Tổng quan luận án

Trong cơ cấu ngành chăn nuôi Việt Nam, sản lượng thức ăn công nghiệp năm 2020 đạt 20 triệu tấn, trong đó thức ăn dành cho lợn chiếm 45% (khoảng 9 triệu tấn). Ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi trong nước phụ thuộc lớn vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu, chiếm tới 80% tổng nhu cầu. Riêng năm 2020, Việt Nam đã nhập khẩu 19,6 triệu tấn nguyên liệu với tổng giá trị 5,7 tỷ USD, trong đó nhóm nguyên liệu giàu năng lượng chiếm 11,4 triệu tấn (trị giá 2,3 tỷ USD) và nhóm nguyên liệu giàu đạm chiếm 7,5 triệu tấn (trị giá 2,55 tỷ USD). Riêng mặt hàng ngô hạt, lượng nhập khẩu năm 2017 là 7,726 triệu tấn (trị giá 1,504 tỷ USD) và tăng lên 10,25 triệu tấn vào năm 2019. Trái ngược với tình trạng nhập siêu nguyên liệu thức ăn năng lượng, Việt Nam có diện tích gieo trồng lúa nước đạt khoảng 7,55 - 7,8 triệu ha với sản lượng thóc ổn định ở mức 43 - 45 triệu tấn/năm. Sau khi cân đối nhu cầu lương thực cho 96 triệu dân (khoảng 19,2 triệu tấn gạo, tương đương 30,72 triệu tấn thóc) và xuất khẩu khoảng 6 triệu tấn gạo (tương đương 9,6 triệu tấn thóc), lượng thóc dư thừa hàng năm ước tính khoảng 5 triệu tấn. Sự chênh lệch này đặt ra yêu cầu đánh giá khả năng sử dụng nguồn lúa gạo nội địa thay thế ngô trong khẩu phần thức ăn chăn nuôi lợn.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định cụ thể như sau:

  1. Mục tiêu chung: Đánh giá khả năng sử dụng gạo lật và gạo tấm thay thế ngô làm thức ăn cho lợn.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Đánh giá khả năng sử dụng gạo lật thay thế ngô làm thức ăn cho lợn con theo mẹ.
    • Đánh giá khả năng sử dụng gạo tấm thay thế ngô làm thức ăn cho lợn thịt và lợn nái nuôi con.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Gạo lật (gạo lứt) từ các giống lúa lai cao sản và giống IR50404; gạo tấm thu thập từ các nhà máy chế biến; ngô hạt; lợn con lai 4 giống PiDu x (LY) giai đoạn 4 - 23 ngày tuổi theo mẹ; lợn đực thiến nuôi thịt thương phẩm lai 3 giống Du x (LY) giai đoạn 68 ngày tuổi đến xuất bán; lợn nái lai 2 giống Landrace x Yorkshire (L x Y) nuôi con 24 ngày.
  • Phạm vi không gian: Phòng kiểm tra chất lượng sản phẩm (KCS), Công ty TNHH MTV lợn giống Lạc Vệ, Công ty TNHH lợn giống hạt nhân DABACO thuộc Tập đoàn DABACO Việt Nam; Phòng phân tích trung tâm và Phòng phân tích thức ăn thuộc Bộ môn Dinh dưỡng - Thức ăn, Khoa Chăn nuôi, Học viện Nông nghiệp Việt Nam; Trung tâm Khảo, kiểm nghiệm và kiểm định giống vật nuôi, thức ăn chăn nuôi thuộc Cục Chăn nuôi.
  • Phạm vi thời gian: Các thí nghiệm và phân tích được thực hiện trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2018.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng hợp các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến đặc tính hóa học, giá trị dinh dưỡng của các loại hạt ngũ cốc và việc ứng dụng lúa gạo trong chăn nuôi lợn:

