Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Ngành chăn nuôi lợn giữ vai trò then chốt trong cơ cấu nông nghiệp tại Việt Nam. Theo số liệu của Tổ chức Nông Lương Liên Hợp Quốc (FAO) năm 2010, chăn nuôi lợn Việt Nam đứng thứ tư tại châu Á (sau Trung Quốc, Ấn Độ và Indonesia). Đến tháng 10 năm 2014, thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ghi nhận tổng đàn lợn cả nước đạt gần 27 triệu con. Bước sang 6 tháng đầu năm 2015, số liệu từ Tổng cục Thống kê cho thấy tổng đàn đạt 26,39 triệu con, sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng ước đạt 1.963,3 nghìn tấn, tăng 1,65% so với cùng kỳ năm trước.

Mặc dù quy mô đàn tăng trưởng, dịch bệnh trên vật nuôi vẫn là rào cản lớn, trong đó hội chứng tiêu chảy ở lợn con theo mẹ và giai đoạn sau cai sữa gây thiệt hại kinh tế nghiêm trọng. Bệnh có khả năng lây lan toàn đàn với tỷ lệ mắc lên đến 100%, tỷ lệ tử vong dao động từ 70% đến 100%. Lợn con sống sót sau bệnh thường còi cọc, chậm lớn, xù lông, suy giảm phẩm chất giống và kém phát triển ở các giai đoạn sau. Nhằm kiểm soát hội chứng này, nhiều chế phẩm kháng sinh thú y đã được ứng dụng trong thực tiễn như Nor-Coli, Enroflox, Coli-flox, Phar-D hay Oracin-500 (chứa hoạt chất Enrofloxacin của Công ty Cổ phần Dược phẩm Thú y Mê Linh - Pharmavet). Xuất phát từ thực trạng trên, tác giả Triệu Minh Hiếu đã thực hiện đề tài tốt nghiệp đại học chuyên ngành Thú y tại Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể:

  1. Xác định tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở đàn lợn lai F1 (Đại bạch x Móng Cái) giai đoạn sơ sinh đến 60 ngày tuổi nuôi tại Trại lợn Đức Chính, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng.
  2. Xác định hiệu lực của thuốc thú y Oracin-500 trong điều trị hội chứng tiêu chảy ở lợn con.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Đàn lợn con lai F1 (Đại bạch x Móng Cái) từ giai đoạn sơ sinh đến 60 ngày tuổi và chế phẩm thuốc Oracin-500.
  • Phạm vi không gian: Trại lợn Đức Chính, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng.
  • Phạm vi thời gian: Thực hiện từ ngày 25/05/2015 đến ngày 18/11/2015.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các đặc điểm sinh lý học, miễn dịch học và cơ chế bệnh sinh tiêu chảy ở gia súc non:

