Luận văn thạc sĩ ảnh hưởng của chế phẩm ade selplex đến khả năng sinh sản của lợn nái ngoại và sinh trưởng của lợn con theo mẹ tại trang trại lợn phùng xuân hà tỉnh yên bái

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm Ade Selplex đến khả năng sinh sản lợn nái và sinh trưởng lợn con tại trang trại Phùng Xuân Hà, Yên Bái.

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Chăn nuôi

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

101
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Ảnh hưởng của chế phẩm Ade Selplex đến sinh sản lợn nái

Nghiên cứu tập trung vào việc đánh giá ảnh hưởng của chế phẩm Ade Selplex đến khả năng sinh sản của lợn nái tại trang trại Phùng Xuân Hà, Yên Bái. Chế phẩm này, với thành phần chính là vitamin A, D, E và selen, đã được chứng minh có tác dụng tích cực trong việc tăng cường sức khỏe sinh sản của lợn nái. Kết quả cho thấy, lợn nái được bổ sung Ade Selplex có tỷ lệ thụ thai cao hơn, số con đẻ ra nhiều hơn và khả năng tiết sữa cũng được cải thiện đáng kể. Điều này góp phần nâng cao năng suất sinh sản và hiệu quả kinh tế cho trang trại.

1.1. Tác động đến khả năng thụ thai và đẻ con

Chế phẩm Ade Selplex giúp cải thiện khả năng thụ thai của lợn nái thông qua việc tăng cường sức khỏe tổng thể và hỗ trợ quá trình phát triển phôi. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, lợn nái được bổ sung chế phẩm này có tỷ lệ thụ thai tăng 15% so với nhóm đối chứng. Ngoài ra, số con đẻ ra cũng tăng trung bình 1-2 con/lứa, điều này chứng tỏ Ade Selplex có tác động tích cực đến năng suất sinh sản của lợn nái.

1.2. Cải thiện khả năng tiết sữa

Một trong những yếu tố quan trọng trong chăn nuôi lợn nái là khả năng tiết sữa của lợn mẹ. Nghiên cứu cho thấy, lợn nái được bổ sung Ade Selplex có sản lượng sữa cao hơn 20% so với nhóm không sử dụng chế phẩm. Điều này không chỉ giúp lợn con phát triển tốt hơn mà còn giảm tỷ lệ hao hụt trong giai đoạn sơ sinh. Chế phẩm dinh dưỡng này đã chứng minh được hiệu quả trong việc hỗ trợ sức khỏe lợn náichăm sóc lợn con.

II. Ảnh hưởng của chế phẩm Ade Selplex đến sinh trưởng lợn con

Nghiên cứu cũng đánh giá ảnh hưởng của chế phẩm Ade Selplex đến sinh trưởng của lợn con tại trang trại Phùng Xuân Hà, Yên Bái. Kết quả cho thấy, lợn con được nuôi dưỡng từ lợn nái sử dụng Ade Selplex có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn, khối lượng cơ thể cao hơn và tỷ lệ sống sót cũng được cải thiện đáng kể. Điều này khẳng định vai trò quan trọng của chế phẩm dinh dưỡng trong việc hỗ trợ tăng trưởng lợn con và nâng cao hiệu quả kinh tế cho trang trại.

2.1. Tăng trưởng và phát triển thể chất

Lợn con được nuôi dưỡng từ lợn nái sử dụng Ade Selplex có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn 25% so với nhóm đối chứng. Khối lượng cơ thể của lợn con ở giai đoạn cai sữa cũng cao hơn đáng kể, điều này chứng tỏ chế phẩm dinh dưỡng đã hỗ trợ hiệu quả quá trình phát triển lợn con. Ngoài ra, lợn con cũng ít mắc các bệnh thông thường như tiêu chảy và viêm phổi, nhờ vào sức đề kháng được cải thiện.

2.2. Cải thiện tỷ lệ sống sót

Tỷ lệ sống sót của lợn con được nuôi dưỡng từ lợn nái sử dụng Ade Selplex tăng 10% so với nhóm đối chứng. Điều này cho thấy, chế phẩm dinh dưỡng không chỉ hỗ trợ tăng trưởng lợn con mà còn giúp giảm thiểu tỷ lệ hao hụt trong giai đoạn sơ sinh. Kết quả này có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả kinh tế trang trạiquản lý trang trại một cách bền vững.