  • Về sản lượng và thương mại ngũ cốc: Tác giả trích dẫn số liệu từ USDA (2018, 2019, 2020), FAO (2019), International Grains Council (2015, 2016), Tổng cục Thống kê (2020) và Cục Trồng trọt (2014) nhằm phân tích cán cân cung - cầu lúa mì, ngô và lúa gạo toàn cầu cũng như thực trạng sản xuất tại Việt Nam.
  • Về thành phần hóa học và giá trị năng lượng của ngũ cốc: Các công trình của Batal & cs. (2010), Ton That Son & cs. (2008), Horacio (2017), Leeson & Summers (2008), Kosaka (1990), Viện Chăn nuôi (1995), Adm (2016), Tokach & cs. (2011) và Sauvant & cs. (2004) cung cấp dữ liệu đối sánh về protein, lipit, xơ thô, khoáng vi lượng và các axit amin giới hạn (Lysine, Methionine, Threonine, Tryptophan) giữa ngô, lúa mì, cao lương và lúa gạo.
  • Về đặc tính sinh học của gạo lật và gạo tấm: Piao & cs. (2002) chỉ ra rằng gạo lật có tỷ lệ axit béo không bão hòa/bão hòa (0,4512) thấp hơn ngô (0,6936), giúp mỡ thân thịt cứng hơn. Dadalt & cs. (2016), Schirmann & cs. (2018), Casas & Stein (2015) và Brestensky & cs. (2014) xác định gạo tấm có hàm lượng xơ không tan trong axit (ADF) thấp (0,46% so với 3,11% ở ngô), hàm lượng tinh bột cao và tỷ lệ tiêu hóa axit amin trên 90% (so với 80,1% ở ngô). Ma & cs. (2018) chứng minh gạo tấm có tỷ lệ nhiễm độc tố nấm mốc (AFB1, ZEN, DON) thấp hơn ngô.
  • Về thử nghiệm thay thế ngô bằng lúa gạo trên lợn: Các nghiên cứu quốc tế như Li & cs. (2002, 2006), Lerdsuwon & Attamangkune (2008), Che & cs. (2012), Beatriz & cs. (2008), Vicente & cs. (2008), Menegat & cs. (2019) và Lewis & Southern (2000) đã thử nghiệm thay thế ngô bằng gạo lật hoặc gạo tấm ở các tỷ lệ khác nhau từ 30% đến 100% cho lợn con, lợn thịt và lợn nái. Tại Việt Nam, các nghiên cứu của Nguyễn Thị Mai (2001), Trần Quốc Việt & Ninh Thị Len (2004), Trần Thanh Vân & cs. (2010), Trần Quốc Việt & cs. (2015), Lê Văn Huyên (2017) và Nguyễn Thị Thủy & cs. (2019) đã bước đầu đánh giá gạo lật và thóc trên gia cầm, lợn con sau cai sữa, lợn thịt và lợn nái mang thai.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết: Các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam về việc sử dụng gạo lật và gạo tấm chưa đồng bộ, còn thiếu dữ liệu phân tích hệ thống về thành phần dinh dưỡng, bộ chỉ số năng lượng tiêu hóa (DE), năng lượng trao đổi (ME), năng lượng thuần (NE) theo các phương trình ước tính chuẩn hóa, đồng thời chưa xác định được tỷ lệ thay thế tối ưu của gạo lật trong thức ăn tập ăn cho lợn con theo mẹ giai đoạn 4 - 23 ngày tuổi cũng như của gạo tấm cho lợn thịt và lợn nái nuôi con.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên cơ sở lý thuyết về hệ thống chuyển hóa và phân bổ năng lượng ở động vật dạ dày đơn theo National Research Council (NRC, 2012) và Donald & cs. (2002). Năng lượng thô (GE) từ thức ăn sau khi trừ năng lượng mất qua phân (FE) tạo thành năng lượng tiêu hóa (DE). DE trừ năng lượng mất qua nước tiểu (UE) và khí lên men đường tiêu hóa (CH4, <1% ở lợn) tạo thành năng lượng trao đổi (ME). ME trừ nhiệt thất thoát (HI) sinh ra trong quá trình tiêu hóa và hấp thu sẽ cho năng lượng thuần (NE), phục vụ hai mục đích: NE duy trì và NE sản xuất (tăng trọng, tiết sữa).

