Chương 1 TỎNG QUAN 1. Giới thiệu về cây thanh long 1. Phần loại thực vật Cây Thanh Long (Dragon fruit) có tên khoa học là Hylocereus costaricensis thuộc họ Xương Rồng, có nguồn gốc từ khu vực Trung và Bắc Mỹ, đã được người Pháp đem vào trồng ở Việt Nam trên 100 năm nay, nhưng mới trở thành hàng hóa từ thập niên 1980 (Vũ Công Hậu, 1996). Theo Rojas-Sandoval & Praciak (2020) cây thanh long ruột đỏ thuộc: Giới (regnum): Plantae Bộ (ordo): Caryophyllales Ho (familia): Cactaceae Chi (genus): Hylocereus Loài (species): H.
Nguồn gốc và phân bố Hình 1. Quả thanh long ruột đỏ Hầu hết các loài thuộc chi Hylocereus có nguồn gốc từ châu Mỹ La-tinh (nhiều khả năng từ Mexico và Colombia), một số loài khác có thé đến từ vùng Tây An (West Indies). Ngày nay, các loài này phân bố khắp nơi trên thế giới, trong đó, Hylocereus undatus là loài được trồng phố biến hơn. Quả thanh long có hình dang, màu sắc đẹp cùng hương vị thơm ngon, thanh long dan trở thành cây trồng mới cho những vùng đất khô hạn và sản lượng ngày càng tăng nhanh.
Ngoài ra, loài cây này trở thành cây trồng thương mại hóa ở nhiều khu vực như Bahamas, Bermuda, Indonesia, Colombia, Israel, Philippines, Myanmar, Malaysia, Mexico, Nicaragua, phía bắc Australia, Okinawa (Nhật Bản), Sri Lanka, phía Nam Trung Quốc, phía Nam bang Florida (Mỹ), Đài Loan, Thái Lan, Việt Nam và vùng Tây An (Mercado-Silva, 2018). Diện tích va sản lượng thanh long tại Việt Nam Việt Nam là nước đứng dau thé giới về điện tích, sản lượng và xuất khẩu thanh long. Thanh long Việt Nam chiếm thị phần cao nhất ở châu Á (Đặc biệt là Trung Quốc), châu Âu và một số thời điểm tại My; Giá tri xuất khẩu thanh long Việt Nam liên tục tăng từ 57,15 triệu USD năm 2010 lên 483,41 triệu USD năm 2015; năm 2018 là 1,1 tỷ USD, chiếm 28,9 % tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu rau quả cả nước. Việt Nam có 60/63 tỉnh, thành có trồng thanh long.
Diện tích và sản lượng thanh long cả nước trong những năm gần đây tăng lên rất nhanh: năm 1995, có 2,25 nghìn ha, sản lượng 22,83 nghìn tan; đến năm 2018, điện tích 53,89 nghìn ha, trong đó diện tích thu hoạch 45,32 nghìn ha, sản lượng 1.061,1 nghìn tấn, tăng 24 lần về diện tích và tăng 46,5 lần về sản lượng. Thanh long được trồng tập trung chủ yếu tại 3 tỉnh Bình Thuận (29,27 nghìn ha, diện tích cho thu hoạch 27,27 nghìn ha, năng suất 21,7 tắn/ha, sản lượng 591,9 nghìn tấn); Long An (11,27 nghìn ha, diện tích cho thu hoạch 8,22 nghìn ha, năng suất 32 tan/ha, sản lượng 263,286 nghìn tan); Tiền Giang (7,91 nghìn ha, diện tích cho thu hoạch 5,43 nghìn ha, năng suất 29,7 tan/ha, sản lượng 161,52 nghìn tan) (Cục trồng trọt, 2019). Tình hình sử dụng phân bón cho thanh long trong và ngoài nước Ở Philippines, phân bón được khuyến cáo cho cây thanh long là phân hữu cơ kết hợp với hỗn hợp NPK 14 - 14 - 14 với liều lượng 2 kg phân hữu cơ + 25 g urea + 75 g NPK 14 - 14 - 14 có thé áp dụng cho cây thanh long với chu kỳ bón 6 tháng/lần (Estellena, 201 1). Theo kết quả nghiên cứu trên đất giàu sét va kali, lân trung bình và nghèo chất hữu cơ ở Thái Lan, năng suất và phẩm chất của quả thanh long cao nhất khi bón urea (MuchJaJib, 2010).
