Đặt vấn đề Các nghiên cứu khoa học về chăn nuôi cũng như các ngành khoa học khác, đã và đang phát triển lớn mạnh không ngừng. Việc này đưa đến những lĩnh vực hầu như không có ranh giới rõ rệt, mà đan xen, tương trợ lẫn nhau cùng đi đến một mục đích chung. Đó là làm sao đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của con vật theo một cách tự nhiên nhất, mà vẫn đạt được năng suất và hiệu quả chăn nuôi cao nhất, đồng thời cung cấp các sản phẩm chăn nuôi an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng và thân thiện với môi trường. Trong xu hướng này, các chất bổ sung có nguồn gốc tự nhiên ngày càng được quan tâm ứng dụng.
Thảo dược ngày càng có nhiều tác giả quan tâm đến nó và sử dụng nó như một chất bổ sung vào thức ăn chăn nuôi giúp phòng ngừa bệnh tật và làm tăng tính ngon miệng, giảm tác hại của sự oxy hóa dưỡng chất trong thức ăn, hỗ trợ tăng cường tiêu hóa, trao đổi chất dinh dưỡng trong cơ thể vật nuôi. Trong những năm gần đây, tình hình diễn biến dịch bệnh trong ngành chăn nuôi rất phức tạp. Dịch bệnh xảy ra liên tục trên diện rộng, ngày càng khó kiểm soát và là mối nguy trực tiếp cho sức khỏe cộng đồng. Khi dịch bệnh xảy ra, biện pháp chủ yếu vẫn là sử dụng kháng sinh để phòng trị và giảm thiểu các bệnh nhiễm trùng kế phát.
Tuy nhiên việc lạm dụng kháng sinh sẽ là nguyên nhân làm tăng khả năng kháng thuốc của các chủng vi khuẩn gây bệnh, tạo ra những dòng vi khuẩn mới do đột biến và làm giảm chất lượng sản phẩm do tồn dư kháng sinh, hóa dược. Chính vì vậy ngày càng có nhiều nước cấm sử dụng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi và hạn chế trong điều trị bệnh (EEC, Mỹ, Nhật, Úc, Hàn Quốc). Việt Nam cũng đã cấm sử dụng 18 loại kháng sinh, hóa dược và hormon sinh trưởng trong chăn nuôi từ năm 2002. Tuy nhiên, hiệu quả của kháng sinh mang lại trong phòng bệnh, tăng sức đề kháng và kích thích sinh trưởng cho vật nuôi là không thể phủ nhận (Looker, 1997; Mellor, 2000) [1, 2].
Do đó, việc nghiên cứu sản xuất tìm ra các chế phẩm có nguồn gốc tự nhiên có chức năng kháng khuẩn, kích thích sinh trưởng và tăng sức đề kháng như kháng sinh nhưng lại không gây độc hại cho con người đang là vấn đề cấp bách 5 Tổng hợp các nghiên cứu trong và ngoài nước Chùm ngây (Moringa oleifera) là một cây dược thảo được trồng ở 80 nước trên thế giới, tập trung nhiều ở châu Phi, Madagascar và một phần của châu Á bao gồm cả Ả rập và Ấn Độ. Ở nước ta, trước đây cây này mọc hoang nhưng sau này được trồng nhiều ở các tỉnh miền Trung (Đà nẵng, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận); miền Đông Nam Bộ (Đồng Nai), đồng bằng sông Cửu Long (An Giang) và đảo biển (Phú Quốc)(Võ Văn Chi, 1999) [3]. Năng suất Chùm ngây phụ thuộc vào kỹ thuật canh tác, theo Lưu Hữu Mãnh và ctv, (2005)[4] với khoảng cách trồng (hàng-hàng) 40 x 20; 40 x 30; 40 x 40 năng suất sinh khối (thu hoạch cả cành và lá) đạt tương ứng 8,6; 11,1 và 7,6 tấn /ha cho lần cắt 1 (70 ngày); 7,6; 7,9 và 6,3 tấn/ha cho lần cắt 2 (115 ngày); 6,3; 6,3 và 4,9 tấn/ha cho lần cắt 3 (157 ngày). Chiều cao cây của các lần cắt không bị ảnh hưởng đáng kể bởi khoảng cách trồng.
