Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Chăn nuôi trâu là nghề truyền thống lâu đời tại Việt Nam, gắn liền với điều kiện sinh thái nhiệt đới nóng ẩm và nền nông nghiệp lúa nước. Đàn trâu đóng vai trò thiết yếu khi cung cấp sức kéo phục vụ canh tác nông thôn, cung cấp nguồn phân hữu cơ dồi dào cho trồng trọt, đồng thời cung cấp thịt và các phụ phẩm như da, sừng, lông. Theo số liệu thống kê ngày 01/10/2014 của Vụ Nông, Lâm nghiệp và Thủy sản (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), tổng đàn trâu cả nước đạt 2,52 triệu con (giảm 1,86% so với năm 2013), trong đó phân bố chủ yếu tại các tỉnh miền Bắc, Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung, chiếm tỷ trọng 93,1%. Theo định hướng phát triển giống cây trồng vật nuôi đến năm 2020 và tầm nhìn 2030, ngành chăn nuôi đặt mục tiêu cải tạo nâng cao tầm vóc đàn trâu nội thêm 8–10% và nâng tỷ lệ đẻ lên 8–10 con trên mỗi đàn cái sinh sản.
Bên cạnh công tác giống, dinh dưỡng là yếu tố quyết định năng suất và hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi trâu thịt. Tuy nhiên, các khảo sát thực tế chỉ ra rằng khẩu phần ăn của trâu bò tại Việt Nam thường mất cân đối nghiêm trọng do thiếu hoặc thừa năng lượng và protein. Nguyên nhân cốt lõi là ngành chăn nuôi trong nước còn thiếu hụt hệ thống dữ liệu thực nghiệm về tỷ lệ tiêu hóa và giá trị dinh dưỡng xác định trực tiếp trên gia súc nội địa (in vivo), buộc các nhà chuyên môn phải sử dụng số liệu tham chiếu từ nước ngoài. Sự sai lệch về điều kiện sinh thái, giống cỏ và đặc tính tiêu hóa dẫn đến việc tính toán khẩu phần không phản ánh đúng nhu cầu thực tế.
Để giải quyết tình trạng phụ thuộc dữ liệu ngoại sinh và thiết lập cơ sở dữ liệu dinh dưỡng phục vụ chăn nuôi trâu thịt lâu dài, khóa luận tập trung giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể:
- Xác định thành phần hóa học (vật chất khô, protein thô, mỡ thô, xơ thô, NDF, ADF, khoáng tổng số) của 10 loại thức ăn phổ biến nuôi trâu thuộc hai nhóm thô xanh và thô khô.
- Đánh giá động thái sinh khí lên men yếm khí theo thời gian bằng phương pháp in vitro gas production.
- Xác định tỷ lệ tiêu hóa chất hữu cơ (OMD, %) và giá trị năng lượng trao đổi (ME, MJ/kg DM) của các loại thức ăn thông qua các mô hình phương trình hồi quy.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng động vật: 02 cá thể trâu đực 18 tháng tuổi khỏe mạnh nuôi tại Trạm nghiên cứu chăn nuôi trâu, sử dụng làm nguồn cung cấp dịch dạ cỏ phục vụ thí nghiệm lên men.
- Đối tượng thức ăn: Gồm 10 loại thức ăn phổ biến, chia thành hai nhóm:
- Nhóm thức ăn thô xanh (04 loại): Cỏ voi VA06, cỏ Ghine-Hamil, cỏ Decumben, cỏ Ruzi (toàn bộ thu cắt ở giai đoạn tái sinh 40–50 ngày tuổi).
- Nhóm thức ăn thô khô (06 loại): Rơm khô, cỏ Pangola khô, cỏ Decumben khô, bột lá keo dậu, bột cỏ stylo, bột lá sắn.
- Địa điểm nghiên cứu: Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Chăn nuôi Miền núi và Phòng Phân tích thức ăn và các sản phẩm chăn nuôi (Viện Chăn nuôi).