Phương pháp phân tích phòng thí nghiệm:

  • Lấy mẫu theo TCVN 4325:2007; chuẩn bị mẫu theo TCVN 6952:2001.
  • Xác định độ ẩm và vật chất khô (VCK) theo TCVN 4326:2001.
  • Xác định hàm lượng nitơ và tính protein thô bằng phương pháp Kjeldahl.
  • Xác định xơ thô bằng phương pháp lọc trung gian theo TCVN 4329:2007 (ISO 6865:2000).
  • Xác định lipit thô theo TCVN 4331:2001.
  • Xác định tro thô bằng phương pháp nung ở nhiệt độ 500°C - 550°C theo TCVN 4327:2007 (ISO 5984:2002).
  • Tính hàm lượng dẫn xuất không nitơ (DXKN): DXKN (%) = 100 - (% nước + % protein thô + % lipit thô + % xơ thô + % khoáng tổng số).
  • Xác định hàm lượng tinh bột và đường bằng máy quang phổ cận hồng ngoại Thermo Scientific microPHAZIR AG.

Phương pháp ước tính giá trị năng lượng:

  • Năng lượng tiêu hóa (DE) ước tính theo phương trình của Noblet & Perez (1993): $$\text{DE (kcal/kg VCK)} = 4168 - 12,2 \times \text{Tro thô (%)} + 4,1 \times \text{Lipit thô (%)} + 2,3 \times \text{Protein thô (%)} - 6,1 \times \text{Xơ thô (%)}$$
  • Năng lượng trao đổi (ME): Đối với ngô và gạo lật, $\text{ME} = 0,97 \times \text{DE}$; đối với gạo tấm, $\text{ME} = 0,976 \times \text{DE}$ (theo INRA & cs.).
  • Năng lượng thuần (NE): Đối với ngô và gạo lật, $\text{NE} = 0,80 \times \text{ME}$; đối với gạo tấm, $\text{NE} = 0,812 \times \text{ME}$ (theo INRA & cs.).

Phương pháp bố trí thí nghiệm trên động vật:

  • Thiết kế thí nghiệm: Phương pháp phân lô so sánh ngẫu nhiên một nhân tố, gồm 4 lô: Lô TN 1 (đối chứng, sử dụng 100% ngô), Lô TN 2 (thay thế 25% ngô), Lô TN 3 (thay thế 50% ngô), Lô TN 4 (thay thế 75% ngô).
  • Thí nghiệm 1 (Lợn con theo mẹ): Thực hiện trên 40 lợn nái với 480 lợn con lai PiDu x (LY) giai đoạn 4 - 23 ngày tuổi mỗi đợt, lặp lại 3 lần (tổng số 120 nái và 1.440 lợn con), nuôi chuồng kín. Thức ăn tập ăn dạng hỗn hợp hoàn chỉnh do Công ty Nutreco (Tập đoàn DABACO) sản xuất.
  • Thí nghiệm 2 (Lợn thịt): Thực hiện trên 240 lợn đực thiến lai Du x (LY) từ 68 ngày tuổi đến khi giết mổ, chia đều 4 lô (60 con/lô).
  • Thí nghiệm 3 (Lợn nái nuôi con): Thực hiện trên 120 lợn nái lai Landrace x Yorkshire nuôi con trong 24 ngày, chia đều 4 lô (30 nái/lô, chia 3 đợt lặp lại, mỗi đợt 10 nái/lô).

