CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Tính cấp thiết của đề tài Hiệu quả là vấn đề cơ bản trong sản xuất kinh doanh cùa một nền kinh tế xã hội. Các chủ thể kinh tế tham gia tiến hành sản xuất kinh doanh phải đặt mục tiêu hiệu quả lên hàng đầu đồng thời cùng với việc nâng cao năng suất và chất lượng. Một doanh nghiệp (DN) sản xuất kinh doanh có hiệu quả là DN thỏa mãn tối đa nhu cầu về hàng hóa - dịch vụ của xã hội trong giới hạn của các nguồn lực hiện có và thu được nhiều lợi nhuận nhất, đem lại hiệu quả kinh tế xã hội cao nhất.
Vì vậy, có thể nói mục đích chính của các nhà sản xuất kinh doanh là thu được nhiều lợi nhuận nhất, đem lại hiệu quả kinh tế xã hội cao nhất. Lợi nhuận vừa là mục tiêu trước mắt, lâu dài và thường xuyên của hoạt động sản xuất kinh doanh của DN. Có rất nhiều yếu tố tác động đến hiệu quả tài chính của DN. Các yếu tố đó có thể xuất phát từ môi trường bên ngoài DN như: tình hình kinh tế - chính trị - xã hội, pháp luật, chính sách quy định của Nhà nước, lạm phát, thiên tai.
Hoặc các yếu tố xuất phát từ bản thân của chính DN như: khả năng huy động vốn và sử dụng vốn, năng lực tài chính, công nghệ, trình độ người lao động, cách thức quản lý, quản trị. Và còn tùy theo từng ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh mà các DN hoạt động trong những ngành, lĩnh vực khác nhau sẽ chịu ành hưởng bởi các yếu tổ tác động khác nhau. Đất nước ta đang trong thời kỳ đổi mới và bước vào thời kỳ Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Do vậy sẽ tạo ra nhiều thay đổi to lớn về môi trường hoạt động kinh doanh cùa các DN trong nước nói chung và các DN trong ngành dược phẩm nói riêng.
Sự thay đổi lớn về môi trường kinh doanh vừa tạo ra những cơ hội vừa tạo ra các thách thức cho các DN ngành dược phẩm. Thách thức lớn nhất đó chính là sự cạnh tranh vô cùng 2 gay gắt cùa nền kinh tế thị trường, các đối thủ mạnh hơn cả về vốn, về công nghệ, sử dụng nguồn vốn hợp lý hơn, cách thức quản lý cũng hiệu quả hơn. Trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt như vậy, làm thế nào đề duy trì hiệu quả tài chính, hiệu quả hoạt động kinh doanh, tạo ra lợi nhuận, tăng khả năng cạnh tranh cho DN là những câu hỏi đặt ra cho các nhà quản lý. Có rất nhiều nghiên cứu đã chứng minh sự tác động của cấu trúc vốn ảnh hưởng tới hiệu quả tài chính của DN.
Tuy nhiên, mỗi lĩnh vực lại có những nét đặc thù riêng trong hoạt động kinh doanh cũng như quản trị nguồn vốn, nên mức tác động cũng rất khác nhau. Xuất phát từ sự quan trọng cũng như tính cấp bách của vấn đề hiệu quả hoạt động kinh doanh và tác động của cơ cấu vốn đến hiệu quả hoạt động kinh doanh nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các DN trong ngành dược phẩm, tác giá đã lựa chọn đề tài “Ảnh hưởng của cơ cấu vốn đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp ngành dược phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” để nghiên cứu. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu là tập trung nghiên cứu về cơ cấu vốn và cơ cấu vốn có ảnh hưởng như thế nào tới hiệu quả tài chính của DN cho mẫu nghiên cứu là các công ty trong ngành dược phẩm niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam. Mục tiêu của nghiên cứu cụ thể cho mục tiêu tổng quát trên là: - Thứ nhất, hệ thống hóa lý luận về cơ cấu vốn, hiệu quả tài chính và mối quan hệ giữa cơ cấu vốn và hiệu quả tài chính của DN.
- Thứ hai, xác định mức độ ảnh hưởng của cơ cấu vốn đến hiệu quả tài chính của các DN niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. 3 - Thứ ba, đưa ra các giải pháp, khuyến nghị về chính sách ảnh hưởng nhằm tăng hiệu quả tài chính của các DN dược phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Câu hỏi nghiên cứu Để đáp ứng cho mục tiêu nghiên cứu đã đưa ra, nghiên cứu được thực hiện nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau: Câu hỏi 1: Nội dung cơ bản nào về cơ cấu vốn, hiệu quả tài chính và cơ cấu vốn có tác động tới hiệu quả tài chính của DN hay không? Câu hỏi 2: Mức độ ảnh hưởng của cơ cấu vốn tới hiệu quả tài chính của DN dược phẩm niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam như thế nào? Câu hỏi 3: Những khuyến nghị, giải pháp nào cần được đưa ra để nâng cao hiệu quả tài chính của DN dược phẩm niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam như thế nào? 1. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là ảnh hưởng của cơ cấu vốn đến hiệu quả tài chính của DN.