- Thời gian thực hiện: Từ ngày 18/11/2016 đến ngày 18/5/2017.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận dựa trên nền tảng lý thuyết sinh lý học tiêu hóa của loài nhai lại với đặc trưng hệ dạ dày kép 4 ngăn: dạ cỏ (chiếm 85–92% dung tích dạ dày, 75% dung tích đường tiêu hóa), dạ tổ ong, dạ lá sách và dạ múi khế. Hệ sinh thái dạ cỏ duy trì môi trường yếm khí (oxy < 1%), pH 6,4–7,0, nhiệt độ 38–42°C, độ ẩm 85–90%, là nơi cư trú của quần thể vi sinh vật cộng sinh gồm vi khuẩn (Bacteria: $10^9 - 10^{10}$ tế bào/g), động vật nguyên sinh (Protozoa: $10^5 - 10^6$ tế bào/g) và nấm (Fungi). Quá trình lên men yếm khí phân giải carbohydrate phức tạp thành các axit béo bay hơi (axit acetic, propionic, butyric với tỷ lệ khoảng 70:20:8) cung cấp năng lượng cho vật chủ, đồng thời giải phóng các chất khí ($CO_2$, $CH_4$, $H_2$). Protein thức ăn được phân giải thành peptide, axit amin và $NH_3$ để vi sinh vật tổng hợp protein sinh khối.
Khóa luận phân tích các hệ thống đánh giá dinh dưỡng quốc tế: hệ thống Scandinavơ (SFU, AAT-PBV), hệ thống NRC của Mỹ (TDN, DE, NE, AP), hệ thống ARC của Anh (ME, GE, RDP/UDP) và hệ thống INRA của Pháp (UFL, UFV, PDI gồm PDIN và PDIE). Đối với việc xác định tỷ lệ tiêu hóa, tác giả đối chiếu phương pháp thu thập tổng số in vivo, phương pháp túi nilon (in sacco/in situ), phương pháp enzym hai giai đoạn của Tilley và Terry (1963), phương pháp quang phổ cận hồng ngoại (NIRS) và phương pháp sinh khí in vitro gas production của Menke và cộng sự (1979). Phương pháp sinh khí được lựa chọn nhờ ưu điểm đo lường đồng thời phần hòa tan và không hòa tan, tương quan cao với NDF ($R^2 = 0,99$) và độ tiêu hóa in sacco ($R^2 = 0,9$), tiết kiệm chi phí, thực hiện nhanh trên số lượng mẫu lớn và chỉ cần 2 cá thể gia súc lấy dịch dạ cỏ.
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm được triển khai theo các quy trình chuẩn:
- Phân tích thành phần hóa học:
- Lấy mẫu theo TCVN 4325-2007.
- Xác định vật chất khô (DM) bằng phương pháp sấy khô đến khối lượng không đổi theo TCVN 4326-2007.
- Xác định protein thô (CP) bằng phương pháp Kjeldahl theo TCVN 4328-2007.
- Xác định xơ thô (CF) bằng phương pháp Henneberg và Stohmann theo TCVN 4329-2007.
- Xác định xơ không tan trong môi trường trung tính (NDF) và axit (ADF) theo phương pháp Van Soest và cs. (1991).
- Xác định khoáng tổng số (Ash) bằng phương pháp nung ở 550°C trong 4,5 giờ theo TCVN 4327-2007.
- Thí nghiệm sinh khí in vitro gas production (theo Menke và Steingass, 1988):
- Mẫu thức ăn sấy khô được nghiền nhỏ qua rây đường kính 1 mm. Cân $200 \pm 5\text{ mg}$ mẫu cho vào đáy xilanh thủy tinh chuyên dụng dung tích 100 ml, bôi trơn piston bằng vaseline, ủ ấm qua đêm ở 38–39°C.
- Pha chế dung dịch đệm 1, dung dịch khoáng đa lượng, khoáng vi lượng, chỉ thị resazurin, kết hợp dung dịch khử ($Na_2S\cdot9H_2O$ và $NaOH\text{ 1N}$) để tạo dung dịch đệm 2, liên tục sục khí $CO_2$ ở 39°C để duy trì yếm khí.
- Thu dịch dạ cỏ từ 2 trâu thí nghiệm trước bữa ăn sáng, lọc qua gạc và phối trộn với dung dịch đệm 2 theo tỷ lệ thể tích 1:2 để tạo dịch ủ.