Phương pháp xử lý số liệu:

  • Sử dụng bảng tính Microsoft Excel 2010 và phần mềm thống kê Minitab phiên bản 16.
  • So sánh sai khác giữa các giá trị trung bình bằng phép thử Tukey và kiểm định Chi-bình phương ($\chi^2$) ở mức ý nghĩa $p < 0,05$. Số liệu trình bày dưới dạng giá trị trung bình (Mean) và độ lệch chuẩn (SD).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng kết cơ sở lý luận và các dữ liệu đã công bố liên quan đến đề tài:

  • Phân tích vị trí của ngô, lúa mì, lúa gạo và cao lương trong cơ cấu thức ăn giàu năng lượng (hàm lượng protein thô < 20%, xơ thô < 18%, TDN > 70%). Trình bày chi tiết sản lượng ngũ cốc thế giới niên vụ 2018/2019 (ngô đạt 1.122,70 triệu tấn, lúa mì đạt 730,9 triệu tấn, lúa gạo đạt trên 495 triệu tấn) và cán cân tiêu thụ tại Việt Nam.
  • Cung cấp tỷ lệ các cấu phần khi xay xát thóc: vỏ trấu chiếm 16 - 28% (trung bình 20%), gạo lật chiếm 72 - 84% (trung bình 80%), cám bổi chiếm 11% (cám mịn 8%, cám thô 3%), tấm chiếm 2% và gạo trắng chiếm 67%.
  • Trình bày hệ thống đo lường năng lượng thức ăn (GE, DE, ME, NE) và các phương trình hồi quy ước tính năng lượng dựa trên thành phần hóa học của Noblet & Perez (1993), Noblet & cs. (1994), Sauvant & cs. (2004).
  • Phân tích đặc điểm sinh học của lợn con (tốc độ sinh trưởng nhân đôi khối lượng sau 7 - 10 ngày, nhân 4 sau 21 ngày; đặc điểm tiêu hóa và vai trò miễn dịch của $\gamma$-globulin trong sữa đầu), các chỉ tiêu đánh giá năng suất và phẩm chất thịt xẻ của lợn thịt, quy luật tiết sữa của lợn nái (đạt đỉnh ở ngày 20 - 25 rồi giảm dần).
  • Giới thiệu đặc điểm sinh trưởng, sinh sản của các tổ hợp lai sử dụng trong nghiên cứu: nái L x Y (đẻ 12 - 14 con/lứa, khối lượng cai sữa 21 ngày đạt 6,5 kg), lợn lai thương phẩm 4 giống PiDu x (LY) và 3 giống Du x (LY) (thời gian nuôi 142 - 150 ngày đạt 100 kg, tỷ lệ nạc 61 - 64%, FCR 2,2 - 2,4).

Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương này mô tả chi tiết quy trình triển khai 4 nội dung nghiên cứu thực nghiệm:

