Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu sơ lược về cây đậu phộng Cây đậu phdng (Arachis hypogaea L.) thuộc ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta), lớp Song tử diệp (Dicotyledoneae), bộ Đậu (Fabales), họ Dau (Fabaceae), chi (Arachis) (Vũ Công Hậu va ctv, 1995). Đặc điểm thực vật hoc cây đâu phộng: Rễ: gồm rễ cọc đâm sâu xuống đất bao quanh bởi một hệ thống rễ con và rễ phụ dày đặc phân bé chủ yếu ở lớp đất mặt từ 5 - 35 cm. Thân: Đậu phộng thuộc thân thảo. Khi còn non thân hình tròn nhưng khi gia có hình góc cạnh, bên trong hơi rong xốp.
Thân đậu phộng cấu tạo bởi 15 - 25 đốt, khi có hoa thì cây tăng trưởng nhanh và đến khi thu hoạch thì cây tăng trưởng chậm lại. Chiều cao của các giống cây đậu phộng trồng ở Việt Nam từ 30 - 75 cm, thích hợp trong sản xuất từ 30 - 40 cm, thân quá cao không thích hợp trong canh tác. Cành: Khả năng đâm cành của đậu phộng là rất lớn, nhất là những giống thuộc loài Hypogaea (có thé có 4 - 7 cấp cành), loài phụ Fastigiata thường chỉ có 2 cấp cành với tổng số cành 6 - 12 cành. Các giống đậu phộng được trồng ở nước ta chủ yếu là các giống thuộc nhóm Spanish (loài phụ Fastigiata).
Lá: Lá đậu phộng thuộc lá kép lông chim, mọc cách, mỗi lá có 4 lá chét, có khi có 3 - 6 lá chét. Một cây có từ 50 - 80 lá, lá 3,4,5 và 6 có hoạt động sinh lý mạnh kế từ đỉnh sinh trưởng xuống dùng những lá này để phân tích chuẩn đoán dinh dưỡng của cây. Hoa: Hoa lưỡng tính màu vàng, mọc thành chùm, mỗi chùm từ 2 - 7 hoặc 12 - 15 hoa mọc ở nách lá, các hoa trên chùm phát triển không đều. Hoa đậu phộng 99 % đều là tự thụ, nở hoa vào sáng sớm từ 5 - 10 giờ.
Trái: Dạng hình kén, dai 1 - 8 cm, rộng 0,5 - 2 cm, một đầu dính vào thư đài khi khô thành cuống trái, đầu kia có dạng cong gọi là mỏ trái, ở giữa trái có eo thắt lại gọi là eo trái, vỏ có thể có gân tùy giống. Hạt: Có nhiều hình dạng khác nhau như bầu dục, tam giác hoặc tròn. Hạt có vỏ lụa bao bọc ở ngoài, màu sắc của vỏ lụa thay đổi tùy theo giống: hồng nhạt, trắng hoặc đỏ tim. Có vân hoặc không và ít bi chi phối với điều kiện ngoại cảnh.
Trong một trái có từ 1 - 6 hạt, thường là 2 hạt. Giống và điều kiện ngoại cảnh ảnh hưởng trực tiếp đến số hạt trong một trái. Cây đậu phộng có nguồn gốc xuất xứ từ Nam Mỹ (Phạm Văn Thiều, 2000). Khởi thủy của loài đậu phộng trồng được nhiều tác giả công nhận ở Braxin, cũng có một số tác giả cho là ở Bolovia.
Sau đó cây đậu phộng được phổ biến sang Châu Âu, tới vùng bờ biên Châu Phi, Châu A, tới quần dao Thái Binh Dương và cuối cùng tới vùng Đông Nam Hoa Kỳ (Vũ Công Hậu và ctv, 1995). Hiện nay, cây đậu phộng được trồng ở hơn 100 nước trên thế giới, với diện tích khoảng 23 triệu ha (Phạm Văn Thiéu, 2000) và được trồng nhiều ở các nước An Độ, Trung Quốc, Mỹ, Senegan, Indonesia, Nigeria, Myanma, Brazil, Argentina, Thái Lan, Việt Nam (Vũ Công Hậu và ctv, 1995). Trong số 25 nước trồng đậu phộng ở châu Á, Việt Nam đứng thứ 5 về diện tích và được trồng ở khắp các tỉnh từ Bắc đến Nam, trên nhiều loại đất, với những điều kiện sinh thái khác nhau (Ngô Thế Dân và ctv, 2000). Toàn bộ cây đậu phộng đều có giá trị sử dụng.