Trong hoa, lá và rễ Chùm ngây có các hoạt chất có khả năng kháng khuẩn và kháng nấm mạnh như pterygospermin; isothiocyanate; anthonine. Ngoài ra, trong lá Chùm ngây chứa nhiều chất dinh dưỡng quan trọng như protein, khoáng vi lượng, vitamin C, nhóm B, ß-caroten, các acid amin thiết yếu (Võ Văn Chi, 1999; Phạm Hoàng Hộ, 2000) [3, 5] và nhiều hợp chất quý khó gặp ở những cây thực vật khác (zeatin, nhóm flavonoid bao gồm quercetin; rutin; ß-sitosterol; acid caffeoylquinic và kaempferol) (Tarafder, 1983; Nath và ctv, 1997; 1992) [6-8] Bên cạnh đó, hàm lượng các chất kháng dinh dưỡng trong Chùm ngây khá thấp hứa hẹn là nguồn thức ăn rất tốt cho người và gia súc (Afuang và ctv 2003, Mutayoba và ctv 2011) [9, 10]. 6 Lá Chùm ngây có thể thay thế 100% lá đậu leo (Centrosema pubescens) trong khẩu phần thỏ sinh sản (lá trong khẩu phần chiếm 20% trọng lượng cơ thể) mà không ảnh hưởng gì tới lượng protein ăn vào, thời gian mang thai và trọng lượng sơ sinh/ổ (Odeyinka và ctv, 2008) [11]. Đối với thỏ thịt, bột lá Chùm ngây hoàn toàn có thể thay thế khô đậu nành trong khẩu phần, ở mức 20% bột lá Chùm ngây trong khẩu phần (thay thế 100% khô đậu nành) đã cải thiện 4,1% tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng cơ bản và 5,8% tăng trọng của thỏ (Farinu và ctv, 2008) [12].
Những thí nghiệm trên bò sữa cũng cho thấy sử dụng bột lá Chùm ngây như là nguồn cung cấp protein trong khẩu phần không làm ảnh hưởng đáng kể tới sản lượng và chất lượng sữa so với thức ăn hỗn hợp truyền thống (Sarawtt và ctv, 2004) [13]. Trong trường hợp sử dụng lá Chùm ngây ủ chua trong khẩu phần của bò sữa thì năng suất và chất lượng sữa cũng tương đương như sử dụng cỏ voi và đọt mía ủ trong khẩu phần (Bryan, 2011) [14]. Ở gà đẻ trứng thương phẩm, sử dụng 10% bột lá Chùm ngây trong khẩu phần không làm ảnh hưởng đáng kể tới tới hiệu quả sử dụng thức ăn, sản lượng và chất lượng trứng nhưng đã làm giảm đáng kể giá thành sản phẩm so với thức ăn hỗn hợp thông thường (Olugbemi và ctv, 2010; Kaijage và ctv, 2003) [15, 16]. Các nghiên cứu khác trên heo, cá, dê, bò thịt cũng cho kết quả tương tự (Ly, 2001; Sarwatt và ctv, 2002; Richter và ctv, 2003; Soliva và ctv, 2005) [17-20].
Bảng 1: Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng các bộ phận cây Chùm ngây (g/100 g) Trái STT Chất dinh dưỡng Lá tươi Lá khô tươi Thành phần hóa học 1 Độ ẩm (%) 86,9 75,0 7,5 2 NE (kcal/kg) - - 1480 (*) 3 Protein (g) 2,5 6,7 27,1 4 Béo (g) 0,1 1,7 2,3 5 Xơ (g) 4,8 0,9 19,2 6 Khoáng TS (g) 2 2,3 - 7 Khoáng vi lượng 7 Cu (mg) 3,1 1,1 0,57 8 Fe (mg) 5,3 7,0 28,2 9 Mg (mg) 24 24 368 10 Zn (mg) - - 3,29 11 Se (mg) - - 0,09 Thành phần vitamin 12 Vitamin A (mg) 0,11 6,8 18,9 13 Vitamin B (mg) 423 423 14 Vitamin B1 (mg) 0,05 0,21 2,64 15 Vitamin B2 (mg) 0,07 0,05 20,5 16 Vitamin B3 (mg) 0,2 0,8 8,2 17 Vitamin C (mg) 120 220 17,3 Thành phần axít amin 18 Arginine (mg) 90 402 1325 19 Histidin (mg) 27,5 141 613 20 Leucine (mg) 163 623 1950 21 Isoleucine (mg) 110 422 825 22 Lysin (mg) 37,5 288 1325 23 Methionine (mg) 35 134 350 24 Phenylanalin (mg) 108 429 1388 25 Threonine (mg) 98 328 1188 26 Tryptophan (mg) 20 127 425 27 Valine (mg) 135 476 1063 Kháng dinh dưỡng 28 Phenol tổng (%) 3,04 29 Tanins (%) 2,83 30 Lignin (%) 1,8 31 HCN KPH 32 Tripsin inhibitor KPH 8 (*) NE: tương đương 88,62% so với tấm gạo Nguồn: http://www.html Một số kết quả nghiên cứu nổi bật về việc sử dụng sản phẩm từ cây Chùm ngây trong khẩu phần gia súc, gia cầm đã được ghi nhận. Ở gà đẻ, nghiên cứu của Olugbemi và ctv, (2010)[15] cho thấy khi sử dụng bột lá Chùm ngây khô với tỷ lệ tới 10% trong khẩu phần gà đẻ thương phẩm 45 tuần tuổi được cân bằng năng lượng và protein thô từ bắp (đối với khẩu phần không sử dụng bột khoai mỳ khô), bột khoai mỳ và khô dầu hướng dương đã không làm ảnh hưởng đáng kể tới năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ. Lượng thức ăn ăn vào và hiệu quả sử dụng thức ăn của gà đã không bị ảnh hưởng bởi tỷ lệ bổ sung bột là Chùm ngây trong khẩu phần. Trọng lượng trứng nhỏ nhất ở nghiệm thức sử dụng bắp trong khẩu phần (không sử dụng bột Chùm ngây và bột khoai mỳ).