  • Đặc điểm sinh lý lợn con bú sữa: Tốc độ sinh trưởng nhanh (khối lượng cai sữa 60 ngày tuổi gấp 12 - 14 lần khối lượng sơ sinh; lợn con 3 tuần tuổi tích lũy 9 - 14 g protein/kg thể trọng/ngày, cao vượt trội so với mức 0,3 - 0,4 g/kg thể trọng/ngày ở lợn trưởng thành). Dung tích bộ máy tiêu hóa tăng nhanh (dạ dày lúc 60 ngày tuổi gấp 60 lần sơ sinh; ruột non gấp 50 lần; ruột già gấp 50 lần). Tuy nhiên, chức năng tiêu hóa chưa hoàn thiện, dịch vị lợn con dưới 1 tháng tuổi thiếu acid clohydric tự do (hiện tượng Hypoclohydric), khiến dịch vị mất tính sát trùng tự nhiên, tạo cơ hội cho vi khuẩn gây hại sinh sôi. Các men tiêu hóa (pepsin, amilaza, mantaza, saccaraza) có hoạt tính rất yếu trong 3 tuần đầu. Thần kinh điều tiết thân nhiệt chưa hoàn thiện, lớp mỡ dưới da mỏng, lông thưa, diện tích bề mặt cơ thể so với khối lượng lớn làm lợn dễ mất nhiệt khi trời lạnh ẩm. Miễn dịch lợn con sơ sinh hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vào lượng kháng thể gamma-globulin (chiếm 30 - 35% trong 18 - 19% protein của sữa đầu).
  • Căn nguyên và cơ chế sinh bệnh: Hội chứng tiêu chảy chịu tác động bởi nhiều mầm bệnh kế phát hoặc phối hợp. Trực khuẩn đường ruột Escherichia coli (ETEC) bám dính vào vi nhung mao ruột qua các kháng nguyên bề mặt (F4, F5, F6, F41, F17, F18) và tiết độc tố đường ruột gồm độc tố chịu nhiệt (ST) và kém chịu nhiệt (LT), làm đảo lộn cân bằng áp suất thẩm thấu, bài tiết ồ ạt nước và điện giải ra lòng ruột. Ngoài ra còn có sự tham gia của Salmonella choleraesuis, Salmonella typhimurium, Clostridium perfringens (type A, C), xoắn khuẩn Serpulina hyodysenteriae, Rotavirus, Coronavirus, sán lá ruột (Fasciolopsis buski) và cầu trùng (Eimeria sp.).
  • Dược lý thuốc Oracin-500: Thuốc do Công ty Pharmavet sản xuất; thành phần chứa 500 mg Enrofloxacin trong 100 ml dung môi. Enrofloxacin là kháng sinh nhóm fluoroquinolone phổ rộng, hoạt động theo cơ chế ức chế enzym DNA-gyrase của vi khuẩn, cản trở quá trình sao chép vật chất di truyền.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và dịch tễ học:

  • Phương pháp phát hiện và chẩn đoán: Giám sát lâm sàng trực tiếp 2 lần/ngày (buổi sáng và buổi chiều). Đánh dấu cá thể mắc bệnh bằng sơn sau vành tai và ghi chép sổ theo dõi.
  • Phương pháp điều trị: Áp dụng phác đồ kết hợp thuốc kháng sinh Oracin-500 với các biện pháp nâng cao thể trạng:
Nhóm thuốc Tên thuốc / Hoạt chất Liều lượng và cách dùng
Kháng sinh đặc trị Oracin-500 (Enrofloxacin) Cho uống 1 ml/2 kg thể trọng/ngày, 1 lần/ngày, dùng liên tục 3 ngày
Trợ lực - Bổ sung men B.complex Trộn thức ăn với liều 1 g/2 kg thức ăn
Hồi phục thể lực Dung dịch Glucose 5% Tiêm 5 ml/con trong suốt thời gian điều trị
Bù nước và điện giải Orezol Pha nước uống theo tỷ lệ 1 g/1 lít nước
  • Phương pháp thu thập dữ liệu cơ cấu đàn: Hồi cứu sổ sách chăn nuôi của Trại lợn Đức Chính trong giai đoạn 3 năm (2013 - 2015).
  • Phương pháp thống kê và xử lý số liệu: Đánh giá các chỉ tiêu thông qua các công thức tính tỷ lệ mắc bệnh chung, tỷ lệ mắc theo lứa tuổi, tỷ lệ mắc theo tháng, hiệu lực điều trị, tỷ lệ tái nhiễm và chi phí thuốc thú y. Số liệu được phân tích theo phương pháp thống kê sinh vật học của tác giả Nguyễn Văn Thiện (2003) và xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả nêu bật vị thế của ngành chăn nuôi lợn tại Việt Nam qua số liệu thống kê của FAO và Tổng cục Thống kê, đồng thời chỉ ra tính cấp bách trong kiểm soát hội chứng tiêu chảy ở lợn con nhằm hạn chế tỷ lệ chết và tình trạng còi cọc. Xác định rõ mục tiêu, ý nghĩa khoa học trong việc bổ sung dẫn liệu dịch tễ học thú y tại Cao Bằng và ý nghĩa thực tiễn khi đưa ra khuyến nghị sử dụng thuốc Oracin-500 cho các cơ sở chăn nuôi.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng hợp các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về đặc điểm sinh lý tiêu hóa của lợn con theo mẹ, hội chứng Hypoclohydric, vai trò miễn dịch của sữa đầu và cơ chế điều tiết thân nhiệt. Phân tích nguyên nhân vi sinh vật gây tiêu chảy (đặc biệt là E. coli ETEC, Salmonella, Clostridium, Rotavirus), các yếu tố chăm sóc nuôi dưỡng, stress môi trường và bệnh tích giải phẫu ở thể cấp tính, mãn tính. Đồng thời, tổng quan các nghiên cứu trong nước (Đặng Xuân Bình, Lê Văn Tạo, Trương Năng, Phạm Khắc Hiếu) và quốc tế (Jones, Pensaert, Nagy) về tình hình bệnh và mức độ kháng thuốc của vi khuẩn đường ruột, làm cơ sở giới thiệu tác dụng dược lý của Enrofloxacin trong chế phẩm Oracin-500.