  • Nội dung 1: Lấy mẫu và phân tích thành phần hóa học (ẩm, protein thô, lipit thô, xơ thô, tro thô, tinh bột, đường, DXKN) của 8 mẫu gạo lật thu thập từ các giống lúa phổ biến phía Bắc và giống IR50404 phía Nam, 6 mẫu gạo tấm và các mẫu ngô đối chứng; tính toán giá trị năng lượng DE, ME, NE.
  • Nội dung 2: Bố trí thí nghiệm nuôi dưỡng 1.440 lợn con lai PiDu x (LY) từ 4 đến 23 ngày tuổi bằng 4 khẩu phần thức ăn tập ăn có tỷ lệ gạo lật thay thế ngô là 0%, 25%, 50% và 75%. Khẩu phần thức ăn được cân đối đẳng năng lượng ($3456 - 3458 \text{ kcal ME/kg}$) và đẳng protein ($21,08% \text{ CP}$). Theo dõi khối lượng cá thể (sơ sinh, 4 ngày, 23 ngày), tăng trọng ngày (ADG), lượng thức ăn thu nhận (LTATN), tỷ lệ tiêu chảy, tỷ lệ nuôi sống và chi phí thức ăn/kg tăng khối lượng.
  • Nội dung 3: Bố trí thí nghiệm trên 240 lợn thịt lai Du x (LY) từ 68 ngày tuổi đến xuất bán với 4 mức thay thế ngô bằng gạo tấm (0%, 25%, 50%, 75%). Theo dõi sinh trưởng tích lũy, sinh trưởng tuyệt đối theo các tuần, lượng thức ăn thu nhận, hiệu quả sử dụng thức ăn (FCR), khảo sát mổ xẻ đánh giá tỷ lệ móc hàm, tỷ lệ thịt xẻ, tỷ lệ nạc, mỡ lưng, pH cơ thịt (pH45, pH24), màu sắc ($L^, a^, b^*$), độ dai và hiệu quả kinh tế.
  • Nội dung 4: Bố trí thí nghiệm trên 120 lợn nái L x Y nuôi con trong chu kỳ 24 ngày với 4 mức thay thế ngô bằng gạo tấm (0%, 25%, 50%, 75%). Đánh giá biến động khối lượng lợn mẹ, tỷ lệ hao hụt thể trọng sau đẻ, lượng thức ăn thu nhận hàng tuần, thời gian động dục trở lại sau cai sữa, tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ tiêu chảy của đàn lợn con theo mẹ.

Chương 3: Kết quả và thảo luận

Chương này trình bày toàn bộ số liệu thu thập được qua các bảng biểu và phân tích so sánh:

  1. Thành phần hóa học và giá trị năng lượng ước tính: Bảng tổng hợp thành phần hóa học và giá trị năng lượng ước tính của các nguyên liệu nghiên cứu (% tính theo VCK):
Chỉ tiêu phân tích Gạo lật Gạo tấm Ngô hạt
Protein thô (%) 8,51 8,79 8,81
Lipit thô (%) 3,96 0,62 3,90
Xơ thô (%) 1,57 1,16 2,81
Tro thô (%) 1,03 1,18 1,47
Tinh bột (%) 78,57 80,97 71,01
Đường (%) 1,75 1,28 2,19
Dẫn xuất không nitơ - DXKN (%) 85,56 88,05 83,00
DE ước tính (kcal/kg VCK) 4182 4169 4169
ME ước tính (kcal/kg VCK) 4056 4069 4044
NE ước tính (kcal/kg VCK) 3245 3304 3235

Kết quả phân tích cho thấy hàm lượng protein thô của gạo lật và gạo tấm tương đương với ngô, nhưng hàm lượng xơ thô thấp hơn rõ rệt ($1,16 - 1,57%$ so với $2,81%$), hàm lượng tinh bột cao hơn ($78,57 - 80,97%$ so với $71,01%$). Do đó, giá trị DE, ME và NE của gạo lật và gạo tấm đạt mức tương đương hoặc cao hơn ngô hạt.