- Bơm 30 ml dịch ủ vào từng xilanh, loại bỏ bọt khí, kẹp kín đầu và ủ trong tủ ấm đối lưu ở 39°C. Thí nghiệm bố trí 30 xilanh mẫu (10 loại thức ăn $\times$ 3 lần lặp lại) cùng các xilanh mẫu trắng (blank) chứa dịch ủ không có mẫu thức ăn.
- Đọc thể tích khí tại các thời điểm 0, 3, 6, 12, 24, 48, 72 và 96 giờ. Lắc nhẹ xilanh sau 30 phút đầu và định kỳ 1 giờ/lần trong 10 giờ đầu; tiến hành xả khí khi piston đạt vạch 60 ml để tránh áp lực cản trở vi sinh vật.
- Phương trình hồi quy ước tính tỷ lệ tiêu hóa và năng lượng (theo Vũ Chí Cương và cs., 2016a, 2016b):
- Thức ăn thô xanh:
$$\text{OMD (%)} = 25,3 - 0,271 \times G_{24} + 1,10 \times \text{CP} - 1,72 \times \text{EE} + 3,02 \times \text{Ash} \quad (R^2 = 0,90)$$
$$\text{ME (MJ/kg DM)} = 3,78 - 0,0614 \times G_{24} + 0,168 \times \text{CP} + 0,789 \times \text{EE} + 0,227 \times \text{Ash} \quad (R^2 = 0,819)$$
- Thức ăn thô khô:
$$\text{OMD (%)} = 84,1 + 0,232 \times G_{24} + 0,208 \times \text{CP} - 4,25 \times \text{EE} - 0,813 \times \text{ADF} \quad (R^2 = 0,836)$$
$$\text{ME (MJ/kg DM)} = 12,1 + 0,0574 \times G_{24} - 0,589 \times \text{EE} - 0,125 \times \text{ADF} \quad (R^2 = 0,896)$$
Trong đó, $G_{24}$ là thể tích khí sinh ra tại thời điểm 24 giờ sau khi ủ (ml/200 mg DM).
- Xử lý số liệu: Toàn bộ dữ liệu được quản lý trên Microsoft Excel và phân tích thống kê trên phần mềm Minitab 17 để tính toán dung lượng mẫu ($n$), giá trị trung bình (Mean) và sai số chuẩn (SE).
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Phần mở đầu luận giải tính cấp thiết của việc cải thiện dinh dưỡng nhằm nâng cao tầm vóc đàn trâu thịt tại Việt Nam. Tác giả chỉ rõ thực trạng thiếu hụt dữ liệu tiêu hóa trong nước dẫn đến khẩu phần ăn thường bị mất cân đối, từ đó xác định mục tiêu đánh giá thành phần hóa học, tỷ lệ tiêu hóa và năng lượng trao đổi của 10 loại thức ăn bằng phương pháp in vitro gas production. Phần này đồng thời khẳng định ý nghĩa khoa học trong việc bổ sung dữ liệu sinh học cho gia súc nhai lại và ý nghĩa thực tiễn trong việc hỗ trợ các trang trại lập khẩu phần vỗ béo tối ưu.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Chương này tổng thuật toàn diện cơ sở sinh lý tiêu hóa dạ cỏ, phân loại cấu trúc 4 ngăn dạ dày và hệ vi sinh vật (vi khuẩn, protozoa, nấm). Tác giả phân tích chi tiết động thái phân giải gluxit, protein, lipit trong môi trường yếm khí, đồng thời hệ thống hóa các nhóm thức ăn gia súc theo phân loại quốc tế. Chương 2 cung cấp cái nhìn sâu sắc về các hệ thống đánh giá dinh dưỡng tiên tiến (Scandinavơ, NRC, ARC, INRA) và phân tích so sánh các kỹ thuật xác định độ tiêu hóa, khẳng định tính khả thi và độ chính xác của kỹ thuật sinh khí in vitro trong điều kiện nghiên cứu tại Việt Nam.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương phương pháp mô tả chi tiết đối tượng 2 trâu đực 18 tháng tuổi và 10 loại thức ăn thử nghiệm. Nội dung quy định chặt chẽ quy trình lấy mẫu, tiêu chuẩn phân tích hóa học TCVN và quy trình pha chế hệ đệm, chuẩn bị dịch ủ dạ cỏ, kỹ thuật vận hành 30 xilanh sinh khí trong tủ ấm 39°C. Tác giả công bố các công thức toán học và phương trình hồi quy đa biến của Vũ Chí Cương và cộng sự (2016) được áp dụng để tính toán OMD và ME từ lượng khí $G_{24}$ và các thành phần hóa học tương ứng.