Phần 3: Đối tượng, nội dung, địa điểm, thời gian và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết mẫu nghiên cứu gồm đàn lợn F1 (Đại bạch x Móng Cái) từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi tại Trại lợn Đức Chính, Hòa An, Cao Bằng trong giai đoạn tháng 5/2015 đến tháng 11/2015. Thiết lập quy trình chẩn đoán lâm sàng 2 lần/ngày, phác đồ điều trị phối hợp Oracin-500, Glucose, Orezol và B.complex. Định lượng các chỉ tiêu nghiên cứu thông qua hệ thống 7 công thức tính toán dịch tễ học và hiệu quả kinh tế thú y trên nền tảng phần mềm Excel.

Phần 4: Kết quả và thảo luận

Chương 4 chia làm hai phần chính:

  1. Kết quả phục vụ sản xuất: Tác giả tham gia tiêm phòng vacxin suyễn (55 con), vacxin circo (60 con), vacxin PRRS (75 lợn nái) đạt tỷ lệ an toàn 100%. Tham gia chẩn đoán và điều trị bệnh viêm nội mạc tử cung (khỏi 4/5 con, 80%), viêm khớp do Streptococcus suis (khỏi 14/18 con, 84%), điều trị tiêu chảy lợn con (khỏi 95/95 con, 100%). Thực hiện các thủ thuật ngoại khoa và chăm sóc như tiêm sắt (200 con), cắt đuôi/nanh/bấm tai (63 con), thiến lợn đực (93 con).
  2. Kết quả chuyên đề nghiên cứu: Trình bày diễn biến cơ cấu đàn lợn của trại từ năm 2013 đến 2015; tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy chung trên đàn lợn thí nghiệm; sự sai khác về tỷ lệ mắc theo các lứa tuổi (sơ sinh - 15 ngày, 16 - 30 ngày, 31 - 45 ngày, 46 - 60 ngày); mức độ cảm nhiễm giữa hai tính biệt đực và cái; cùng sự biến động tỷ lệ mắc tiêu chảy theo các tháng từ tháng 6 đến tháng 10 năm 2015.