Các nhân tố để đánh giá sự ảnh hưởng này là hệ số tự tài trợ, hệ số đòn bẩy tài chính, hệ số tài sản dài hạn, và tỷ số nợ trên tài sản. Các chỉ số này được tính toán dựa trên thông tin trên báo cáo tài chính của các DN. Phạm vi nghiên cứu: Không gian: Đề tài nghiên cứu các công ty trong ngành dược phẩm niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam. Thời gian: Các công ty được nghiên cứu trong khoảng thời gian từ năm 2013 đến năm 2017.
Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu Đề tài hệ thống cơ sở lý thuyết về hiệu quả tài chính của DN, các lý 4 thuyết về cơ cấu vốn, các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của cơ cấu vốn ành hường đến hiệu quả tài chính của DN và ứng dụng các kết quả này đề xây dựng mô hình lý thuyết về tác động của cơ cấu vốn đến hiệu quả tài chính cho các DN dược phẩm niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam. Đề tài giúp cho các nhà quản trị ở các các DN nhìn nhận đầy đủ hơn về tình hình kinh doanh và tác động của việc sử dụng cơ cấu vốn đến hiệu quà tài chính của DN. Trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp thiết thực giúp cho DN nâng cao hiệu quả tài chính của DN mình. Kết quả nghiên cứu của luận văn là tài liệu tham khảo cho các đối tượng khác khi nghiên cứu về các vấn đề có liên quan.
Kết cấu của đề tài nghiên cứu Đề tài này được bao gồm 5 chương: Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu Trong Chương 1, tác giả trình bày lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu, cũng như xác định mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu. Những mục tiêu nghiên cứu được cụ thể hóa bằng các câu hỏi nghiên cứu. Chương 2: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý thuyết Trong Chương 2, tác giả trình bày cơ sở lý luận về cơ cấu vốn, hiệu quả tài chính và tổng quan các công trình nghiên cứu quốc tế và trong nước có liên quan. Trên cơ sở đó, tác giả nhận xét và chỉ ra khoảng trống của các nghiên cứu trước đây.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Dựa trên các mục tiêu , đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu cảu chương 1 và các cơ sở lý thuyết, công trình nghiên cứu liên quan trong chương 2, tác giả trình bày cách chọn mẫu nghiên cứu, nguồn dữ liệu, cách xử 5 lý dữ liệu, giả thuyết nghiên cứu mô hình nghiên cứu và các biến độc lập, các biến phụ thuộc trong mô hình. Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu Trong chương này, tác giả trình bày sơ lược về thống kê mô tả số liệu, phân tích tương quan cho các biến nghiên cứu trong mô hình dự báo. Tiếp đó, trình bày cụ thể kết quả hồi quy đã được đề cập ở chương 3. Chương 5: Thảo luận kết quả nghiên cứu, các khuyến nghị và kết luận Tác giả trình bày và thảo luận các kết quả thu được từ nghiên cứu đã thực hiện.
Câu trả lời cho các giả tuyết nghiên cứu được trình bày ở chương 5. Đồng thời, cuối chương 5 tác giả đưa ra đề xuất, khuyến nghị cho các nhà quản trị DN đồng thời đưa ra định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo. 6 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 2. Cơ sở lý luận về cơ cấu vốn 2.
Khái niệm về cơ cấu vốn Cơ cấu vốn là tỷ lệ phần trăm giữa tổng số nợ so với tổng tài sản của DN ở một thời điểm xác định. Cơ cấu vốn liên quan đến việc sử dụng các khoản nợ vay. Mặt trái của vay nợ là vay càng nhiều nợ thì sẽ xuất hiện chi phí kiệt quệ tài chính và một lúc nào đó chi phí kiệt quệ tài chính sẽ làm triệt tiêu lá chắn thuế từ nợ vay. Chi phí vay nợ có tác động đáng kể tới vận hành kinh doanh, thậm chí dẫn tới đóng cửa DN.
Tài trợ từ vốn góp cồ phần không tạo ra chi phí sử dụng vốn cho DN, tuy nhiên các cổ đông có thể can thiệp vào hoạt động điều hành DN. Kỳ vọng cao vào hiệu quả sản xuất kinh doanh cùa các nhà đầu tư cũng tạo sức ép đáng kể cho đội ngũ quản lý. Một cơ cấu vốn được coi là tối ưu khi chi phí sử dụng vốn trung bình thấp nhất, đồng thời khi đó giá trị DN đạt được là lớn nhất. Khái niệm về cơ cấu vốn của DN có nhiều quan điểm khác nhau.
Westerfield và Bradford D. Jordan (2003), cơ cấu vốn của một DN là sự kết hợp giữa việc sử dụng vốn nợ và vốn chủ sở hữu theo một tỷ lệ nhất định để tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của DN. Theo Colin Firer và cộng sự (2004), cơ cấu vốn đề cập đến sự pha trộn của nợ và vốn chủ sở hữu mà một DN sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của DN. Macguigan và cộng sự (2006) lại định nghĩa “cơ cấu vốn là sự kết hợp giữa nợ ngắn hạn thường xuyên, nợ dài hạn, vốn cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần thường được sử dụng để tài trợ cho hoạt động của DN”.
7 Theo Lưu Thị Hương và Vũ Duy Hào (2013) “Cơ cấu vốn của DN là mối tương quan tỷ lệ giữa nợ dài hạn và vốn chủ sở hữu”.