Phần 4: Kết quả và thảo luận
Chương kết quả trình bày chi tiết số liệu phân tích thành phần hóa học của 4 loại thức ăn thô xanh và 6 loại thức ăn thô khô. Tác giả phân tích sâu về hàm lượng xơ (NDF, ADF), chỉ ra rằng hầu hết cỏ thô xanh nghiên cứu (trừ cỏ Ruzi) đều có NDF vượt ngưỡng 60% — ngưỡng bắt đầu làm giảm lượng thu nhận chất khô theo cảnh báo của Meissner và cs. (1991). Đặc biệt, chương này thảo luận so sánh cỏ voi VA06 với cỏ voi thường, chứng minh ưu thế về độ mềm và khả năng tiêu hóa của giống VA06.
Phần 5: Kết luận và đề nghị
Chương kết luận tóm tắt các đặc trưng dinh dưỡng nổi bật của từng nhóm thức ăn, định lượng hàm lượng protein, xơ và khoáng chất. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra các khuyến nghị cụ thể về kỹ thuật phối trộn thức ăn thô xanh có hàm lượng xơ cao với các nguyên liệu giàu đạm thô khô (bột lá sắn, bột lá keo dậu, bột cỏ stylo) nhằm hoàn thiện khẩu phần ăn cho trâu trong vụ đông.
Kết quả và đóng góp
1. Thành phần hóa học của các loại thức ăn thí nghiệm
| Loại thức ăn |
Vật chất khô (DM, %) |
Protein thô (CP, % DM) |
Mỡ thô (EE, % DM) |
Xơ thô (CF, % DM) |
NDF (% DM) |
ADF (% DM) |
Khoáng tổng số (Ash, % DM) |
| Thức ăn thô xanh |
|
|
|
|
|
|
|
| Cỏ voi VA06 |
15,52 |
6,75 |
2,34 |
27,76 |
62,38 |
30,05 |
9,25 |
| Cỏ Ghine-Hamill |
21,54 |
9,72 |
1,32 |
20,17 |
62,05 |
27,93 |
7,05 |
| Cỏ Ruzi |
25,58 |
12,14 |
1,45 |
28,75 |
58,91 |
33,93 |
8,93 |
| Cỏ Decumben |
21,63 |
10,96 |
1,52 |
30,83 |
60,75 |
31,28 |
9,17 |
| Thức ăn thô khô |
|
|
|
|
|
|
|
| Rơm khô |
91,25 |
5,15 |
1,32 |
32,56 |
45,10 |
39,29 |
13,23 |
| Cỏ Pangola khô |
86,49 |
7,08 |
1,03 |
28,70 |
80,03 |
47,51 |
3,64 |
| Cỏ Decumben khô |
91,02 |
6,25 |
1,45 |
31,80 |
78,20 |
46,81 |
8,40 |
| Bột lá keo dậu |
89,37 |
25,48 |
1,80 |
10,70 |
68,50 |
43,20 |
6,30 |
| Bột cỏ stylo |
90,07 |
16,49 |
2,30 |
28,50 |
62,60 |
40,50 |
6,89 |
| Bột lá sắn |
89,80 |
26,40 |
1,70 |
12,90 |
27,30 |
14,90 |
8,00 |
2. Phát hiện và đóng góp chuyên môn
- Phân tầng chất lượng nhóm thô xanh: Cỏ Ruzi đạt tỷ lệ vật chất khô (25,58%) và protein thô (12,14%) cao nhất, đồng thời có chỉ số NDF thấp nhất (58,91%). Cỏ voi VA06 có hàm lượng mỡ thô cao nhất (2,34%) nhưng hàm lượng protein thô thấp nhất (6,75%) và vật chất khô thấp nhất (15,52%).