III. Hiệu quả kinh tế và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, việc sử dụng chế phẩm Ade Selplex trong chăn nuôi lợn náilợn con mang lại hiệu quả kinh tế đáng kể cho trang trại Phùng Xuân Hà, Yên Bái. Chi phí đầu tư cho chế phẩm được bù đắp bởi sự gia tăng năng suất sinh sảntăng trưởng lợn con, đồng thời giảm thiểu chi phí điều trị bệnh. Điều này khẳng định giá trị thực tiễn của Ade Selplex trong việc nâng cao hiệu quả quản lý trang trạiphát triển lợn nái.

3.1. Giảm chi phí điều trị bệnh

Việc sử dụng Ade Selplex giúp giảm đáng kể tỷ lệ mắc bệnh ở lợn nái và lợn con, từ đó giảm chi phí điều trị bệnh. Kết quả nghiên cứu cho thấy, chi phí thuốc thú y giảm 30% so với nhóm không sử dụng chế phẩm. Điều này không chỉ tiết kiệm chi phí mà còn góp phần nâng cao sức khỏe lợnhiệu quả kinh tế trang trại.

3.2. Tăng lợi nhuận từ chăn nuôi

Nhờ vào sự gia tăng năng suất sinh sảntăng trưởng lợn con, lợi nhuận từ chăn nuôi tại trang trại Phùng Xuân Hà, Yên Bái đã tăng 20% so với trước khi áp dụng Ade Selplex. Điều này chứng tỏ, chế phẩm dinh dưỡng này không chỉ mang lại lợi ích về mặt sức khỏe mà còn có giá trị kinh tế cao, góp phần phát triển bền vững ngành chăn nuôi lợn.

13/02/2025
Luận văn thạc sĩ ảnh hưởng của chế phẩm ade selplex đến khả năng sinh sản của lợn nái ngoại và sinh trưởng của lợn con theo mẹ tại trang trại lợn phùng xuân hà tỉnh yên bái

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học 1. Đặc điểm về khả năng sinh sản của lợn nái Quá trình hoạt động sinh sản của gia súc là do hệ thống thần kinh thể dịch của cơ thé điều tiết, chịu ảnh hưởng của các yếu tố đi truyền và ngoại cảnh (thời tiết, khí hậu, thức ăn, dinh dưỡng. Trong chăn nuôi, người ta đánh giá lợn là loài gia súc có khả năng sinh sản cao, thành thục sớm, đẻ dễ và ít gặp khó khăn trong khi đẻ.

Lợn nái nội 3 - 4 tháng tuổi đã động dục. Lợn là loài gia súc đa thai, trong điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng hợp lý có thé dé 1,8 - 2,4 lứa/năm và đạt 10 - 12 con/lứa. Lợn nái có số vú nhiều, khả năng tiết sữa cao, các giống nội thường có từ 10 vú trở lên, lợn Móng Cái thường có 12 - 16 vú. Thời gian chửa, đẻ của lợn từ 113 - 114 ngày (Nguyễn Thiện và cs, 1998 [23]).

* Một số đặc điểm sinh lý của lợn nai chia cân lưu ý: Theo Lê Hồng Mận (2002) [19], lợn nái chửa sau khi phối giống thụ thai, nhau thai phát triển nhờ vào sự cung cấp dinh dưỡng, hô hấp qua hệ thống tuần hoàn máu của lợn mẹ, đồng thời sừng tử cung cũng lớn lên theo nhịp độ phát triển của nhau thai và bào thai. Lợn mẹ có bào thai lớn thì lợn con sơ sinh cũng lớn. Khối lượng lợn con chiếm 7 - 7,5/10 bào thai. Lê Hồng Mận và Xuân Giao (2001) [20] đã khẳng định, lợn nái thiếu dinh dưỡng sẽ đẻ ra con còi cọc, yếu, chống đỡ với các yếu tố bất lợi của môi trường kém.

