Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Nhu cầu dinh dưỡng của gà thịt và phương pháp xác định 1. Nhu cầu về năng lượng của gà thịt và phương pháp xác định Năng lượng rất cần thiết cho sự duy trì cho mọi hoạt động, sinh trưởng và phát triển cơ thể.
Mỗi hoạt động sống của cơ thể động vật đều gắn liền với quá trình sử dụng và trao đổi năng lượng. Quá trình này đòi hỏi sự lấy vào các chất dinh dưỡng đề bù đắp vào chỗ vật chất của cơ thể bị đốt cháy, tạo ra năng lượng tích lũy cho cơ thể lớn lên và phát triển được. Năng lượng trong thức ăn được tiềm trữ trong các dạng vật chất của thức ăn đó như lipid, protein, carbohydrate (Nguyễn Duy Hoan và cs, 1999 [5]). Nhu cầu năng lượng duy trì cho gà Để cung cấp đầy đủ chính xác khẩu phần cho gia cầm thì yếu tố đầu tiên là mức năng lượng thích hợp, cần thiết cho nhu cầu duy trì các hoạt động, sinh trưởng và phát triển của cơ thể.
Năng lượng cho duy trì bao gồm năng lượng cho trao đổi chất cơ bản và năng lượng cho hoạt động bình thường. Nhu cầu năng lượng cho hoạt động bình thường phụ thuộc vào mức độ hoạt động của con vật. Điều kiện nuôi dưỡng bình thường thì năng lượng cho hoạt động bằng 50 % năng lượng trao đổi cơ bản. Nhu cầu năng lượng trao đổi cơ bản là nhu cầu dưỡng chất để bù đắp cho sự tiêu hao năng lượng, đây là các chất dinh dưỡng phân giải lúc đói trong điều kiện tiêu chuẩn không vận động, không làm việc.
Trong thực tiễn sản xuất, người ta thường tính theo nhu cầu năng lượng cho 1 kg khối lượng trao đổi ( , trị số 70 kcal 15 % và ít biến động giữa các loài. Đối với gà, theo McDonald và cs (1995), nhu cầu năng lượng trao đổi cơ bản cho 1 kg 5 khối lượng là 72 kcal/ngày, còn 1 kg là 86 kcal/ngày (Nguyễn Đức Hưng, 2006 [7]). Singh (1988) [49] đã đưa ra công thức tính nhu cầu năng lượng thuần cho duy trì (NEm) là: NEm= 83 ×. ( W là khối lượng cơ thể) Năng lượng thuần cho duy trì chiếm 82 % năng lượng trao đổi cho duy trì và năng lượng cho hoạt động sống bình thường bằng 50 % năng lượng trao đổi cơ bản.
Dựa vào đó, ta có thể tính được nhu cầu năng lượng duy trì của gà đối với khối lượng khác nhau. Nhu cầu năng lượng cho sản xuất Nhu cầu năng lượng cho sản xuất phụ thuộc vào loại sản phẩm chăn nuôi. Đối với gia súc, gia cầm đang sinh trưởng phụ thuộc vào tăng khối lượng hằng ngày và thành phần thân thịt xẻ, còn đối với gia cầm đẻ trứng nhu cầu này phụ thuộc vào sản lượng, khối lượng trứng và tỷ lệ đẻ của cả đàn (Hội Chăn nuôi Việt Nam, 2001[7]). Nhu cầu năng lượng cho tăng khối lượng: Theo Bùi Đức Lũng (1995) (Dẫn theo Nguyễn Đức Hưng, 2006 [8]) có thể tính nhu cầu năng lượng cho tăng khối lượng theo công thức: MEtt= Trong đó: MEtt: nhu cầu năng lượng cho tăng khối lượng Pt: số gam tăng khối lượng/ngày 0,3: % protein trong thịt 6 5,7: số kcal/g protein 0,05: % mỡ trong thịt 9,5: số kcal/g mỡ 0,82: hiệu suất sử dụng năng lượng trao đổi cho tăng khối lượng.
