CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẶC ĐIỂM, NĂNG LỰC KINH DOANH CỦA DOANH NHÂN ĐẾN KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Cơ sở lý thuyết về doanh nhân 1.1 Khái niệm về doanh nhân Ahmad (2007) [16] cho rằng vẫn còn nhiều khác biệt trong các khái niệm về doanh nhân và không có một khái niệm nào được xem là hoàn hảo để phản ánh đầy đủ chân dung của một doanh nhân bởi sự đa dạng và phức tạp trong chức năng và nhiệm vụ mà một doanh nhân phải thực hiện trên con đường khởi nghiệp. Một số tác giả thì cho rằng sự đa dạng trong các định nghĩa là để mô tả một cách đầy đủ những phẩm chất mà một doanh nhân cần có trong tiến trình kinh doanh [22]. Khái niệm doanh nhân được phản ánh ở bảng 1.1 dựa trên các quan điểm và cách tiếp cận khác nhau của nhiều tác giả. Tổng hợp các khái niệm về doanh nhân Khái niệm doanh nhân Nguồn Doanh nhân là người mua các yếu tố đầu vào ở một mức giá cụ thể rồi thông Cantillon (1755) qua quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm và bán ra thị trường với những [42] mức giá khác nhau dựa trên cơ sở chi phí sản xuất Doanh nhân là người đổi mới, năng động, biết tạo dựng sự nghiệp kinh Schumpeter (1934) doanh và tận dụng cơ hội làm bệ đỡ cho những ý tưởng mới mẻ [126] Doanh nhân là một cá nhân với tính cách năng động và là con người của Hoselitz (1951) [72] hành động Doanh nhân là người sáng tạo nên cái mới, sự khác biệt, họ thay đổi giá trị… Drucker (1985) [54] và nhận thấy rằng sự thay đổi là một điều hiển nhiên Doanh nhân là người chấp nhận rủi ro liên quan đến sự không chắc chắn, Hébert & Link người cung cấp tài chính, người cải tiến, người ra quyết định, nhà lãnh đạo, (1989) [66] nhà quản trị, người tổ chức và kết hợp nguồn lực kinh tế, là chủ của doanh nghiệp, là người tập hợp các yếu tố phục vụ sản xuất, nhà thầu, nhà đầu cơ, người điều phối nguồn lực Doanh nhân là người sáng tạo, người đổi mới, người tạo ra sự thay đổi và O' Connor & Fiol cũng là người có năng lực nhận diện các cơ hội và tổ chức nguồn lực để đạt (2002) [109] được mục tiêu Doanh nhân là người có thói quen sáng tạo và cải tiến để tạo dựng điều gì đó Bolton & Thompson trên cơ sở của việc nhận thức những cơ hội có giá trị xung quanh (2004) [34] 9 Doanh nhân là người tham gia vào tiến trình khởi sự kinh doanh trong bối Zimmerer & cảnh phải luôn đương đầu với rủi ro và sự không chắc chắn nhằm đạt được Scarborough (2005) lợi nhuận và sự tăng trưởng thông qua việc xác định được những cơ hội quan [157] trọng và huy động những nguồn lực cần thiết.
Doanh nhân là người chủ của doanh nghiệp và làm công việc quản trị trong Hoàng Văn Hoa doanh nghiệp. Họ là những người có năng khiếu đặc biệt về kinh doanh, có (2010) [4] kỹ năng đặc biệt về kinh doanh, có kinh nghiệm phong phú để ứng dụng trong kinh doanh. (Nguồn: Tổng hợp bởi tác giả) Rõ ràng, mỗi nhóm tác giả có những cách định nghĩa khác nhau về doanh nhân nhưng điểm chung lớn nhất giữa các khái niệm này đều cho rằng doanh nhân là người kết hợp các yếu tố sản xuất và tổ chức quá trình sản xuất, kinh doanh để tạo ra giá trị mới cao hơn, không phân biệt hình thức sở hữu, loại hình và quy mô kinh doanh. Họ cũng là những người dám chấp nhận rủi ro và là người đổi mới sáng tạo.
Từ những phân tích trên, trong phạm vi luận án này để phù hợp với đặc trưng của doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nhân được hiểu là người chủ, tham gia quản lý và điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục tiêu lợi nhuận; phải luôn đương đầu với rủi ro và sự không chắc chắn trong tiến trình kinh doanh để đạt được sự tăng trưởng; đồng thời họ cũng phải là người gắn liền với quá trình sáng tạo và đổi mới để thành công trên cơ sở của việc nhận thức những cơ hội kinh doanh có giá trị.2 Đặc điểm doanh nhân 1.1 Khái niệm đặc điểm doanh nhân Theo từ điển Oxford cho người học nâng cao [147], đặc điểm cá nhân là những nét đặc trưng hoặc là phẩm chất của một người nào đó. Từ sự kết hợp của định nghĩa về đặc điểm cá nhân trong từ điển Oxford cho người học nâng cao [147] và những quan niệm về doanh nhân thì đặc điểm doanh nhân được xem như là những nét đặc trưng hoặc là phẩm chất thuộc về doanh nhân.2 Phân loại đặc điểm doanh nhân Phương pháp tiếp cận đặc điểm cá nhân được đánh giá là phổ biến trong các nghiên cứu về doanh nhân và khởi nghiệp kinh doanh. Phương pháp này cho rằng một số đặc điểm cá nhân sẽ giúp tạo ra sự khác biệt giữa doanh nhân và các đối tượng khác. Trong phương pháp phân tích đặc điểm cá nhân, phương pháp tiếp cận xã hội học và phương pháp tâm lý học được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu về chủ đề này.