và cs (2015) [72], có thể đánh giá được chất lượng, khả năng tồn tại và sự phát triển tiếp theo của phôi lợn trong cơ thê lợn nái bằng cách xác định mức tiêu thụ oxy của phôi lợn. Phôi được phẫu thuật vào ngày thứ 5 hoặc ngày thứ 6 sau khi thụ tĩnh nhân tạo và mức tiêu thụ oxy của phôi được xác định bằng dụng cụ chuyên môn: ở ngày thứ 5, mức tiêu thụ oxy của phôi là 0,56 + 0,03 mol; ngày thứ 6, phôi có tỷ lệ tiêu thụ oxy là 0,58 + 0,13 mol. Kết quả nghiên cứu mới này sẽ góp phần vào việc đánh giá khả năng thụ thai của lợn nái sau khi phối giống. Nguyễn Quang Linh (2005) [15] cho biết, ở lợn nái 80 ngày chửa đầu tiên của thai kỳ, thai còn bé, nhu cầu dinh dưỡng tăng lên không đáng kể, 34 ngày cuối của thai kỳ, thai phát triển rất nhanh đòi hỏi dinh dưỡng cung cấp cho lợn mẹ phải cao.

Khả năng sản xuất của lợn nái Theo Nguyễn Thiện và cs (1998) [23], việc đánh giá khả năng sản xuất của lợn nái được thông qua các chỉ tiêu: 1. Khả năng sinh sản Khả năng sinh sản được đánh giá thông qua các chỉ tiêu sau: * Số con sơ sinh sống đến 24h/lứa đẻ Trong vòng 24 giờ sau khi đẻ, những lợn con được sinh ra nếu không đạt khối lượng sơ sinh trung bình của giống, không phát dục hoàn toàn, đầu to mông bé. thì sẽ bị chết, những lợn con chưa nhanh nhẹn dễ bị mẹ đè chết. * Tÿ lệ sống Tỷ lệ sống được tính theo công thức: Số con sơ sinh sống đến 24 giờ x 100 Tỷ lệ sông (%) = Số con đẻ ra còn sống Trong một é lon ndi thường đẻ ra 3 loại: - Loại đẻ ra còn sống: số con sơ sinh sống đến 24 giờ = Số con đẻ ra sống - Số con chết trong 24 giờ.

- Loại thai non: là loại thai phát triển không hoàn toàn, đẻ ra nhưng còn non tháng. Loại thai non đã chết trong thời gian có chửa và trước khi sinh ra. Do vậy, số thai non cao trong một lứa đẻ sẽ làm cho số lợn con sơ sinh trong lứa thấp. - Loại thai gỗ: là loại thai đã chết trong tử cung lúc 35 - 90 ngày tuổi.

Thai chết ở giai đoạn này không gây sảy thai mà các bào thai chết thường khô cứng lại. Số lợn con chết lúc sơ sinh, số thai non, số thai gỗ sẽ là nguyên nhân làm giảm số lượng lợn con sơ sinh sống đến 24 giờ cho một lứa đẻ. + Số lon con cai sita/liva Là số lợn con được nuôi sống cho đến khi cai sữa. Thời gian cai sữa dài hay ngắn phụ thuộc vào trình độ chế biến thức ăn cho lợn con.

Số lợn con cai sữa/lứa là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật rất quan trọng quyết định năng suất của nghề chăn nuôi lợn. Nó phụ thuộc vào khả năng tiết sữa của lợn mẹ, kỹ thuật chăn nuôi lợn con theo mẹ cũng như khả năng hạn chế các yếu tố bệnh tật cho lợn con. Sô con sông đên cai sữa Tỷ lệ nuôi sống (%) = x 100 Số lợn con để lại nuôi + Số lợn con cai sita/ndi/fnam Chỉ tiêu này đánh giá tổng quát nhất đối với nghề nuôi lợn nái. Nghề nuôi lợn nái có thể thu lãi hay không là nhờ số lượng lợn con cai sữa/nái/năm.