Phần 5: Kết luận và đề nghị

Đưa ra kết luận tổng hợp về tình hình dịch tễ của đàn lợn tại Trại lợn Đức Chính và hiệu quả điều trị của phác đồ Oracin-500. Nêu các đề nghị đối với cơ sở chăn nuôi về công tác vệ sinh thú y, chống rét, tập ăn sớm cho lợn con và áp dụng phác đồ điều trị vào thực tế sản xuất.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu ghi nhận đầy đủ các số liệu thực nghiệm thông qua hệ thống bảng thống kê:

Cơ cấu đàn lợn tại Trại lợn Đức Chính (2013 - 2015):

Năm Tổng đàn (con) Lợn đực (con) Tỷ lệ (%) Lợn nái (con) Tỷ lệ (%) Lợn thịt (con) Tỷ lệ (%)
2013 2.679 7 0,26 313 11,68 2.359 88,06
2014 2.718 8 0,29 319 11,73 2.391 87,97
11/2015 3.010 9 0,30 349 11,59 2.652 88,11

Quy mô đàn tăng trưởng liên tục, năm 2014 tăng 39 con (1,45%) so với 2013; năm 2015 tăng 331 con so với 2013. Tỷ lệ cơ cấu duy trì ổn định với hướng chăn nuôi chính là lợn thịt (chiếm hơn 88%).

Tình hình mắc hội chứng tiêu chảy theo đàn và cá thể: Theo dõi 25 ổ lợn nái với tổng số 225 lợn con F1 (ĐB x MC) từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi, ghi nhận:

  • Tỷ lệ đàn mắc bệnh: 25/25 đàn có lợn mắc bệnh, chiếm 100%.
  • Tỷ lệ lợn con mắc bệnh: 95/225 con mắc bệnh, chiếm 42,22%.

Tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy theo lứa tuổi (trên 95 con mắc bệnh):

Nhóm lứa tuổi Số lợn mắc (con) Tỷ lệ trong tổng số lợn mắc (%)
Sơ sinh - 15 ngày tuổi 30 31,58
16 - 30 ngày tuổi 41 43,16
31 - 45 ngày tuổi 15 15,79
46 - 60 ngày tuổi 9 9,47
Tổng 95 100,00

Giai đoạn 16 - 30 ngày tuổi có tỷ lệ mắc cao nhất (43,16%) do sự suy giảm kháng thể mẹ truyền qua sữa đầu và hiện tượng khủng hoảng dinh dưỡng khi sữa mẹ bắt đầu giảm sút sản lượng. Lứa tuổi 46 - 60 ngày tuổi có tỷ lệ mắc thấp nhất (9,47%) do hệ tiêu hóa đã dần thích nghi với thức ăn bổ sung.

Tỷ lệ mắc bệnh theo tính biệt:

  • Lợn đực: Theo dõi 115 con, phát hiện 49 con mắc bệnh, tỷ lệ 42,61%.
  • Lợn cái: Theo dõi 110 con, phát hiện 46 con mắc bệnh, tỷ lệ 41,81%. Chênh lệch tỷ lệ mắc bệnh giữa hai giới tính không có ý nghĩa thống kê; tính biệt không ảnh hưởng rõ rệt đến khả năng cảm nhiễm tiêu chảy ở giai đoạn sơ sinh - 60 ngày tuổi.

Tỷ lệ mắc bệnh theo các tháng trong năm 2015:

Tháng theo dõi Số con điều tra (con) Số con mắc bệnh (con) Tỷ lệ mắc bệnh (%)
Tháng 6/2015 45 15 33,23
Tháng 7/2015 43 16 37,21
Tháng 8/2015 44 18 40,91
Tháng 9/2015 46 20 43,48
Tháng 10/2015 47 26 55,32
Tổng 225 95 42,22

Tỷ lệ mắc bệnh tăng dần theo thời gian, đạt cao nhất vào tháng 10/2015 (55,32%) và tháng 9/2015 (43,48%) do thời tiết tại Cao Bằng chuyển mùa từ hè sang thu, biên độ chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm lớn gây stress cho lợn con.