  1. Hiệu quả sử dụng gạo lật trong thức ăn tập ăn cho lợn con lai PiDu x (LY) (4 - 23 ngày tuổi):
  • Khối lượng lợn con cai sữa ở 23 ngày tuổi, sinh trưởng tuyệt đối (ADG) và lượng thức ăn thu nhận tăng dần theo tỷ lệ gạo lật trong khẩu phần và đạt cao nhất ở lô TN 4 (thay thế 75% ngô).
  • Tỷ lệ mắc tiêu chảy và tỷ lệ nuôi sống giữa các lô thí nghiệm không có sự sai khác mang ý nghĩa thống kê so với lô đối chứng.
  • Hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) và chi phí thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng ở các lô sử dụng gạo lật (lô TN 2, TN 3, TN 4) đều thấp hơn so với lô đối chứng dùng 100% ngô. Mức thay thế 75% cho hiệu quả kỹ thuật và kinh tế tốt nhất.
  1. Hiệu quả sử dụng gạo tấm thay thế ngô cho lợn thịt lai Du x (LY):
  • Khối lượng xuất bán và sinh trưởng tuyệt đối giai đoạn 68 ngày tuổi đến xuất bán ở lô thay thế 75% gạo tấm (lô TN 4) cao hơn có ý nghĩa so với lô đối chứng và các lô thay thế 25%, 50%.
  • Lượng thức ăn thu nhận hàng ngày và hệ số FCR giữa các lô không có sự sai khác thống kê.
  • Đánh giá thân thịt: Khẩu phần thay thế 75% gạo tấm làm tăng tỷ lệ thịt xẻ, tăng tỷ lệ nạc và tăng độ dai của thịt, đồng thời mỡ lưng có xu hướng săn chắc hơn do đặc tính axit béo của gạo. Chi phí thức ăn cho 1 kg tăng trọng không bị ảnh hưởng tiêu cực.
  1. Hiệu quả sử dụng gạo tấm thay thế ngô cho lợn nái L x Y nuôi con:
  • Sử dụng gạo tấm thay thế 50% ngô (lô TN 3) mang lại kết quả tốt nhất: giảm tỷ lệ hao hụt khối lượng của lợn nái trong thời gian 24 ngày nuôi con, rút ngắn thời gian động dục trở lại sau cai sữa.
  • Đối với đàn con theo mẹ: Khẩu phần của nái có 50% gạo tấm giúp giảm tỷ lệ tiêu chảy ở lợn con và nâng cao tỷ lệ nuôi sống đến 24 ngày tuổi.

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới về mặt học thuật và thực tiễn được luận án xác lập bao gồm:

  1. Đã xây dựng bộ dữ liệu phân tích chi tiết về thành phần hóa học (độ ẩm, protein thô, lipit thô, xơ thô, tro thô, tinh bột, đường, DXKN) và thiết lập giá trị năng lượng ước tính DE, ME, NE của gạo lật từ các giống lúa trồng tại Việt Nam và gạo tấm theo các phương trình hồi quy chuyên biệt cho lợn.
  2. Xác định được tỷ lệ thay thế ngô thích hợp bằng gạo lật trong thức ăn tập ăn cho lợn con lai PiDu x (LY) giai đoạn 4 - 23 ngày tuổi: Có thể thay thế từ 25% đến 75% ngô, trong đó mức thay thế 75% ngô bằng gạo lật mang lại khối lượng cai sữa, tăng trọng ngày cao nhất và giảm chi phí thức ăn cho 1 kg tăng trọng.
  3. Xác định được tỷ lệ thay thế ngô bằng gạo tấm trong khẩu phần lợn thịt lai Du x (LY): Có thể thay thế từ 25% đến 75% ngô, trong đó mức thay thế 75% ngô bằng gạo tấm cho sinh trưởng tuyệt đối, tỷ lệ thịt xẻ và tỷ lệ nạc cao nhất.
  4. Xác định được tỷ lệ thay thế ngô bằng gạo tấm trong thức ăn cho lợn nái lai L x Y nuôi con: Mức thay thế 50% ngô bằng gạo tấm đạt hiệu quả tối ưu trong việc giảm hao hụt thể trọng lợn mẹ sau đẻ, rút ngắn thời gian động dục trở lại, đồng thời giảm tỷ lệ tiêu chảy và nâng cao tỷ lệ nuôi sống của đàn lợn con.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất từ luận án:

