Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu, nêu lên được tính cấp thiết của đề tài dựa trên các thực trạng mà các công ty đang gặp phải trong thời kỳ đại dịch Covid-19 đang hoành hành. Chương 2: Cơ sở lý thuyết đã triển khai và đạt được các kết quả. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu áp dụng các phương pháp để khảo sát và thu thập số liệu nhằm để phân tích. Chương 4: Kết quả nghiên cứu đạt được nhằm đưa ra các nhận xét và đánh giá dựa trên kết quả thu được.
Chương 5: Một số kiến nghị và giải pháp được đưa ra qua kết quả ở chương 4. 2 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Đại dịch Covid 2.1 Khái niệm Đại dịch Covid-19 là một đại dịch bệnh truyền nhiễm với tác nhân là vi rút SARS-COV- 2 và các biến thể của nó đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu thế giới. Nó bắt đầu vào cuối tháng 12 của năm 2019 với vị trí xuất hiện đầu tiên là thành phố Vũ Hán nằm ở miền trung của Trung Quốc, lúc này phát hiện từ một nhóm người bị mắc bệnh viêm phổi mà không tìm ra nguyên nhân.
Sau đó, tổ chức y tế tại địa phương đã xác định rằng nhóm người này đã có tiếp xúc với những người buôn bán tại chợ hải sản Hoa Nam. Các nhà khoa học ở Trung Quốc đã bắt đầu tiến hành nghiên cứu và phân lập ra chủng coronavirus được Tổ chức Y tế Thế giới gọi tạm là 2019-nCOV (Ủy ban Quốc tế về Phân loại Virus (ICTV) đặt tên ngày 11 tháng 2 năm 2020), nó có trình tự gen giống với SARS- CoV đến 79,5%. Ca tử vong đầu tiên cũng được ghi nhận tại Vũ Hán vào ngày 9 tháng 1 năm 2020. Sau đó chính phủ Trung Quốc đã phong tỏa cả Vũ Hán vào ngày 23 tháng 1 năm 2020 làm cho toàn bộ giao thông và các hoạt động xuất nhập khẩu đều bị tạm ngưng.
Ngày 11 tháng 3 năm 2020, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ra tuyên bố “COVID - 19” là “Đại dịch toàn cầu” và nó đã lây đến 118.000 ca nhiễm ở 110 quốc gia. Vi rút lây truyền qua tiếp xúc trực tiếp với các giọt đường hô hấp phát sinh từ ho và hắt hơi của người bị bệnh. Các cá nhân cũng có thể bị nhiễm từ và chạm vào các bề mặt bị nhiễm vi rút và sau đó chạm vào mặt của họ (ví dụ: mắt, mũi, miệng). Vi rút COVID - 19 có thể tồn tại trên bề mặt trong vài giờ, nhưng các chất khử trùng đơn giản có thể tiêu diệt nó (UNICEF, 2020).
Bệnh hô hấp do vi rút này gây ra có triệu chứng sốt, ho, mệt mỏi, mất vị giác hoặc khứu giác sau 1-14 ngày sau khi phơi nhiễm trung bình 3-7 ngày (Worldware, 2020). Ngoài ra còn có những triệu chứng ít gặp hơn như: đau họng, đau đầu, đau nhức, tiêu chảy,… hoặc các triệu chứng nghiệm trọng như: khó thở, đau ngực, mất khả năng nói, cử động và lú lẫn. Tính đến ngày 25 tháng 2 năm 2022 đã có 430.564 trường hợp được xác nhận nhiễm Covid - 19 trên toàn cầu, trong đó 5.047 trường hợp tử vong (Tổ chức Y tế Thế giới, 2022) 3 2.2 Sự ảnh hưởng của đại dịch Covid - 19 Đại dịch Covid - 19 diễn ra vào cuối năm 2019 đến nay đã gây ra những tác động rất nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ và đảm bảo chất chất lượng tại các doanh nghiệp đồng thời đẩy nền kinh tế thế giới rơi vào tình trạng khủng hoảng. Theo Bensirri Public Relations (2020) kể từ khi Kuwait thiết lập các biện pháp khóa cửa để giảm sự lây lan của virus Covid-19 vào tháng 3 năm 2020, 45% chủ doanh nghiệp Kuwait cho biết họ đã tạm ngừng hoặc đóng cửa hoạt động kinh doanh của mình 26% khác đang trên bờ vực sụp đổ sau khi chứng kiến doanh thu của họ giảm hơn 80%.
