Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Nguồn gốc cây Chè đại Cây Chè đại có tên La tinh là Trichanthera thuộc họ Acanthaceae (họ Ô rô); họ phụ: Ancanthoideae; bộ: Trichanthera (chi thực vật có hoa); giống Hera; loài: Trichanthera gigantea. Cây thân bụi, tán tròn, nhánh bậc hai, lá cánh quạt dài đến 26 cm và rộng 14 cm, đỉnh nhọn, bản hẹp; nở hoa theo chu kỳ.
Cây Chè đại là một loại cây trồng mới làm thức ăn gia súc được nhập vào Việt Nam năm 1993 từ nước Côlômbia, đây là loại cây thân bụi, lá to năng suất khá cao, rất giàu prôtêin, khoáng và vitamin. Hiện nay cây Chè đại đã được trồng nhiều ở miền Tây Nam bộ, Tây Nguyên và vùng núi phía Bắc nước ta để làm thức ăn cho gia súc và cá. Kết quả cho thấy sử dụng cây Chè đại làm thức ăn gia súc đã mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt trong chăn nuôi. Cây Chè đại có nhiều ở vùng núi Côlômbia, dọc theo các dòng suối và khu vực đầm lầy Costarica tới phía Bắc Nam Mỹ.
Đây là loài cây thức ăn cho gia súc thích nghi được với nhiều điều kiện khí hậu khác nhau. Chúng có thể sống trong khoảng 0 - 2000m (Murgueitio, 1989)[61], 800-1600m, (Acero, 1985)[47] và từ 500-1800m trên mực nước biển (Jaramillo và Correcdor, 1989)[58]. Đối với vùng có khí hậu ẩm ướt, lượng mưa hằng năm khoảng 1000-2800mm (Jaramillo và Correcdor, 1989) [58] cây vẫn có khả năng sinh sống, ngay cả khi lượng mưa lên đến 5000-8000mm/năm, (Murgueitio, 1989) [61]. Chè đại phát triển được trong điều kiện đất acid, kém màu mỡ nhưng thoát nước tốt.
Cây được trồng chủ yếu bằng phương pháp giâm cành vào các mùa trong năm đều thấy nảy mầm rất tốt, cây ưa ẩm vừa phải, nếu ở nơi thiếu nước thì năng suất bị hạn chế vì cây có lá mỏng lại rất to bản nên thoát nước rất mạnh. Cây có thể thu hoạch lần đầu tiên ở 4 - 6 tháng tuổi, năng suất 15,6 n 4 và 16,74 tấn/ha (thân tươi) tương đương 40. Tổng sản lượng (lá tươi và thân xanh) lên đến 53 tấn/ha/năm. Cây Chè đại có khả năng tái sinh mạnh mẽ, ngay cả trong điều kiện thu hoạch nhiều lần mà không cung cấp phân bón.
Điều này cho thấy quá trình tổng hợp nitơ có thể xảy ra ở phần rễ thông qua hoạt động của Mycorrhizahay những vi sinh vật khác. Cây Chè đại đáp ứng tốt với Nitơ của urea lên đến 240 kgN/ha/năm. Hàm lượng protein chứa bên trong lá thay đổi từ 18 - 21% và hầu hết là protein thật. Hàm lượng canxi đặc biệt cao khi so với các loại cây thức ăn khác.
Thí nghiệm kiểm tra các chất kháng dinh dưỡng (Rosales and Galindo, 1987)[66] chứng minh rằng, trong cây Chè đại không có alkaloid hay tannin, hàm lượng saponin và steroid thấp. Đặc tính sinh trưởng 1. Đặc tính sinh trưởng chung Sinh trưởng và phát triển không phải là một chức năng sinh lý riêng biệt mà là kết quả hoạt động tổng hợp của nhiều chức năng trong quá trình sinh lý của cây.Pratt, 1993 [54] thì tính hiệu quả của cỏ là làm biến đổi năng lượng mặt trời thành lá xanh, để động vật có khả năng thu nhận chúng. Tuy nhiên, sử dụng năng lượng từ lá lại phụ thuộc vào chu kỳ phát triển của cây.