  • Khuyến cáo các cơ sở sản xuất thức ăn chăn nuôi và trang trại chủ động sử dụng gạo lật ở mức thay thế 75% ngô trong thức ăn tập ăn cho lợn con từ 4 đến 23 ngày tuổi.
  • Sử dụng gạo tấm ở mức thay thế 75% ngô trong thức ăn hỗn hợp cho lợn thịt giai đoạn sinh trưởng - vỗ béo nhằm cải thiện năng suất và chất lượng thịt xẻ.
  • Áp dụng mức thay thế 50% ngô bằng gạo tấm trong công thức thức ăn cho lợn nái nuôi con để cải thiện thể trạng nái và nâng cao sức sống đàn con.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Phạm vi khảo sát thành phần hóa học của gạo lật mới tập trung vào một số giống lúa lai cao sản phổ biến tại miền Bắc và giống IR50404 tại Đồng bằng sông Cửu Long, chưa bao phủ toàn bộ các giống lúa thuần và lúa đặc sản khác trên cả nước.
  • Các thí nghiệm nuôi dưỡng mới chỉ dừng lại ở ngưỡng thay thế tối đa là 75% ngô, chưa khảo sát mức thay thế 100% ngô bằng gạo lật hoặc gạo tấm trên các đối tượng lợn thí nghiệm.
  • Nghiên cứu thực hiện trên các tổ hợp lai cụ thể gồm PiDu x (LY), Du x (LY) và L x Y nuôi trong điều kiện chuồng kín công nghiệp, chưa đánh giá trên các giống lợn bản địa hoặc phương thức chăn nuôi hở.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng phân tích thành phần hóa học và giá trị năng lượng của các phụ phẩm lúa gạo từ nhiều vùng sinh thái nông nghiệp khác nhau.
  • Thử nghiệm các mức thay thế cao hơn (đến 100%) hoặc kết hợp bổ sung các enzym tiêu hóa ngoại sinh (như phytase, xylanase) để tối ưu hóa hiệu quả sử dụng phospho và dưỡng chất trong khẩu phần sử dụng lúa gạo.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng cho các đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Dinh dưỡng và Thức ăn chăn nuôi, Chăn nuôi - Thú y: Tham khảo phương pháp phân tích thành phần hóa học, quy trình ước tính năng lượng DE, ME, NE theo các mô hình hồi quy của Noblet & Perez, kỹ thuật bố trí thí nghiệm phân lô so sánh ngẫu nhiên trên lợn con, lợn thịt và lợn nái.
  • Giảng viên các trường đại học, viện nghiên cứu nông nghiệp: Sử dụng số liệu trong chương 1, chương 2 và chương 3 làm ngữ liệu giảng dạy môn học Thức ăn chăn nuôi, Dinh dưỡng gia súc dạ dày đơn và Đánh giá chất lượng thân thịt.
  • Kỹ sư dinh dưỡng tại các nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi: Sử dụng ma trận dinh dưỡng và giá trị DE, ME, NE của gạo lật, gạo tấm để lập công thức thức ăn tối ưu chi phí, thay thế linh hoạt nguồn ngô nhập khẩu khi giá ngũ cốc thế giới biến động.
  • Nhà quản lý và hoạch định chính sách ngành nông nghiệp: Cung cấp căn cứ thực tiễn để xây dựng chiến lược tiêu thụ lúa gạo nội địa, giảm áp lực nhập khẩu ngô hạt và cân đối cán cân thương mại nông sản.

Câu hỏi thường gặp

1. Thành phần tinh bột, xơ thô và giá trị năng lượng NE ước tính của gạo lật và gạo tấm khác biệt như thế nào so với ngô hạt? Theo kết quả phân tích trong luận án (tính theo VCK), gạo lật và gạo tấm có hàm lượng tinh bột cao hơn ngô ($78,57%$ ở gạo lật và $80,97%$ ở gạo tấm so với $71,01%$ ở ngô), hàm lượng xơ thô thấp hơn ngô ($1,57%$ ở gạo lật và $1,16%$ ở gạo tấm so với $2,81%$ ở ngô). Giá trị năng lượng thuần (NE) ước tính của gạo lật đạt $3245 \text{ kcal/kg VCK}$, gạo tấm đạt $3304 \text{ kcal/kg VCK}$, trong khi ngô hạt đạt $3235 \text{ kcal/kg VCK}$.