- Khẳng định ưu tính giống cỏ voi VA06: So sánh với số liệu cỏ voi thường 45 ngày tuổi của Đinh Văn Mười (2012) (DM 12,61%, CP 10,66%, EE 1,50%, CF 38,28%, NDF 72,94%, ADF 43,87%), cỏ voi VA06 có tỷ lệ vật chất khô và mỡ thô cao hơn, trong khi hàm lượng xơ thô, NDF và ADF thấp hơn rõ rệt, chứng minh cỏ voi VA06 mềm hơn và có khả năng tiêu hóa cao hơn cỏ voi thường.
- Xác định nguồn bổ sung protein chất lượng cao từ nhóm thô khô: Bột lá sắn (CP 26,40%, NDF 27,30%, ADF 14,90%) và bột lá keo dậu (CP 25,48%, NDF 68,50%, ADF 43,20%) sở hữu hàm lượng protein thô vượt trội, là nguồn thức ăn bổ sung đạm xuất sắc cho gia súc nhai lại. Ngược lại, rơm khô có hàm lượng đạm thấp nhất (5,15%) và khoáng tổng số cao nhất (13,23%).
- Đóng góp thực tiễn và giải pháp kỹ thuật: Khóa luận khuyến nghị do đa số cỏ thô xanh nhiệt đới có NDF > 60% làm hạn chế lượng ăn vào, người chăn nuôi cần chủ động phối hợp các loại cỏ với thức ăn tinh và phụ phẩm giàu đạm thô khô, đặc biệt là tận dụng bột lá sắn, bột lá keo dậu và cỏ stylo để cân đối dinh dưỡng trong mùa đông khan hiếm thức ăn xanh.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Phương pháp sinh khí in vitro gas production không cho phép đánh giá toàn diện tác động của các biện pháp cơ học hoặc xử lý nhiệt trong chế biến đến giá trị dinh dưỡng thực tế. Nghiên cứu thực hiện trên quy mô phòng thí nghiệm với số lượng gia súc lấy dịch dạ cỏ giới hạn (02 trâu đực) và tập trung vào 10 loại nguyên liệu thô đơn lẻ mà chưa đánh giá trực tiếp tương tác phức hợp trong các tổ hợp khẩu phần hoàn chỉnh.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục mở rộng đánh giá giá trị sinh khí in vitro trên các nhóm thức ăn ủ chua, thức ăn tinh và phụ phẩm nông nghiệp công nghiệp khác; ứng dụng kỹ thuật sinh khí để kiểm soát và đo lường lượng phát thải khí nhà kính ($CO_2$, $CH_4$) từ dạ cỏ trâu, hướng đến chăn nuôi bền vững; tiến hành các thử nghiệm nuôi dưỡng in vivo trên đàn trâu thịt để kiểm chứng sự tương thích giữa mô hình dự báo và tăng trọng thực tế.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng hưởng lợi:
- Giảng viên, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Chăn nuôi, Thú y, Dinh dưỡng động vật và Nông nghiệp.
- Các kỹ sư chăn nuôi, nhà nghiên cứu tại các viện, trung tâm nghiên cứu gia súc lớn.
- Chủ trang trại, doanh nghiệp sản xuất thức ăn gia súc và người chăn nuôi trâu thịt, trâu vỗ béo.
- Nội dung đáng tham khảo:
- Quy trình chuẩn bị hóa chất, pha chế hệ đệm khử và vận hành hệ thống xilanh đo sinh khí in vitro theo Menke và Steingass (1988).
- Hệ thống phương trình hồi quy đa biến ứng dụng thể tích khí 24 giờ ($G_{24}$) và thành phần hóa học để dự đoán OMD và ME.
- Bộ chỉ số thành phần hóa học chi tiết của các giống cỏ nhiệt đới (VA06, Ruzi, Decumben, Ghine-Hamil) và phụ phẩm thô khô làm cơ sở lập công thức khẩu phần.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao nghiên cứu lại lựa chọn phương pháp in vitro gas production thay vì phương pháp in vivo truyền thống?
Phương pháp tiêu hóa trực tiếp trên cơ thể (in vivo) đòi hỏi chi phí rất cao, quy trình phức tạp kéo dài từ 17–25 ngày (gồm giai đoạn thích nghi và thu gom phân/nước tiểu), cần lượng thức ăn lớn và chỉ thực hiện được trên số lượng mẫu hạn chế. Trong khi đó, phương pháp in vitro gas production có chi phí thấp, tốc độ phân tích nhanh, đánh giá được số lượng mẫu lớn cùng lúc, phản ánh chính xác cả phần hòa tan lẫn không hòa tan và chỉ cần 2 cá thể trâu mổ lỗ dò lấy dịch dạ cỏ.