Nếu tăng số lứa đẻ/nái/năm và tăng số lượng lợn con cai sữa trong mỗi lứa thì số lượng lợn con cai sữa/nái/năm sẽ cao. Chất lượng đàn con Theo Nguyễn Thiện và cs (1998) [23], việc đánh giá chất lượng đàn con dựa vào các chỉ tiêu sau: * Khối lượng sơ sinh toàn ổ Là khối lượng được cân sau khi lợn con được đẻ ra, cắt rén, lau khô và chưa cho bú sữa lần đầu. Khối lượng sơ sinh toan 6 là chỉ tiêu đánh giá khả năng nuôi dưỡng thai của lợn mẹ, kỹ thuật chăn nuôi, chăm sóc, quản lý và phòng bệnh cho lợn nái chửa. * Khối lượng 21 ngày toàn ổ Khối lượng toàn ổ lúc 21 ngày tuổi là chỉ tiêu đánh giá tăng trọng của lợn con và là chỉ tiêu đánh giá khả năng tiết sữa của lợn mẹ.

Theo Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ (2003) [5], khối lượng toàn ô lúc 21 ngày tuôi là chỉ tiêu đánh giá khả năng cho sữa của lợn mẹ. Vì sản lượng sữa của lợn mẹ cao nhất lúc 21 ngày tuổi sau khi đẻ. Khối lượng toàn ô cao thì sản lượng sữa của lợn mẹ cao. Khối lượng lợn con lúc 21 ngày tuổi tăng gấp 5 - 8 lần lúc sơ sinh.

Nó phụ thuộc vào khả năng tiết sữa và chọn làm giống của lợn nái (Hội chăn nuôi Việt Nam, 2004 [10]). * Khối lượng toàn ỗ lúc cai sữa Tùy theo khối lượng lợn con khi cai sữa, thời gian bắt đầu cai sữa: 21, 28, 35 ngày, mà người ta chế biến loại thức ăn cho phù hợp. Khối lượng cai sữa có liên quan chặt chẽ đến khối lượng sơ sinh, làm nền tảng và là điểm xuất phát cho khối lượng xuất chuồng. * Tỷ lệ đồng đều của đàn lợn con Trong một lứa lợn, sự đồng đều giữa các cá thể trong đàn nói lên khả năng nuôi con của lợn mẹ, kỹ thuật chăm sóc và phòng bệnh cho lợn con.

Tỷ lệ đồng đều được tính bằng tỷ lệ phần trăm giữa cá thể có khối lượng thấp nhất trong đàn so với cá thể có khối lượng cao nhất trong đàn. Sự chênh lệch khối lượng giữa hai cá thé nay càng ít, thì tỷ lệ đồng đều càng cao. Khoảng cách lứa đẻ Là thời gian để hoàn thành một chu ky sinh san. Bao gồm: Thời gian chửa + thời gian nuôi con + thời gian chờ động dục lại sau cai sữa và phối giống có chửa.

Trong 3 yếu tố trên, thì thời gian mang thai là không thê thay đổi, còn thời gian nuôi con và thời gian chờ phối giống, có thể rút ngắn khoảng cách giữa hai lứa đẻ. Khả năng tiết sữa Khả năng tiết sữa của lợn mẹ là chỉ tiêu đánh giá khả năng nuôi con của lợn mẹ, đặc điểm của giống. Giống khác nhau thì khả năng tiết sữa cũng khác nhau. Ngày nay, người ta dùng phương pháp lấy khối lượng toàn ổ lúc 21 ngày tuôi hoặc 45 ngày tuổi tùy theo thời gian cai sữa, làm chỉ tiêu đo khả năng tiết sữa của lợn mẹ.

Để lợi dụng khả năng tiết sữa của lợn mẹ, người ta thường cho cai sữa sớm vào ngày thứ 21 hoặc ngày 28, hoặc ngày thứ 42.tùy theo trình độ chăn nuôi của từng cơ sở (Nguyễn Thiện và cs, 1996 [24]). Trần Văn Thịnh (1982) [27] cho rằng, thức ăn đầu tiên của lợn con là sữa đầu. Sữa đầu có màu trong, hơi vàng và đặc, được tiết ra trong 2 - 3 ngày đầu sau khi đẻ. Trong sữa đầu, các thành phần hóa học đều đặc hơn sữa thường: lượng protein gấp 3 lần sữa thường (17 - 18% so với 5 - 6%).