Thực vật nói chung và cỏ nói riêng sinh trưởng và tái sinh trải qua 3 giai đoạn, mỗi giai đoạn lại có đặc điểm riêng: Giai đoạn sinh trưởng chậm (giai đoạn I): xảy ra sau khi mới gieo trồng, mới bị chăn thả hay thu cắt. Lúc này chất dự trữ ở hạt giảm, lá non còn ít; lá bị mất (do thu cắt) nên cây không có khả năng nhận ánh sáng mặt trời, trong khi đó cây đòi hỏi nhiều năng lượng để phát triển. Giai đoạn sinh trưởng nhanh (giai đoạn II): Đây là thời gian phát triển nhanh nhất. Trong giai đoạn này lá chứa đủ protein và năng lượng thỏa mãn cho nhu cầu dinh dưỡng của vật nuôi.
Cỏ có chất lượng cao và số lượng lớn. n 5 Giai đoạn sinh trưởng chậm (giai đoạn III): là giai đoạn gần trưởng thành hoặc sau khi chăn thả hay thu hoạch cỏ khoảng 40 - 70 ngày. Ở giai đoạn này, cỏ có phần thân chiếm đa số và nhiều xơ. Hàm lượng dinh dưỡng cao, số lượng nhiều, tuy nhiên khả năng tiêu hóa của vật nuôi đối với lá và thân cây giai đoạn này thấp (Đoàn Ẩn, Võ Văn Trị, 1976) [3].
Vì vậy, trong quản lý đồng cỏ cần chăn thả hay thu cắt khi kết thúc giai đoạn II và cần có thời gian nghỉ hợp lý để duy trì cây cỏ lâu dài. Mặt khác, tránh không cắt cỏ quá thấp hay cho động vật gặm cỏ còn lại quá ngắn gây tái sinh chậm làm giảm tổng sản lượng cỏ. Động thái sinh trưởng, tái sinh của thân và lá Lá non của cỏ non phát triển từ chồi mầm tạo ra ở đỉnh mô phân sinh. Hầu hết các tế bào của lá được cấu tạo trong khi lá còn rất nhỏ trong chồi (Langer, R.
Kết quả sinh trưởng của lá là sự mở rộng của kích cỡ tế bào (Esau. K, 1960) [56] và tăng trưởng khối lượng (Coyne. Lá mới sinh lấy cacbonhydrate từ rễ, thân hay từ lá già cho tới khi chúng hoàn thiện và do đòi hỏi phải sinh trưởng, nên chúng đồng hóa các sản phẩm từ rễ, lá, gốc để hình thành lá mới (Langer R. * Các yếu tố ảnh hưởng tới sinh trưởng của thân, lá Có rất nhiều yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến sinh trưởng của thực vật như giống, hay các yếu tố ngoại cảnh: khí hậu, thời tiết, đất, nước.Trong các yếu tố đó thì ánh sáng, nhiệt độ, nước và chất dinh dưỡng trong đất là các yếu tố chủ yếu của đời sống thực vật.
- Sức nảy mầm của cỏ (hạt, hom) Sự sinh trưởng của cỏ phụ thuộc trực tiếp vào sức nảy mầm của hạt, nếu hạt có sức nảy mầm cao sẽ tạo điều kiện cho sinh trưởng mạnh sau này. Phẩm chất của hạt thể hiện qua độ thuần và % nảy mầm (Bogdan A. n 6 - Nhiệt độ Nhiệt độ là một nhân tố sinh thái có ảnh hưởng rất lớn đối với sinh vật nói chung và thực vật nói riêng. Nhiệt độ có ảnh hưởng trực tiếp tới sinh trưởng của cây, nhiệt độ tăng thì sinh trưởng cũng tăng và nhiệt độ giảm sinh trưởng chậm lại.
Khi tăng nhiệt độ tới hạn nhất định có tác dụng thúc đẩy quá trình hấp thu chất khoáng của rễ (Trịnh Xuân Vũ và công sự, 1976) [46]. Cũng theo tác giả này, sự hô hấp bắt đầu trong khoảng 100C và tối thích ở nhiệt độ 350C. V, 1977 [49] nhiệt độ thấp nhất để cỏ nhiệt đới nảy mầm là 15 - 200C và tối ưu là 25 - 350C; Nhiệt độ tối ưu cho quang hợp của cỏ ôn đới là 15 - 200C, và ở cỏ nhiệt đới là 30 - 400C; Sự hình thành diệp lục bắt đầu khi nhiệt độ lớn hơn 10 - 150C. Vì vậy nhiệt độ hay thời gian trong năm mà ta thu hoạch sẽ ảnh hưởng tới giá trị của thức ăn (Marten, G.