Covid - 19 gây ra tổn thất và gián đoạn trong phát triển kinh tế - xã hội và phúc lợi (Barysheva và cộng sự, 2020). Theo (Susilawati và cộng sự, 2020) khi nghiên cứu sự tác động của Covid-19 đối với nền kinh tế Indonesia cho thấy các ngành bị ảnh hưởng trong đại dịch Covid-19 là giao thông vận tải, du lịch, thương mại, y tế và các lĩnh vực khác, những lĩnh vực kinh tế bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi Covid-19 là lĩnh vực hộ gia đình. Theo Mahendra Dev và Sengupta (2020) đánh giá nền kinh tế Ấn Độ dưới tác động của Covid - 19 cho thấy việc phong tỏa kéo dài đã làm suy thoái nền kinh tế và gián đoạn các chuỗi cung ứng. Đối với ngành du lịch Đại dịch Covid-19 nói chung đã phá hủy ngành trong toàn cầu và đe dọa sự phục hồi của các điểm đến ở các nước đang phát triển đang đối mặt với nhiều thách thức hơn từ các đợt đại dịch ngày càng nghiêm trọng (Huỳnh Văn Đa và cộng sự, 2021).
Song song đó, các lĩnh vực khách sạn khác nhau cũng bị ảnh hưởng nặng nề do đại dịch. Các khách sạn lớn có khả năng chống chịu tốt hơn với các tác động của Covid-19 (Thanh Nguyen, 2020). Điều này có nghĩa là các doanh nghiệp nhỏ sẽ gặp khó khăn, đứng trước nguy cơ ngừng hoạt động hoặc thậm chí dẫn đến phá sản. Lĩnh vực hàng không cũng bị thiệt hại nặng nề bởi đại dịch, các chuyến bay liên tục ngừng hoạt động và bị hạn chế dẫn đến cá hãng hàng không bị phá sản (Dube và cộng sự, 2021).
Với những hạn chế nghiêm ngặt và quản lý chặt chẽ của nhà nước việc tiêu thụ và sản xuất bị ảnh hưởng tiêu cực đồng thời những hạn chế về tài chính có thể khiến hoạt động sản xuất này còn khó khăn hơn trong đại dịch (Shen và cộng sự, 2020). Việc sản xuất và tiêu thụ bị hạn chế sẽ dẫn đến thị trường bị ế ẩm từ đó làm cho hoạt động kinh doanh bị giảm sút. Tác động đến các công ty và sự phá hủy các năng lực sản xuất hiện có do đại dịch có thể có tác động lớn đến triển vọng tăng trưởng của các nền kinh tế phát triển và đang 4 phát triển không chỉ trong thời gian ngắn mà diễn ra dài hạn trong tương lai (Apedo- Amah và Marie Christine, 2020). Quản lý chất lượng toàn diện (TQM) 2.1 Khái niệm Quản trị chất lượng toàn diện – TQM (Total Quality Management) có rất nhiều khái niệm được đưa ra khác nhau.
Một số chuyên gia chất lượng có công trình thảo luận thành công được biết đến như: Deming, Juran, Feigenbaum, Crosby và Ishikawa. Và tất cả họ đã đều đồng ý rằng có sáu yếu tố sau có tầm quan trọng nhất định: sự hài lòng của khách hàng, lãnh đạo và sự cam kết của nhà quản lý cấp cao, giảm chi phí, làm việc theo nhóm, đào tạo và giáo dục và văn hóa của tổ chức - theo bài tổng hợp của Reed, Lemark và Mero (2000). TQM là nỗ lực tổng hợp nhằm đạt được và duy trì chất lượng cao dựa trên việc cải tiến liên tục quy trình và ngăn ngừa lỗi ở mọi cấp độ. Mục đích của TQM là đáp ứng được nhu cầu và mong đợi của khách hàng, thậm chí là vượt qua cả mong đợi (Gimenez – Espin và cộng sự, 2013).
