hộ gia đình, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn và giảm chi phí thức ăn trong chăn nuôi thỏ. Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ đóng góp vào nghiên cứu ứng dụng, sử dụng tỷ lệ lá sắn khác nhau trong chăn nuôi thỏ thịt hiện nay trên địa bàn, đồng thời có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy của ngành chăn nuôi, thú y. Ngoài ra, còn làm cơ sở khoa học cho những nghiên cứu tiếp theo nhằm nâng cao khả năng ứng dụng, sử dụng tỷ lệ lá sắn khác nhau trong chăn nuôi thỏ thịt.
* Ý nghĩa thực tiễn: Tận dụng được nguồn thức ăn dồi dào sẵn có tại địa phương để mở rộng phát triển chăn nuôi thỏ thịt trong điều kiện hiện nay trên địa bàn tỉnh, góp phần vào công tác chuyển giao tiến bộ khoa học, kỹ thuật trong lĩnh vực chăn nuôi thỏ nhằm nâng cao năng suất và chất lượng theo hướng sản xuất hàng hoá chăn nuôi an toàn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Tình hình chăn nuôi thỏ trên thế giới và Việt Nam 1.
Sản xuất và tiêu thụ thỏ trên thế giới Vào thế kỷ 16 ở một số nước tây Âu như Pháp , Ý và Anh cùng với việc săn bắt thỏ hoang dã , thì thỏ đã được chăn nuôi bán hoang dã và nuôi nhốt trong chuồng để lấy thịt. Tuy nhiên do chế độ lãnh chúa đặc quyền lúc bấy giờ nên việc phát triển chăn nuôi thỏ không được phát triển rộng rãi. Đầu thế kỷ 19 việc chăn nuôi thỏ trong chuồng được phát triển rộng khắp các vùng nông thôn và ven đô thị các nước tây Âu , người châu Âu đã giới thiệu chăn nuôi thỏ tới các nước khác như Australia, New Zealand và sau đó được lan toả khắp thế giới. Theo Lebas và cs.(1998)[48] năm 1998 thế giới sản xuất khoảng 1,2 triệu tấn thịt thỏ, đến năm 2000 con số này ước tính khoảng 1,5 triệu tấn, bình quân đầu người tiêu thụ 280 gram thịt thỏ/năm.
Người châu Âu tiêu thụ thịt thỏ nhiều hơn các vùng khác, tiêu thụ thịt thỏ trung bình của nông dân pháp là 10 kg/người/năm; ở Italia là 15 kg/người/năm. Châu Âu được coi là trung tâm sản xuất và tiêu thụ thỏ thế giới. Châu Âu đứng đầu thế giới về sản xuất thịt thỏ , trong đó Italia là nước có ngành chăn nuôi thỏ thịt phát triển nhất , nơi mà sản xuất thịt thỏ đã trở thành truyền thống từ đầu những năm 1990, năm 1995 việc chăn nuôi thỏ đã được công nghiệp hoá và đến năm 2000 ngành chăn nuôi thỏ công nghiệp đã phát triển bền vững khắp đất nước Italia, do đó sản lượng thịt thỏ ở nước này đã tăng vọt từ 120 000 tấn những năm 1990 lên 350 000 tấn năm 2005. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 5 Nước Mỹ là trung tâm sản xuất và tiêu thụ thịt thỏ ở Châu Mỹ, với sản lượng 35.000 tấn những năm 1998, ở đây người ta chủ yếu tiêu thụ thịt thỏ non trung bình 1,8 kg/con.
Hàng năm nước Mỹ sản xuất và tiêu thụ khoảng 195 triệu con thỏ thịt. Ở Canada chính quyền một số bang có chính sách khuyến khích và hỗ trợ nông dân phát triển chăn nuôi thỏ. Mêhicô là đất nước có truyền thống sản xuất thịt thỏ quy mô nhỏ gia đình từ 20 - 100 thỏ cái sinh sản dưới hình thức nuôi "sân sau" để tiêu thụ gia đình kết hợp sản xuất hàng hoá rộng khắp các vùng nông thôn và ven đô thị (Đinh Văn Bình, 2007)[5]. Các nước vùng Caribê chủ yếu nuôi các giống thỏ nhỏ địa phương với hình thức nuôi gia đình để tận dụng các thức ăn rau cỏ.
Sản xuất thịt thỏ ở Châu Á không nhiều , tập trung chủ yếu ở một số nước như Indonesia, Trung Quốc, Philippin, Thái Lan, Malaysia, Việt Nam và Bắc Triều Tiên. Tuy nhiên nghề chăn nuôi thỏ ở Trung Quốc khá phổ biến và chủ yếu cho tiêu thụ địa phương vì vậy hầu như không có số liệu chính thức về sản xuất và tiêu thụ thịt thỏ ở nước này. Theo Cao Xumin (2009)[32] đến năm 2008, tổng số thỏ của Trung Quốc ước khoảng 450 triệu con do có một thị trường xuất khẩu thỏ sang châu Âu với số lượng hàng năm khoảng 20 triệu con thỏ Angora được sản xuất phục vụ xuất khẩu lông và thịt. Ngoài ra ở Trung Quốc các thương gia ở nhiều tỉnh thành đã t hu gom thỏ thịt để xuất khẩu sang các nước khác như Nhật Bản, Hàn Quốc.
có nền kinh tế mạnh và đây là nước xuất khẩu thỏ nhiều nhất trên thế giới. Sản xuất thịt thỏ ở Châu Phi tập trung chủ yếu ở các nước cận sa mạc Sahara như Nigeria, Ghana, Công Gô, Cameroon và Benin. Ở các nước này việc chăn nuôi thỏ để tiêu thụ gia đình là chính, một phần để bán. Đất nước Ghana có một chương trình phát triển chăn nuôi thỏ quốc gia trong đó mỗi gia đình chỉ nuôi từ 3 đến 6 thỏ sinh sản, nguồn thức ăn chủ yếu là các rau cỏ và sắn sẵn có ở địa phương để tự sản xuất thỏ thịt tiêu thụ gia đình, phần thừa ra được đem bán.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www. Thương mại thỏ trên thế giới Theo Lebas và cs .(1996)[47] trên thế giới có khoảng 23 nước tham gia vào thị trường xuất nhập khẩu thịt thỏ với sản lượng từ 1.000 tấn /năm, chiếm 95% tổng sản lượng xuất nhập khẩu thịt thỏ thế giới. Trong đó có 9 nước chỉ xuất khẩu, 6 nước chỉ nhập khẩu và 8 nước khác vừa xuất khẩu vừa nhập khẩu thịt thỏ.