Nhu cầu về protein và axit amin của gà thịt và phương pháp xác định Protein là các polymer được tạo nên từ các trình tự xác định các amino acid. Protein là hợp chất hữu cơ có ý nghĩa quan trọng bậc nhất trong cơ thể sống. Ngoài vai trò là thành phần chính trong cấu trúc của tế bào và mô, protein còn có nhiều chức năng phong phú khác quyết định những đặc điểm cơ bản của sự sống như sự truyền đạt thông tin di truyền, sự chuyển hóa các chất. Protein có vai trò sinh học là: tạo hình, xúc tác, bảo vệ, vận chuyển, vận động, dự trữ và dinh dưỡng, dẫn truyền tín hiệu thần kinh, điều hòa, cung cấp năng lượng (Hồ Trung Thông và cs, 2006 [28]).
Axit amin là chất hữu cơ mà phân tử chứa ít nhất một nhóm carboxyl (- COOH) và ít nhất một nhóm amin (-NH2), trừ prolin chỉ có nhóm NH (thực chất là một imino acid). Trong phân tử các aa tồn tại trong tự nhiên, các nhóm –COOH và –NH2 đều gắn với carbon ở vị trí α. Hầu hết các aa thu nhận được khi thủy phân protein đều ở dạng L-α. Như vậy, các aa chỉ khác nhau ở mạch nhánh (gốc R).
Theo quan điểm dinh dưỡng, người ta chia 20 loại aa thường gặp trong protein thành 2 nhóm: aa không thay thế hay còn gọi là aa thiết yếu và aa thay thế hay còn gọi là aa không thiết yếu. Có 8 - 10 loại aa thiết yếu tùy theo từng loại động vật. Đối với gia cầm, có 9 - 10 loại aa thiết yếu là: arginine (đối với gà con), histidine, leucine, isoleucine, lysine, methionine, phenylalamine, threonine, tryptophan và valine. Axit amin không thiết yếu là những aa mà cơ thể có thể tổng hợp được và đủ đáp ứng nhu cầu của chúng.
Axit amin không thiết yếu gồm: Glicine, alanine, proline, serine, aspargine, glutamine, aspartate, glutamate. Một số aa không được xếp vào nhóm không 7 thay thế hay nhóm thay thế mà chúng được xếp vào nhóm bán thay thế hay bán thiết yếu, bao gồm: Arginine, cystine, tyrosine (Hồ Trung Thông và cs, 2006 [28]). - Vai trò của protein đối với cơ thể gia cầm Đối với bất kỳ vật nuôi nào, protein trong thức ăn là cơ sở quan trọng nhất của cơ thể gia cầm, protein có hàng loạt các đặc tính không thể có ở bất kỳ một hợp chất hữu cơ nào khác. Đối với gia cầm, protein có rất nhiều chức năng và là thành phần chính của xương, dây chằng, lông, da, các cơ quan và cơ.
Do protein được sử dụng cho duy trì, sinh trưởng và sản xuất nên nó phải được thường xuyên đưa vào cơ thể. Nếu protein ăn vào thấp hơn nhu cầu thì độ sinh trưởng và điều kiện sống của các mô bào sẽ bị ảnh hưởng, dẫn đến sự phát triển chậm các cơ quan cần thiết trong cơ thể (Nguyễn Đức Hưng, 2006 [8]). Protein là thành phần quan trọng của sự sống, tham gia cấu tạo nên tế bào, nó chiếm 1/5 khối lượng cơ thể gia cầm và chiếm 1/7 đến 1/8 khối lượng trứng. Protein trong thức ăn có ảnh hưởng rất lớn tới khả năng sản xuất thịt, trứng của gia cầm, khi khẩu phần thức ăn cung cấp đầy đủ protein sẽ cho năng suất sản phẩm cao và ngược lại.