Nghiên cứu của (Dahlgaard và cộng sự, 2002) thì cho rằng TQM là cấp độ cao nhất trong hệ thống phân cấp định nghĩa về chất lượng. Cấp thứ nhất là đáp ứng mong đợi của khách hàng, thứ hai là đạt được chất lượng tổng thể với chi phí thấp, thứ ba là việc quản trị chất lượng tổng thể phải có được sự tham gia của tất cả mọi người. Prajogo và Sohal (2003) đã thực hiện nghiên cứu mối quan hệ giữa quản lí chất lượng toàn diện (TQM) và hiệu suất hoạt động bằng cách thực hiện khám phá sáu khía cạnh TQM được đề xuất bởi Samson và Terziovski (1999). Và những thực hành này đã chia thành hai nhóm yếu tố (phần cứng và phần mềm).
Những yếu tố phần cứng hướng vào quản lý quy trình, chiến lược, khách hàng và lập kế hoạch, thông tin và phân tích. Còn những yếu tố phần mềm và lãnh đạo và quản lý con người. Và có ý kiến cho rằng TQM nên có sự kết hợp của con người (yếu tố mềm) và hệ thống kỹ thuật (yếu tố cứng) (Kruger, 1998, 2001). Theo Kruger (1998) cũng đã nhấn mạnh rằng khía cạnh con người (yếu tố mềm) của TQM là định hướng nhân văn của TQM sẽ giúp cho TQM thành công trong thực tế khi phân tích tổ chức.
Ngoài ra một số nghiên cứu đã cung cấp bằng chứng cho rằng một vài yếu tố cứng có tác động đáng kể đến hiệu suất và chỉ ra rằng để có sự tác động đó thì các yếu tố cứng cần sự hỗ trợ từ yếu tố mềm.2 Lợi ích của việc thực hiện TQM trong doanh nghiệp sản xuất Để giành chiến thắng trong cạnh tranh, các công ty cần tập trung vào chất lượng hoặc áp dụng TQM (Soriano, 1999). TQM đã trở thành một nhu cầu đối với các công ty để có thể sản xuất các sản phẩm và dịch vụ chất lượng cao và có thể tồn tại trong sự cạnh tranh kinh doanh chặt chẽ. Sức mua ngày càng tăng, được hỗ trợ bởi những người tiêu dùng trưởng thành hơn, những người vừa có văn hóa, vừa có kiến thức, có nhu cầu về sản phẩm chất lượng dẫn đến tăng nhu cầu về sản phẩm và dịch vụ có chất lượng (Sihotang & Zebedeus, 2013). Theo Anh Chi Phan và cộng sự (2019) việc áp dụng TQM sẽ giảm thiểu và loại bỏ các sai sót trong quá trình sản xuất sản phẩm và dịch vụ.
Điều này rất quan trọng đối với các công ty khi tham gia vào cuộc cạnh tranh toàn cầu, đặc biệt là đối với các công ty xuất khẩu có phân khúc thị trường quốc tế, vì họ sẽ cạnh tranh với các công ty xuất khẩu từ các nước khác (Quyen Le Hoang Thuy To Nguyen và cộng sự, 2020). Hệ thống TQM giúp các tập đoàn có thể kết hợp tất cả các hệ thống chất lượng của họ thành một chiến lược thống nhất, duy nhất, có thể dẫn đến những lợi ích đáp ứng cả lợi nhuận và tuân thủ quy định. Để đạt được hiệu quả cao nhất, toàn bộ tổ chức phải hoàn toàn chấp nhận các hướng dẫn cơ bản về chất lượng và cách chúng áp dụng cho mỗi cá nhân (Lalit, 2020). Nhiều công ty đã đi đến kết luận rằng việc triển khai TQM hiệu quả có thể cải thiện khả năng cạnh tranh của họ và mang lại lợi thế chiến lược trên thị trường (Lewis, Pun, và Lalla 2005, Yusuf, Gunasekaran, và Dan 2007).