Giá thành thức ăn, chi phí tiền thức ăn /1 kg trứng và mức độ lòng đỏ trứng (thang điểm của Roche) tốt nhất ở nghiệm thức sử dụng 10% bột Chùm ngây trong khẩu phần. Tương tự, 1 thí nghiệm khác của Kakengi và ctv, (2007)[10] khi sử dụng bột lá Chùm ngây thay thế khô dầu hướng dương trong khẩu phần gà đẻ (giốngWhite leghorn) giai đoạn 20-34 tuần tuổi với mức thay thế từ 0 đến 100% cho thấy tỷ lệ đẻ của gà có xu hướng giảm khi tăng tỷ lệ bột Chùm ngây trong khẩu phần, nhưng ở mức thay thế 50% khô dầu hướng dương bằng bột Chùm ngây sai biệt về tỷ lệ đẻ chưa có ý nghĩa thống kê (P > 0,05), ở mức thay thế này đã là tăng đáng kể lượng thức ăn ăn vào và hiệu quả sử dụng thức ăn (P < 0,05). Thay thế tới 50% bột Chùm ngây trong khẩu phần cũng không ảnh hưởng đáng kể tới trọng lượng trứng. Trên gà thịt, một vài nghiên cứu cho thấy bổ sung bột lá Chùm ngây vào khẩu phần cho kết quả tương đối tốt.
Gadziray và ctv, (2012) [21]cho rằng sử dụng bột lá Chùm ngây với tỷ lệ 25% trong khẩu phần gà thịt không làm thay đổi lượng thức ăn ăn vào và tăng trọng của gà thịt so với khẩu phần sử dụng thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh. Theo Melesse và ctv, (2011) [22], bổ sung bột lá Chùm ngây ở mức 5 - 7% vào khẩu phần của gà thịt đã cải thiện tăng trọng của gà từ 8,5 - 13,6% so với khẩu phần không bổ sung bột lá Chùm ngây. Tương tự, Olugbemi và CTV (2010) [15]cho rằng sử dụng bột lá Chùm 9 ngây khô với tỷ lệ tới 5% trong khẩu phần gà thịt có sử dụng 20 và 30% bột khoai mì khô sẽ tương đương với khẩu phần sử dụng bắp trong khẩu phần về tăng trọng, lượng thức ăn ăn vào và hệ số chuyển hóa thức ăn của gà thí nghiệm. Trên bò sữa, Sarwatt và ctv, (2004) [13] tiến hành 2 thí nghiệm, thí nghiệm 1 đánh giá sức sản xuất và chất lượng sữa của bò sữa lai khi thay thế từ 40 - 100% khô dầu dừa bằng bột Chùm ngây với khẩu phần cơ bản là cỏ hòa thảo ở chế độ cho ăn tự do.
Thí nghiệm 2 đánh giá khả năng phân hủy chất khô của khô dầu dừa và bột Chùm ngây trong dạ cỏ bằng kỹ thuật túi nylon (nylon bag technique). Kết quả cho thấy thay thế 100% khô dầu dừa bằng bột Chùm ngây trong khẩu phần không làm ảnh hưởng tới sức sản suất mà còn có tác dụng làm tăng đáng kể sản lượng sữa của bò (P < 0,05). Chất lượng sữa không bị ảnh hưởng bởi việc thay thế bột Chùm ngây.