Theo các phương pháp này có các nhóm đặc điểm cơ bản sau: 10 a. Đặc điểm nhân chủng học Nhóm đặc điểm này bao gồm: tuổi tác, nền tảng gia đình, giới tính, kinh nghiệm công việc, trình độ học vấn. Những đặc trưng này sẽ ảnh hưởng đến ý định và hành vi kinh doanh của doanh nhân cũng như kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Tuổi tác Tuổi tác được sử dụng như một trong những biến số quan trọng trong nghiên cứu khoa học xã hội đương đại để phân loại và giải thích sự khác biệt trong hành vi và ý định kinh doanh giữa các cá nhân.
Tuổi tác tăng lên kéo theo là sự tích lũy của kỹ năng, kiến thức và một số phẩm chất cá nhân khác. Khi người ta già đi thì ý định khởi nghiệp có xu hướng giảm dần [139]. Ở các nước phát triển, độ tuổi khởi nghiệp phổ biến từ 25-34, trong khi đó ở các nước đang phát triển thì độ tuổi từ 35-44 lại phổ biến [35]. Ở Việt nam, theo báo cáo chỉ số khởi nghiệp Việt Nam (2015) của VCCI (2016) [15], nhóm người khởi nghiệp ở độ tuổi 25-34 là phổ biến nhất ở Việt Nam (chiếm 18%), xếp thứ hai là nhóm người ở tuổi 35-44 (chiếm 16%) và tiếp đến là nhóm tuổi 18-24, 45-54 và 55-65 chiếm tỷ lệ lần lượt là 13%, 8%, 8% trong tổng số 2000 người tham gia khảo sát.
Đây cũng là một thực trạng chung về độ tuổi khởi nghiệp kinh doanh trên thế giới, riêng đối với nhóm người ở độ tuổi 45-54 xếp thứ 3 nhưng nhóm tuổi này lại có tỷ lệ thấp nhất trong bối cảnh khởi nghiệp Việt Nam. Ngoài ra, tổ chức này cho thấy rằng so với nhóm doanh nhân từ trung niên trở lên 35-64 thì nhóm doanh nhân trẻ tuổi từ 18-34 nhạy bén hơn với các cơ hội kinh doanh, có ý định khởi nghiệp cao hơn, dám mạo hiểm hơn trong kinh doanh, tuy nhiên lại non kém hơn về năng lực kinh doanh. Nền tảng gia đình Gia đình có truyền thống kinh doanh được xem là bệ đỡ đầu tiên, là nguồn động viên khích lệ cho các doanh nhân khởi sự doanh nghiệp, và vai trò này càng đặc biệt quan trọng trong bối cảnh kinh doanh của các doanh nghiệp có quy mô nhỏ. Trong các nghiên cứu của Davidsson (1995) [52] và Blackman (2003) [33] thì những doanh nhân thành đạt phần lớn đều xuất thân từ những gia đình có bố mẹ hoặc người thân làm kinh doanh và và khả năng sống sót cũng như cơ hội thành công trên thương trường của nhóm doanh nhân này cũng sẽ cao hơn so với nhóm còn lại.
Theo nghiên cứu của Pant (2015) [110], có ít nhất 3 lý do chứng minh cho tầm quan trọng của nền tảng gia đình đối với các quyết định kinh doanh của doanh nhân và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Đầu tiên, khi tham gia vào các hoạt động khởi nghiệp, gia đình tạo thành một 11 nhóm doanh nhân rất đặc thù. Vì có cùng huyết thống, sự gắn bó mật thiết, và chia sẻ cùng một nền tảng giá trị và văn hóa nên mức độ cam kết gắn bó và niềm tin giữa các thành viên trong doanh nghiệp sẽ cao hơn bất kỳ nhóm doanh nhân nào khác. Thứ hai, gia đình cung cấp cho doanh nhân các nguồn lực cần thiết cho tiến trình kinh doanh và để tạo đà và lợi thế tăng trưởng.
Nguồn lực này có thể là nguồn nhân sự giá rẻ, trung thành, tin cậy từ các thành viên trong gia đình; nguồn hỗ trợ tài chính; mạng lưới các mối quan hệ với đối tác, khách hàng sẵn có của gia đình… Ngoài ra, kinh nghiệm thương trường để lại từ thế hệ cha anh cũng là nguồn tài sản vô giá cho các doanh nhân. Thứ ba, truyền thống kinh doanh của gia đình có thể được xem là một trong những yếu tố tiếp lửa và truyền cảm hứng khởi nghiệp cho các thành viên. Người ta tin rằng nếu một cá nhân trưởng thành trong một gia đình đề cao tinh thần và văn hóa đổi mới và nét văn hóa này được chuyển đổi thành công thành một đế chế kinh doanh vĩ đại hoặc một khối tài sản khổng lồ thì hậu duệ của gia đình có xu hướng tiếp bước và phát huy. Truyền thống gia đình sẽ là nguồn cảm hứng cho nhiều người trong số họ tạo ra một doanh nghiệp khởi nghiệp riêng, nơi họ không chỉ kế thừa truyền thống kinh doanh vẻ vang mà còn có cơ hội để chứng minh khí phách của doanh nhân.
Giới tính Giới tính có thể tạo nên sự khác biệt về năng lực, hành vi và ý định kinh doanh của doanh nhân [55]. Các nghiên cứu cho thấy tinh thần khởi nghiệp của nam cao hơn nữ doanh nhân [150] [52]. Ngoài ra, kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp do nữ làm chủ không tốt bằng nam doanh nhân bởi vì phụ nữ thường khởi nghiệp ở độ tuổi sớm hơn, thiếu kinh nghiệm thương trường, chiếm tỷ lệ lớn trong lĩnh lực bán lẻ và dịch vụ, hạn chế về cơ hội tiếp cận các yếu tố nguồn lực kinh doanh do rào cản của sự bất bình đẳng giới [43].