Trên 50% protein của sữa đầu là globulin, đặc biệt là y - globulin. Hàm lượng y - globulin giảm rất nhanh, sau 12 giờ đã giảm đi 3/4, y - globulin 1a thanh phan quan trọng tạo nên sức đề kháng chống đỡ bệnh tật của lợn con sơ sinh. Theo Trần Văn Cừ và Nguyễn Khắc Khôi (1985) [3]. lượng sữa của lợn mẹ liên quan chặt chẽ đến sự phát triển của tuyến vú, thời kỳ có chửa cũng như sau khi đẻ một thời gian.

Trong thời kỳ có chửa, sự phát triển của tuyến vú chịu tác động của một số hormone của các tuyến nội tiết, tuyến sinh dục, tuyến yên, tuyến thượng thận. Sau khi đẻ, nó phụ thuộc vào số lượng con. Qua nhiều thí nghiệm nghiên cứu cho thấy, lượng sữa mẹ thay đổi tùy theo mức độ dinh dưỡng, giống lợn, số lợn con. Trong thời kỳ tiết sữa của lợn mẹ (60 ngày), lượng sữa có sự thay đổi qua các tuần tuổi.

Lượng sữa cao nhất ở tuần thứ 2 và thứ 3 sau khi đẻ. Lợn nái có thê tiết khoảng 300 kg sữa (60 ngày) trong thời kỳ tiết sữa, lợn con có thể bú được khoảng 30kg sữa, bình quân mỗi ngày lợn con bú được 550 gam và mỗi lần bú là 20 - 25 gam. Sữa lợn mẹ có chất lượng cao, chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho nhu cầu của lợn con, và đây là loại thức ăn lý tưởng của lợn con. Đề đánh giá khả năng tiết sữa của lợn mẹ, người ta dùng công thức sau: Sản lượng sữa (kg) = Tổng khối lượng tăng của đàn lợn con rồi nhân với 3.

Như vậy, đề lợn con tăng lên Ikg cần 3kg sữa. Người ta thường tính sản lượng sữa của lợn nái 7 ngày nuôi con bằng cách cân khối lượng toàn ổ lợn con 7 ngày tuôi rồi trừ đi khối lượng lợn con sơ sinh toàn ô rồi nhân với 3. Ngoài ra, sản lượng sữa của lợn nái khi lợn con 21 ngày tuổi còn bị ảnh hưởng một phần của thức ăn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Ảnh hưởng của chế phẩm Ade Selplex đến sinh sản lợn nái và sinh trưởng lợn con tại trang trại Phùng Xuân Hà, Yên Bái" nghiên cứu tác động của chế phẩm dinh dưỡng này đến hiệu quả sinh sản của lợn nái và sự phát triển của lợn con. Kết quả cho thấy việc sử dụng Ade Selplex không chỉ cải thiện tỷ lệ sinh sản mà còn nâng cao sức khỏe và tốc độ tăng trưởng của lợn con, từ đó góp phần tăng năng suất chăn nuôi tại trang trại. Tài liệu này mang lại cái nhìn sâu sắc cho các nhà chăn nuôi và nghiên cứu về cách tối ưu hóa quy trình sản xuất trong ngành chăn nuôi lợn.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các nghiên cứu liên quan đến dinh dưỡng và sinh trưởng trong nông nghiệp, hãy tham khảo các tài liệu như Luận án tiến sĩ công nghệ thực phẩm nghiên cứu ảnh hưởng của điều kiện nảy mầm đến thành phần dinh dưỡng và kháng dinh dưỡng của hạt đậu xanh, nơi bạn có thể khám phá ảnh hưởng của điều kiện môi trường đến dinh dưỡng cây trồng. Bên cạnh đó, Luận văn thạc sĩ công nghệ sinh học khảo sát ảnh hưởng của oligochitosan lên khả năng chịu hạn của cây mạ lúa cũng sẽ cung cấp thông tin hữu ích về cách cải thiện khả năng sinh trưởng của cây trồng trong điều kiện khắc nghiệt. Cuối cùng, bạn có thể tham khảo Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng và năng suất của giống lúa khẩu pái để hiểu rõ hơn về mối liên hệ giữa mật độ trồng và năng suất cây trồng. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và áp dụng vào thực tiễn chăn nuôi và trồng trọt.