Nhiệt độ đất có tác dụng đối với nhiệt độ bên trong thực vật lớn hơn nhiệt độ không khí, nguyên nhân là do vỏ và cây dẫn nhiệt kém còn nhiệt độ đất thông qua nước hấp phụ từ đất mà chuyển vào cây dễ dàng (Phan Nguyên Hồng, 1971) [21]. - Ẩm độ Ẩm độ hay lượng nước trong đất có ý nghĩa đặc biệt đối với đời sống cây trồng. Lượng nước trong đất nhiều hay ít đều ảnh hưởng đến việc cung cấp dinh dưỡng, chế độ quang hợp, chế độ thoát hơi nước để thực vật khỏi bị nóng quá, độ thoáng khí của đất. điều đó ảnh hưởng tới năng suất, sinh trưởng và chất lượng cây trồng (Nguyễn Đức Quý, 2007 [32].
- Ánh sáng Ánh sáng là nhân tố quan trọng, mối quan hệ giữa ánh sáng và sinh trưởng của cây rất phức tạp. Có ánh sáng cây mới sinh thân, cành lá và cây mới ra hoa kết quả bình thường. n 7 - Dinh dưỡng trong đất Điều kiện thổ nhưỡng có ảnh hưởng trực tiếp tới sinh trưởng của cỏ trồng, trong đó các chất dinh dưỡng trong đất đóng vai trò quan trọng kể cả các nguyên tố đa và vi lượng. Phân bón lót P - K rải một lần trong năm có tác dụng trong cả năm làm tăng năng suất cỏ so với không bón phân.
Ngược lại, sự tăng năng suất do tác dụng của N chỉ xảy ra ngay khi trước đó người ta bón phân (A. Voisin, 1963) [48], cũng chính vì vậy mà người ta có thể sử dụng đạm một cách hợp lý nhằm cân bằng năng suất cỏ trong cả năm để khắc phục tình trạng mùa do điều kiện thời tiết gây nên. Đất có hạt sét quá nhiều thì thường dí chặt, yếm khí, hoạt động rễ của thực vật bị hạn chế. Những loại đất này thường khiến cho rễ thực vật tiết ra nhiều độc tố.
Những cây thức ăn dùng cho gia súc thường không mọc ở đất này (Từ Quang Hiển và cs, 2002) [17]. * Các nhân tố ảnh hưởng tới tái sinh của thân và lá - Tuổi thiết lập Là tuổi kể từ khi trồng cỏ cho đến khi cỏ thiết lập và có thể đưa vào sử dụng lần đầu tiên. Lứa tuổi này rất quan trọng vì nó tạo điều kiện cho các bộ phận dưới đất (rễ, thân ngầm.) phát triển làm cơ sở cho việc dự trữ dinh dưỡng sau này. Chỉ khi các bộ phận này đã phát triển và dự trữ dinh dưỡng đầy đủ mới cho phép quá trình tái sinh mạnh (A.
- Tuổi thu hoạch Kể từ lứa cắt thứ nhất trở đi, thời gian giữa các lần thu hoạch gọi là tuổi thu hoạch. Khi cây dự trữ đủ dinh dưỡng thì ta bắt đầu thu hoạch. Voisin, 1963) [68] khẳng định: một cây cỏ nếu bị cắt trước khi rễ và những phần còn lại của lứa cắt chưa dự trữ đủ dinh dưỡng thì sự tái sinh sẽ gặp khó khăn và có thể không tái sinh được. Nếu tuổi thu hoạch chỉ bằng ½ tuổi thu hoạch thích hợp thì năng suất chỉ còn 1/3.
Nếu tăng hơn tuổi thích hợp nhất 50% thì chỉ tăng năng suất 20%, nhưng chất lượng giảm, tỷ lệ xơ tăng. n 8 - Độ cao thu hoạch Độ cao thu hoạch cũng quyết định lượng dự trữ của cỏ cho quá trình tái sinh trưởng. Khi cắt cỏ quá cao sẽ làm giảm sản lượng cỏ vì một phần sản lượng nằm ở phần để lại, khi cắt cỏ quá thấp sẽ ảnh hưởng tới các lần tái sinh sau đó, làm mất đi phần thân gần gốc là cơ quan dự trữ chất dinh dưỡng cơ bản để nuôi rễ và toàn bộ lá, không tạo ra các chất hữu cơ khác được.