Cây thanh long yêu cầu một lượng phân bón thích hợp để cho năng suất cao và pham chat tốt. Các khuyến cáo về mức phân bón thay đôi tùy thuộc vào các điều kiện khác nhau của từng quốc gia, từng vùng canh tác. Liều lượng phân NPK 13 - 13 - 13 được khuyến cáo ở Đài Loan là 100 g/cây/lần. Ở Hawai, hỗn hợp phân NPK 16 - 16 - 16 được bón với liều lượng từ 180 - 230 g/cây/lần với chu kỳ bón từ 4 - 6 tháng/lần (Gunasena và ctv, 2007).
Kết quả nghiên cứu của tại Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Makandura (SriLanka) đề nghị hỗn hợp NPK tỷ lệ 1 : 1 : 2 với liều lượng 30 - 40 g/cây chia lam 3 lần bón trong một năm. Trong khi tại vùng Bulathsinhala sử dụng phân chuông với các liều lượng khác nhau, cộng với phân hỗn hợp 15N - 5P - 15K - 8S - 1,6Mg + TE nhập khâu từ Thái Lan và bón với liều lượng 100 g/cây/năm. Ở Israel phân bón với lượng nhỏ hòa tan và bón qua hệ thống tưới (Raveh và ctv, 1997); khuyến cáo liều lượng phân bón là 35 ppm tưới phân bón 23N — 7P20s - K2O bón qua hệ thống tưới (Mizrahi và Nerd, 1999). Theo Bộ Nông nghiệp Malaysia, giai đoạn đầu đến 6 tháng dùng NPK 15 - 15 - 15 là 100 g/trụ/lần, 2 tháng/lần; từ tháng thứ 7 trở đi NPK 15 - 15 - 15 là 200 g/trụ, 2 tháng/lần; giai đoạn mang quả NPK 13 - 13 - 21 bón 300 g/trụ và NPK 15 - 15 - 15 bón 300 g/trụ/lần luân phiên mỗi tháng/lần.
Ở Việt Nam giống thanh long ruột trắng được trồng phô biến hơn thanh long ruột đỏ. Mỗi giống thanh long có đặc tính sinh trưởng và năng suất cũng khác nhau nên nhu cầu phân bón cũng khác nhau. Tuy nhiên, nhu cầu các chất dinh dưỡng có tỷ lệ tương đối giống nhau giữa các giống trong từng thời kỳ sinh trưởng. Năng suất và chất lượng quả thanh long phụ thuộc vao kỹ thuật bón phân.
Lượng phân khoáng bón cho thanh long biến động rất lớn, N: 64 - 1.100 g N/tru/nam; lân: 100 - 750 g P2Os/tru/nam; kali: 100 - 750 g K2O/tru/nam. Nhìn chung phân bón cho cây thanh long chủ yếu là phân hữu co và NPK nhưng ty lệ va số lượng bao nhiêu để cho năng suất và hiệu quả cao; phun chất kích thích sinh trưởng thực vật và phân bón lá có kết quả nhưng không 6n định (Mai Văn Quyền, 1995). Theo kết quả điều tra (Mai Văn Quyền, 1995) thanh long trồng ở huyện Châu Thanh, tinh Long An, nông dân thường bón từ 200 - 400 g PzOs/trụ/năm; ở tỉnh Tiền Giang bón 340 - 580 g PzOs/trụ/năm (Nguyễn Trịnh Nhất Hang, 1997). Khuyến cáo nên bón 2 - 3 kg lân/trụ/năm (320 - 480 g PzOs/trụ/năm) (Hoàng Khắc Tường, 1990).
Theo Vũ Công Hậu (1996), phân bón cho thanh long chủ yếu là phân chuồng 10 - 20 kg và phân NPK (16 - 16 - 8) bón 400 - 500 g/trụ/năm. Tăng lượng phân chuồng: số quả, khối lượng qua, tỷ lệ qua > 400 g và năng suất tăng lên rõ rệt. Phân chuồng còn có tác dụng tăng số cảnh 1,7 - 2,9 lần và làm cho cành phát triển nhanh hơn so với không bón phân chuông. Đối với cây thanh long nhỏ hơn 3 năm tuổi, lượng phân chuồng bón lót được khuyến cáo là 10 - 15 kg kết hợp với 100 g super lân/trụ/năm.