2. Trong số 4 loại thức ăn thô xanh, loại cỏ nào có giá trị vật chất khô và protein thô cao nhất?
Cỏ Ruzi đạt chỉ số cao nhất ở cả hai tiêu chí với tỷ lệ vật chất khô là 25,58% và hàm lượng protein thô là 12,14% (tính theo chất khô), đồng thời có hàm lượng chất xơ NDF thấp nhất (58,91%), tạo điều kiện thuận lợi nhất cho quá trình tiêu hóa và thu nhận thức ăn của trâu.
3. Thành phần hóa học của cỏ voi VA06 có điểm gì khác biệt so với giống cỏ voi thông thường?
Cỏ voi VA06 cắt ở giai đoạn tái sinh 45 ngày tuổi có hàm lượng vật chất khô (15,52%) và mỡ thô (2,34%) cao hơn cỏ voi thường (12,61% DM và 1,50% EE). Đồng thời, hàm lượng xơ thô (27,76%), NDF (62,38%) và ADF (30,05%) của VA06 thấp hơn đáng kể so với cỏ voi thường (CF 38,28%, NDF 72,94%, ADF 43,87%), cho thấy cỏ voi VA06 mềm hơn, ít bị hóa gỗ và dễ tiêu hóa hơn.
4. Hai nguồn thức ăn thô khô nào có tiềm năng bổ sung đạm cao nhất trong nghiên cứu?
Bột lá sắn và bột lá keo dậu là hai nguồn cung cấp đạm thô khô vượt trội nhất với hàm lượng protein thô lần lượt đạt 26,40% và 25,48% tính theo chất khô. Đặc biệt, bột lá sắn có cấu trúc xơ rất thấp (NDF 27,30%, ADF 14,90%), là nguồn nguyên liệu bổ sung protein lý tưởng cho khẩu phần trâu trong vụ đông.
5. Khóa luận sử dụng các phương trình hồi quy nào để tính tỷ lệ tiêu hóa chất hữu cơ (OMD) và năng lượng trao đổi (ME)?
Tác giả áp dụng các phương trình hồi quy do Vũ Chí Cương và cộng sự (2016) thiết lập:
- Thức ăn thô xanh: $\text{OMD (%)} = 25,3 - 0,271 G_{24} + 1,10\text{CP} - 1,72\text{EE} + 3,02\text{Ash}$ ($R^2 = 0,90$); $\text{ME (MJ/kg DM)} = 3,78 - 0,0614 G_{24} + 0,168\text{CP} + 0,789\text{EE} + 0,227\text{Ash}$ ($R^2 = 0,819$).
- Thức ăn thô khô: $\text{OMD (%)} = 84,1 + 0,232 G_{24} + 0,208\text{CP} - 4,25\text{EE} - 0,813\text{ADF}$ ($R^2 = 0,836$); $\text{ME (MJ/kg DM)} = 12,1 + 0,0574 G_{24} - 0,589\text{EE} - 0,125\text{ADF}$ ($R^2 = 0,896$).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Lan đã xác định thành công bộ chỉ tiêu thành phần hóa học và động thái dinh dưỡng của 10 loại thức ăn thô xanh và thô khô phổ biến nuôi trâu tại miền Bắc Việt Nam bằng kỹ thuật sinh khí in vitro gas production. Kết quả nghiên cứu làm nổi bật giá trị dinh dưỡng vượt trội của cỏ Ruzi và cỏ voi VA06 trong nhóm thức ăn thô xanh, đồng thời chứng minh tiềm năng bổ sung đạm to lớn từ bột lá sắn, bột lá keo dậu và cỏ stylo trong nhóm thức ăn thô khô. Công trình cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm đáng tin cậy, góp phần hoàn thiện bảng giá trị dinh dưỡng thức ăn gia súc trong nước và hỗ trợ thiết thực cho việc xây dựng khẩu phần cân đối trong chăn nuôi trâu thịt và vỗ béo.