Sản phẩm chính là hạt, nó chứa nhiều dinh dưỡng nên từ lâu đã được con người sử dụng như một nguồn thực pham quan trọng (Nguyễn Mạnh Thản và Lại Đức Lân, 1982). Hạt đậu phộng là thức ăn giàu lipit, protein, vitamin và các khoáng chất đối với con người (Đoàn Thị Thanh Nhàn và ctv, 1996). Ngoài ra thân lá, khô dau đậu phộng là nguồn thức ăn giàu dam cho chăn nuôi. Trong khẩu phần thức ăn của gia súc, khô dầu đậu phộng có thể chiếm tới 25 - 30%.
Cây đậu phộng có khả năng cố định dam rất tốt, là cây trồng có tác dụng cải tạo, bồi dưỡng đất, có vị trí quan trọng trong hệ thống luân canh với nhiều loại cây trồng khác, cũng như việc chống xói mòn, phủ xanh đất trong, đôi núi trọc (Lê Song Dự và Nguyễn Thế Côn, 1979). Khi đưa các cây họ đậu vào luân canh với cây lúa nước giúp cải thiện tinh chat lý, hóa của đất một cách rõ rệt làm thay đổi pH của dat, tăng hàm lượng chat hữu cơ, tăng lượng lân và kali dé tiêu trong đất (Fu, 1990). Cây đậu phộng có nhu cầu cao về đạm song nhờ hệ thống nốt san ở bộ rễ cung cấp một lượng đạm đáng kể. Tuy nhiên, nốt san của cây chỉ hình thành sau khi cây mọc | tuần, hơn nữa, hệ vi sinh vật trong nốt san có nhu cầu sử dụng phân đạm dé phát triển nên cần bón dam lót va thúc sớm dé đậu phộng phát triển ngay từ đầu va tạo nhiều nốt sần hữu hiệu.
Trên các vùng đất bạc màu, nghèo dinh dưỡng nếu không bón phân đạm thì hệ vi sinh vật công sinh nốt san phát triển kém, vì vậy năng suất sẽ rất kém. Thiếu đạm, thân lá có màu xanh vàng, lá nhỏ, khả năng vươn cao, dam cành kém. Thiếu đạm trong giai đoạn đầu cây can cỗi, khó hình thành nốt san và ty lệ nốt san hữu hiệu thấp. Bên cạnh đạm, lân có tác dụng kích thích bộ rễ phát triển, rất cần cho sự hình thành not san, tăng cường kha năng hút đạm của cây, thúc day ra hoa hình thành củ sớm, giảm tỷ lệ lép.
Do vậy lân cần được bón sớm. Thiếu lân xuất hiện sắc đỏ trên lá, thiếu nhiều lá chuyên qua màu nâu, cây còi cọc. Kali đóng vai trò quan trọng trong quá trình quang hợp và sự phát triển quả (củ) làm tăng số nhân, tăng tỷ lệ hạt chắc, tăng năng suất và hàm lượng dầu trong hạt. Hàm lượng kali trong lá cao nhất ở thời kỳ ngay trước ra hoa sau đó giảm đi ở thời kỳ hình thành củ.
Vì vậy cần bón kali sớm và kết thúc trước khi cây ra hoa. Thiếu kali xuất hiện những đốm vàng ở mép lá sau lan ra thành mảng và dần chết khô, thường ở lá non xuất hiện những vết đốm vàng nâu. Thiếu kali làm củ một nhân nhiều, tỷ lệ dầu thấp. Ngoài ra, canxi là một trong những yếu tố không thê thiếu khi trồng đậu phộng.
Bon vôi cho đậu phộng giúp làm tăng pH, tạo môi trường thích hợp cho vi khuẩn cố định đạm và là chất dinh dưỡng cần thiết cho quá trình tạo quả và hạt. Cây hút canxi, magiê mạnh nhất là thời kỳ đậu phộng đâm tia. Molipden (Mo) có tác dụng tăng hoạt tính vi khuẩn nốt san, tăng kha năng đồng hóa nitơ. Boron (B) giúp quá trình phát triển rễ, tăng kha năng chịu hạn, giúp cho quả không bị nứt, han chế nam bệnh xâm nhập.