Hiệu lực điều trị và đóng góp của đề tài:

  • Trong công tác phục vụ sản xuất, phác đồ sử dụng Oracin-500 kết hợp trợ lực đã điều trị khỏi cho 95/95 lợn con mắc tiêu chảy, đạt tỷ lệ khỏi bệnh 100%.
  • Tác giả đề xuất giải pháp đồng bộ: Vệ sinh sát trùng chuồng nuôi, giữ ấm và chắn gió lùa; cho lợn bú đủ sữa đầu ngay sau khi sinh; tập ăn sớm cho lợn con để kích thích dạ dày tiết acid clohydric tự do; định kỳ tiêm sắt, tiêm phòng vacxin đầy đủ và sử dụng phác đồ Oracin-500 kết hợp bù nước, điện giải ngay khi phát hiện triệu chứng.
  • Đóng góp khoa học: Cung cấp số liệu cụ thể về tỷ lệ mắc bệnh (42,22%) trên giống lợn lai F1 (ĐB x MC) tại điều kiện thực địa tỉnh Cao Bằng. Tỷ lệ này nằm ở mức trung bình khi so sánh với công bố trước đây của Trương Năng và Xuân Giao (1999) trên phạm vi toàn quốc (25 - 100%) và Lê Văn Tạo (1996) tại 6 trại Đồng bằng sông Cửu Long (32,2% - 75%).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận bộc lộ một số hạn chế gắn liền với phạm vi khảo sát:

  • Nghiên cứu chỉ được thực hiện trên một trang trại tập trung duy nhất (Trại lợn Đức Chính) trong khung thời gian 6 tháng (từ tháng 5 đến tháng 11 năm 2015). Đề tài chưa theo dõi trọn vẹn chu kỳ 12 tháng, đặc biệt thiếu số liệu các tháng mùa đông rét đậm và đầu xuân (tháng 12 đến tháng 4 năm sau) - vốn là giai đoạn dịch tiêu chảy thường bùng phát mạnh tại vùng núi phía Bắc.
  • Nghiên cứu chỉ quan sát và đánh giá lâm sàng, chưa thực hiện nuôi cấy phân lập vi sinh vật để xác định chính xác các serotype E. coli hay chủng virus thực tế đang lưu hành trong đàn lợn của trại, cũng như chưa tiến hành kháng sinh đồ chuyên sâu trong phòng thí nghiệm.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng thời gian theo dõi liên tục trong nhiều năm nhằm bao quát đầy đủ sự biến động theo mùa và khí hậu tại Cao Bằng.
  • Bổ sung các kỹ thuật xét nghiệm vi sinh để giám sát mức độ mẫn cảm và tính kháng kháng sinh của các chủng vi khuẩn đường ruột đối với Enrofloxacin tại địa phương.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận có giá trị ứng dụng và tham khảo đối với nhiều đối tượng:

  • Sinh viên, học viên ngành Thú y và Chăn nuôi Thú y: Tài liệu hữu ích phục vụ học tập các học phần Bệnh truyền nhiễm thú y, Dược lý thú y và Nội khoa thú y. Phần tổng quan về sinh lý lợn con (chứng thiếu HCl tự do, khả năng hấp thu gamma-globulin) và cơ chế sinh bệnh của vi khuẩn đường ruột được hệ thống hóa rõ ràng, dễ tiếp cận.
  • Cán bộ kỹ thuật và người chăn nuôi lợn: Cung cấp quy trình thực hành thực tế về chăm sóc lợn con sơ sinh, lịch phòng vacxin (suyễn, circo, PRRS) và phác đồ dùng thuốc Oracin-500 kết hợp điện giải, glucose nhằm giảm thiểu tỷ lệ chết do tiêu chảy mất nước trên đàn lợn con.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao lợn con giai đoạn 16 - 30 ngày tuổi lại có tỷ lệ mắc hội chứng tiêu chảy cao nhất (43,16%)?
Theo phân tích của tác giả, đây là giai đoạn khủng hoảng sinh lý của lợn con: sản lượng và hàm lượng kháng thể trong sữa mẹ giảm nhanh sau 3 tuần nuôi con, trong khi nhu cầu dinh dưỡng cho tăng trọng của lợn con ngày càng cao. Sự mất cân đối này làm giảm sức đề kháng tự nhiên, kết hợp với lượng mầm bệnh tích tụ và bài thải ngày càng tăng trong chuồng nuôi, dẫn đến việc lợn con rất dễ bị vi khuẩn xâm nhập và bùng phát tiêu chảy.