2. Tỷ lệ thay thế ngô bằng gạo lật tối ưu trong thức ăn tập ăn cho lợn con lai PiDu x (LY) giai đoạn 4 - 23 ngày tuổi là bao nhiêu? Tỷ lệ thay thế tối ưu được xác định là 75% ngô bằng gạo lật (lô TN 4). Ở mức này, lợn con đạt khối lượng cai sữa, tốc độ sinh trưởng tuyệt đối và lượng thức ăn thu nhận cao nhất, đồng thời giảm tiêu tốn thức ăn (FCR) và hạ chi phí thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng mà không làm thay đổi tỷ lệ tiêu chảy hay tỷ lệ chết so với đối chứng.

3. Việc thay thế 75% ngô bằng gạo tấm tác động như thế nào đến phẩm chất thân thịt của lợn thịt lai Du x (LY)? Khẩu phần thay thế 75% ngô bằng gạo tấm giúp cải thiện sinh trưởng tuyệt đối, tăng tỷ lệ thịt xẻ, tăng tỷ lệ nạc và tăng độ dai của thịt lợn, đồng thời mỡ thân thịt có xu hướng cứng và chắc hơn do tỷ lệ axit béo không bão hòa/bão hòa trong gạo thấp hơn ngô.

4. Mức thay thế ngô bằng gạo tấm nào được khuyến nghị cho lợn nái lai L x Y nuôi con và mang lại những lợi ích gì? Mức thay thế được khuyến nghị là 50% ngô bằng gạo tấm (lô TN 3). Mức này giúp hạn chế tỷ lệ hao hụt thể trọng của lợn mẹ trong 24 ngày nuôi con, rút ngắn khoảng cách ngày động dục trở lại sau cai sữa, đồng thời làm giảm tỷ lệ tiêu chảy và tăng tỷ lệ sống của đàn lợn con theo mẹ.

5. Luận án đã sử dụng những phương trình hồi quy và hệ số nào để tính toán giá trị DE, ME và NE của gạo lật và gạo tấm? Luận án sử dụng phương trình của Noblet & Perez (1993) để tính DE: $\text{DE (kcal/kg VCK)} = 4168 - 12,2 \times \text{Tro} + 4,1 \times \text{Lipit} + 2,3 \times \text{Protein} - 6,1 \times \text{Xơ thô}$. Hệ số tính ME: $\text{ME} = 0,97 \times \text{DE}$ (gạo lật, ngô) và $\text{ME} = 0,976 \times \text{DE}$ (gạo tấm). Hệ số tính NE: $\text{NE} = 0,80 \times \text{ME}$ (gạo lật, ngô) và $\text{NE} = 0,812 \times \text{ME}$ (gạo tấm) theo hướng dẫn của INRA.

Kết luận

Luận án của tác giả Nguyễn Hữu Thọ đã cung cấp các dẫn liệu khoa học hoàn chỉnh về thành phần hóa học và giá trị năng lượng (DE, ME, NE) của gạo lật và gạo tấm sản xuất tại Việt Nam làm nguyên liệu thức ăn cho lợn. Kết quả thực nghiệm khẳng định tiềm năng thay thế ngô hạt của gạo lật ở mức 75% trong thức ăn tập ăn cho lợn con (4 - 23 ngày tuổi), của gạo tấm ở mức 75% cho lợn thịt thương phẩm và ở mức 50% cho lợn nái nuôi con. Các công thức thay thế này không chỉ duy trì và cải thiện các chỉ tiêu năng suất sinh trưởng, sinh sản và chất lượng thịt mà còn góp phần giảm chi phí sản xuất. Công trình là cơ sở khoa học quan trọng phục vụ việc tận dụng nguồn lúa gạo dư thừa trong nước, giảm phụ thuộc vào ngô nhập khẩu trong ngành công nghiệp chăn nuôi lợn.