Nhu cầu protein cho gà thịt bao gồm nhu cầu cho duy trì, cho tăng trưởng và cho tổng hợp lông. Theo Singh (1988) [50], nhu cầu protein tổng thể như sau: Pr(g)= Trong đó: Pr (g): nhu cầu protein cần thiết (g/con/ngày) P: khối lượng cơ thể (g/con) P: Tăng khối lượng (g/con/ngày) 0,0016: nhu cầu protein (g) cho duy trì 1 gam 8 0,18: tỷ lệ protein trong thịt 0,04: tỷ lệ lông gà so với P gà dưới 4 tuần 0,07: tỷ lệ lông gà so với P gà từ 4 tuần tuổi 0,82: tỷ lệ protein trong lông 0,64: hiệu quả sử dụng protein của gà thịt.Vai trò của các axit amin Axit amin là thành phần cấu trúc cơ bản của protein, theo Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm (2002) [4] thì vai trò các axit amin trong cơ thể rất đa dạng, là thành phần chủ yếu của protein, axit amin là yếu tố không thể thiếu được trong thức ăn của gia cầm. Axit amin giữ vai trò quan trọng đối với cơ thể gia cầm, nhu cầu protein trong khẩu phần ăn cho gia cầm thực chất là các axit amin thay thế và không thay thế. Ngày nay với sự tiến bộ khoa học kỹ thuật đã phát hiện trong các loại sản phẩm từ mọi sinh vật, có trên 200 axit amin, riêng trong cơ thể động vật xác định được 23 - 25 axit amin và được phân chia theo 2 nhóm, nhóm axit amin không thay thế gồm 10 axit amin thiết yếu mà cơ thể gia cầm nhất thiết phải lấy từ thức ăn vào do cơ thể không tự tổng hợp được, nhóm axit amin thay thế gồm 13 - 15 axit amin mà cơ thể gia cầm và các động vật khác tự tổng hợp được từ các sản phẩm trung gian trong quá trình trao đổi axit amin như: Axit béo, các hợp chất amino.
Trong nhóm axit amin không thay thế, có 2 axit amin quan trọng nhất trong khẩu phần ăn là: Lysine: Là một trong 10 axit amin không thể thay thế quan trọng đối với vật nuôi. Nó có tác dụng làm tăng tốc độ sinh trưởng, tăng sức sản xuất thịt. Lysine còn cần thiết cho sự tổng hợp nucleotit, hồng cầu và sự trao đổi bình thường của protein. Nếu thiếu nó trong thức ăn thì hoạt động sống của gia cầm bị giảm sút.
Yêu cầu lysine trong thức ăn cho gà phụ thuộc vào giống, tuổi và tình trạng sản xuất. Việc xác định đúng nhu cầu lysine cho mỗi giai đoạn của gà rất cần thiết, bởi vì lysine là điểm nút quan trọng trong mẫu protein lý tưởng. Người ta thường dựa vào nhu cầu lysine để xác định nhu cầu các axit amin khác cho gà. 9 Lysine có tác dụng tăng khả năng sinh trưởng, tăng sức sản xuất trứng, cần thiết cho sự tổng hợp nucleoprotein, hồng cầu, tạo sắc tố melanin của da, lông.
Nếu thiếu lysine sẽ làm đình trệ sinh trưởng, giảm năng suất trứng, thịt của gia cầm giảm lượng hồng cầu, huyết sắc tố và tốc độ chuyển hóa. Trong khẩu phần thức ăn nhu cầu lysine cho gia cầm phụ thuộc vào giống, tuổi, và tính năng sản xuất, gà thịt yêu cầu 1,1 – 1,2 %, gà đẻ 0,75 – 0,85 %, vịt thịt 0,8 %. Theo Bùi Đức Lũng và cs (1995) [13] nếu lysine bổ sung quá thừa cũng gây tác hại cho gia cầm. Nếu hàm lượng lysine trong thức ăn hỗn hợp quá cao sẽ biểu hiện bệnh lý làm gia cầm bị cong ở các chi.
Methiomine Methionine có ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của cơ thể, đến chức năng của gan và tuyến tụy, cùng với cystein tạo lông vũ có tác dụng điều hòa trao đổi lipit, chống mỡ hóa gan cần thiết cho sinh sản tế bào tham gia tích cực vào đồng hóa dị hóa vật chất trong cơ thể, nếu thiếu methiomine gây mất tính thèm ăn thái hóa cơ, thiếu máu, nhiễm mỡ gan, làm giảm quá trình phân hủy độc chất thải ra trong quá trình trao đổi chất.