Hoạt chất chính và cơ chế tác dụng của thuốc Oracin-500 được nêu trong khóa luận là gì?
Thuốc Oracin-500 chứa hoạt chất Enrofloxacin (500 mg/100 ml), là kháng sinh phổ rộng thuộc nhóm fluoroquinolone. Thuốc tác động bằng cách ức chế enzym DNA-gyrase - enzym có vai trò kiểm soát quá trình cuộn và mở xoắn DNA của vi khuẩn trong quá trình nhân đôi, khiến nhiễm sắc thể của vi khuẩn bị suy thoái và tiêu diệt.

Hiện tượng "Hypoclohydric" ở lợn con bú sữa dưới 1 tháng tuổi có ảnh hưởng như thế nào đến bệnh lý tiêu hóa?
Hypoclohydric là hiện tượng trong dịch vị lợn con dưới 1 tháng tuổi không có acid clohydric (HCl) ở dạng tự do do lượng acid tiết ra rất ít và bị trung hòa nhanh chóng bởi niêm dịch. Thiếu HCl tự do khiến dịch dạ dày mất đi tính sát trùng tự nhiên, vi sinh vật gây bệnh theo thức ăn, nước uống xâm nhập vào đường tiêu hóa dễ dàng sống sót, nhân lên và gây bệnh viêm ruột tiêu chảy.

Biến động thời tiết từ tháng 6 đến tháng 10 năm 2015 tại Cao Bằng ảnh hưởng ra sao đến tỷ lệ tiêu chảy ở đàn lợn con?
Tỷ lệ tiêu chảy tăng dần đều qua các tháng (tháng 6: 33,23%; tháng 7: 37,21%; tháng 8: 40,91%; tháng 9: 43,48% và tháng 10: 55,32%). Nguyên nhân do tháng 9 và tháng 10 là thời điểm chuyển mùa từ hè sang thu, biên độ chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm ở vùng núi Cao Bằng rất lớn, lợn con chưa hoàn thiện hệ thần kinh điều nhiệt nên dễ bị cảm lạnh, rối loạn tiêu hóa và bội nhiễm vi khuẩn.

Kết quả điều trị bằng thuốc Oracin-500 trên đàn lợn thí nghiệm đạt tỷ lệ như thế nào?
Trong công tác phục vụ sản xuất tại trại, toàn bộ 95 lợn con mắc hội chứng tiêu chảy được điều trị bằng phác đồ kết hợp thuốc uống Oracin-500 (1 ml/2 kg thể trọng/ngày trong 3 ngày) cùng B.complex, dung dịch Glucose 5% và Orezol đều khỏi bệnh hoàn toàn, đạt tỷ lệ thành công 100%.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Triệu Minh Hiếu đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về đặc điểm sinh lý tiêu hóa của lợn con và bức tranh dịch tễ học hội chứng tiêu chảy trên giống lợn lai F1 (ĐB x MC) tại Trại lợn Đức Chính, Cao Bằng với tỷ lệ mắc ghi nhận ở mức 42,22%. Kết quả nghiên cứu xác định nhóm lợn 16 - 30 ngày tuổi và thời điểm giao mùa thu (tháng 9 - 10) có nguy cơ mắc bệnh cao nhất, trong khi yếu tố tính biệt không tạo ra sự khác biệt rõ rệt. Phác đồ kết hợp kháng sinh Enrofloxacin (thuốc Oracin-500) cùng liệu pháp bù nước, điện giải và vitamin trợ sức đã chứng minh hiệu lực điều trị đạt 100%, cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm tin cậy cho việc phòng và trị bệnh tiêu chảy gia súc non tại địa phương.