Trong hai năm đầu tiên, mỗi năm bồ sung thêm 300 g uré và 200 g phân hỗn hợp NPK 16 - 16 - 8, chia làm 3 lần bón tại các thời điểm 1 tháng, 6 tháng và 12 tháng sau khi trồng (Nguyễn Văn Kế, 1997). Theo kết quả nghiên cứu về lượng phân bón và thời kỳ bón phân cho thanh long ruột trắng tại Bình Thuận của Dương Hoa Xô (2006) được khuyến cáo như sau: Bảng 1. Liều lượng phân bón cho thanh long (kg/trụ/năm) Giai đoạn N PzOs KaO Phân chuồng Kiến thiết cơ bản 0,13-1,58 0,03 - 0,86 0,02 - 0,36 10 - 50 Kinh doanh 017-086 0,12-0,75 0,17 - 0,75 15 - 50 Theo Nguyễn Văn Kế (1997), bón phân cho thanh long nên chia làm 3 lần chính trong năm, vào các giai đoạn sau: Lần 1: tháng 10 - 11, sau khi tia cành dé bón thúc đợt cành đầu tiên. Lần 2: cách lần 1 khoảng 40 ngày, đề thúc đợt cành thứ 2.
Lần 3: vào tháng 3, thúc đợt cành cuối cùng và làm đợt cành đầu tiên phân hóa mầm hoa. Theo Dương Hoa Xô (2006), có nhiều quy trình bón phân cho thanh long, tùy liều lượng bón tùy theo vùng canh tác thanh long có khác nhau nhưng về cơ bản đều thống nhất chia ra hai thời kỳ là kiết thiết cơ bản và thời kỳ kinh doanh. Thời điểm bón phân cho thanh long giai đoạn kinh doanh (g/trụ/lần) Vườn 3 - 5 năm tuổi Vườn > 5 năm tuổi Tháng N P20s KaO N P20s KaO 9~ 10 90 580 0 120 580 0 12 90 0 90 115 0 150 2 90 0 90 115 0 150 4 50 0 90 115 0 90 3 50 0 60 115 0 90 (Lần thứó6-8) Bon với liều lượng như lần 5, mỗi tháng/lần (Sở Nông nghiệp và PTNT Bình Thuận, 2008) Theo Nguyễn Trinh Nhất Hang (2001) bón phân NPK với liều lượng 250 g N + 250 g PzOs + 250 g KaO + 14 kg phân hữu cơ vi sinh/trụ/năm hoặc NPK với hàm lượng 375 gN + 375 g PzOs + 375 g KaO + 7 kg phân hữu co vi sinh/trụ/lần đều làm tăng năng suất so với đối chứng NPK với hàm lượng 350 g N + 200 g PzOs + 150 g K:O + 14 kg phân hữu cơ vi sinh/trụ/năm bón theo nông dân. Kết quả nghiên cứu trên cây thanh long bón phân với liều lượng 540 g N + 720 g PzOs + 300 g KaO + 20 kg phân hữu cơ/trụ/năm đã làm tăng năng suất và phẩm chất quả thanh long so với nghiệm thức đối chứng 350 g N + 200 g PzOs + 300 g K2O/try/nam (Tran Minh Trí và ctv, 2000).
Kết quả thi nghiệm phân bón trên cây thanh long 4 năm tuổi trong thời gian 3 năm từ năm 1995 đến năm 1997 ở Bình Thuận cho thấy 730 g N + 680 g P20s + 680 g K2O/tru/nam mang lai nang suat cao nhat (Nguyén Nhu Hién, 2000). Trong điều kiện thâm canh cây thanh long (xử lý ra hoa quả vụ 2 đợt/năm), công thức bón phân NPK với liều lượng cao (750 g N + 750 g PzOs + 750 g K2O/tru/nam) kết hợp với 2 - 4 kg phân hữu cơ (humix gà) tăng năng suất từ 54,11 - 55,51 kg/trụ/năm, cải thiện độ chắc của thịt quả, tăng hàm lượng đường tổng số, đường khử và vitamin C (Nguyễn Hữu Hoang và Nguyễn Minh Châu, 2011). Võ Thái Dân và Thái Nguyễn Diễm Hương (2016) cho rằng lượng phân bón cho thanh long tai Bình Thuận ở vụ thuận là 5 kg phân bò hoai mục + 150 g N + 100 g PaOs + 200 g K20 + 150 g CaO + 5 g MgO/tru/vu, trong khi đó lượng bón ở vụ nghịch là 5 kg phân bò hoai mục + 250 g N + 200 g P20s + 300 g KaO + 150 g CaO + 5 g MgO/tru/vu cho hiệu quả kinh tế cao nhất. Vai trò của canxi với cây trồng 1.