Thiếu B làm giảm tỷ lệ đậu quả, hạt lép nhiều, sức sống hạt giống.2 Tình hình sản xuất đậu phộng trong và ngoài nước 1.1 Tình hình sản xuất đậu phộng trên thế giới Bảng 1.1 Diện tích, năng suất và sản lượng đậu phộng trên thế giới giai đoạn 2017 - 2021 Năm Diện tích (1000 ha) Năng suất (tân/ha) Sản lượng (1000 tan) 2017 27.097,5 (FAOSTAT, 2022) Theo số liệu cua FAOSTAT (2022), tổng diện tích trồng đậu phộng của thé giới năm 2021 là 27.940,3 ha, đạt sản lượng 47.097,5 nghìn tấn với năng suất bình quân 1,69 tan/ha (Bảng 1. Trong giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2021 thì năm 2020 có diện tích trồng đậu phộng lớn nhất là 27.955,1 ha với năng suất 1,61 (tan/ha); thấp nhất vào năm 2019, diện tích đạt 26.491,1 với năng suất 1,68 tan/ha.2 Tình hình sản xuất đậu phộng tại Việt Nam Trong giai đoạn từ năm 2017 đến 2022 diện tích đậu phộng tại Việt Nam có tong diện tích sản xuất đậu phộng trung bình hang năm trong giai đoạn 2017-2021 là 179.763 ha, năng suất trung bình là 24,7 tạ/ha và sản lượng bình quân của cả nước là 445. Trong giai đoạn từ năm 2017 đến 2021 diện tích đậu phộng tại tỉnh Tây Ninh có tông diện tích sản xuất đậu phộng trung bình hang năm trong giai đoạn 2017-2021 là 4.787,02 ha, năng suất trung bình là 37,66 tạ/ha và sản lượng bình quân của cả nước là 17.2 Diện tích, năng suất và sản lượng đậu phông ở Việt Nam giai đoạn 2017 - 2021 Năm Diện tích Năng suất Sản lượng (1000 ha) (tạ/ha) (1000 tân) 2017 195,35 23,50 459,85 2018 186,46 24,60 458,20 2019 177,00 24,70 438,90 2020 169,50 25,10 425,45 2021 170,51 26,00 445,71 Trung binh 179,76 24,78 445,62 (Cuc Trong trot, 2022) Bang 1.3 Diện tích, năng suất và sản lượng đậu phộng ở tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2017-2021 Năm Diện tích Năng suất Sản lượng (1000 ha) (ta/ha) (1000 tan) 2017 6.995 (Cuc Thong ké tinh Tay Ninh, 2022) Năm 2021 diện tích đậu phộng tại Tay Ninh dat 3.636 ha diện tích giảm 4% so với 2020. Đậu phộng tập trung chủ yếu tại các huyện Trảng Bàng, Gò Dầu, Dương Minh Châu, giống đậu phộng chủ yếu được trồng là giống đậu VD 2, nguyên nhân do đất canh tác đa số đất chua có độ pH thấp, người sản xuất bón phân chưa hợp lý để cải thiện chất lượng đất.3 Nhu cầu dinh dưỡng cho cây đậu phộng Thực vật nói chung va đậu phộng nói riêng rất cần các nguyên té đa lượng là các nguyên tô đạm (N), lân (P), kali (K) và nguyên tố dinh dưỡng trung lượng là các nguyên tố canxi (Ca), magie (Mg), lưu huỳnh (S), silic (Si) ở dang cây trồng có thé hấp thu được.
Ngoài ra, cũng cần các nguyên tô dinh dưỡng vi lượng là các nguyên tố boron (B), coban (Co), đồng (Cu), sắt (Fe), mangan (Mn), molipđen (Mo), kẽm (Zn) là những nguyên tố cần thiết cho cây trồng sinh trưởng và phát triển. Trong lich sử nông nghiệp, các cây họ đậu và phân chuồng là nguồn cung cấp đạm chính cho cây trồng. Trong đó lượng đạm được cố định bởi các cây họ đậu có nốt san trung bình chiếm khoảng 75% tổng lượng đạm sử dụng bởi cây trồng. Trong đó cây đậu phộng có định đạm khoảng 40%.
Do đó, việc bón phân đạm cho cây đậu là rất quan trọng, có thé bón lót một lượng đạm nhỏ cho cây trong thời gian đầu dé đảm bảo cho cây con của cây đậu có thé cung cấp đủ đạm cho đến khi các nốt san trong rễ hình thành do Rhizobium cộng sinh (Lê Văn Dũ,1998).