Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Stress Theo các nhà tâm lý thì stress là một hình thái của sự mệt mỏi khó chịu khiến người mắc phải cảm thấy như bị hụt hơi. Stress là sự căng thẳng sức ép đặc biệt tác động lên cơ thể có xu hướng gây căng thẳng hoặc làm biến dạng nó đi (Theo tân từ điển Webster) Stress theo từ điển tiếng Anh gốc Latinh nghĩa nguyên thủy là nỗi đau, sự thử thách, tai họa, stress là tổng hợp các phản ứng tâm sinh lý của cơ thể trước các yếu tố bên ngoài đòi hỏi sự thích nghi của cơ thể. Delay định nghĩa: “Stress là trạng thái căng thẳng cấp diễn của cơ thể buộc phải huy động các khả năng phòng vệ để đối phó với một tình huống đang đe dọa”.
Theo Charmaine Sauders định nghĩa: “Stress là trạng thái quá căng thẳng của tinh thần. Căng thẳng là một áp lực từ bên ngoài do chúng ta cảm thấy quá bận rộn, mệt mỏi, vội vã hoặc căng thẳng bên trong do chúng ta tạo ra”. Theo Nguyễn Thành Khải, 2001, “Stress là trạng thái căng thẳng về tâm lý mà con người cảm nhận được trong quá trình hoạt động cũng như trong cuộc sống”. Các áp lực bên ngoài (áp lực công việc, gánh nặng công việc) được xem như là áp lực tác động đến cá nhân và nó gây ra căng thẳng.
Trong luận văn này, stress là trạng thái căng thẳng về mặt tâm lý mà con người cảm nhận được trong quá trình hoạt động cũng như trong cuộc sống. Cán bộ lãnh đạo - quản lý trong cơ quan hành chính nhà nước Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, ở tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh), ở Quận, Huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước (Điều 4, Luật cán bộ công chức năm 2008). Cán bộ phường, xã, thị trấn (gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, phó bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị xã hội, công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Cán bộ lãnh đạo: Là người phải có những tố chất và tầm nhìn chiến lược, coi trọng đại cục, tư duy tổng hợp.
Điều hành công việc như một bộ môn nghệ thuật, thường đảm nhận những vai trò trung gian, mọi việc phải hoàn hảo, phù hợp, hiệu quả. Là người mấu chốt gắn kết tình cảm của tập thể, người phát biểu trong cơ quan. (Nguyễn Thành Khải, 2001) Cán bộ quản lý: Là người có tính chiến thuật, quán xuyến cục bộ và có tính chuyên môn cao, được đào tạo, có kỹ năng, nhiều kinh nghiệm thực tiễn và là người giám sát trực tiếp. Làm việc để mang lại hiệu quả, phù hợp, tận dụng mọi kỹ năng để giải quyết mọi khó khăn.
Người quản lý phải có tính khách quan, công bằng, lãnh đạm, lo lắng mọi mặt cho các hoạt động của tập thể. (Nguyễn Thành Khải, 2001) Nữ cán bộ tại Quận 10 trong luận văn này bao gồm những nữ cán bộ chủ chốt làm công tác cấp trưởng, phó các ban ngành đoàn thể, trưởng, phó các phòng ban, nữ cán bộ trong cấp ủy Đảng từ cấp Phường đến cấp Quận. Các tác nhân gây Stress (Stressors) Tác nhân gây stress rất đa dạng và phong phú, bao gồm những ảnh hưởng bởi các yếu tố tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội tạo ra stress được gọi là tác nhân gây stress. Hans Selye, 1956 đã đưa ra chuỗi sự kiện mà ở đó cơ thể phản hồi và đáp ứng các tác nhân gây ra stress và ông gọi đây là hội chứng GAS hay là hội chứng thích nghi tổng quát, bao gồm 3 giai đoạn: - Giai đoạn 1: Giai đoạn phản ứng – báo động: Trong giai đoạn này, cơ thể sẽ cảnh giác kích thích có hại từ môi trường xung quanh.
- Giai đoạn 2: Giai đoạn phản kháng – thích nghi: Trong giai đoạn này thì cơ thể đã đối phó thành công với các tác nhân gây stress và đã có kinh nghiệm đối phó với stress. - Giai đoạn 3: Giai đoạn cạn kiệt – mệt mỏi: Trong giai đoạn này cơ thể không thể đối phó trước sự tấn công liên tục của các tác nhân gây stress, cơ thể không có khả năng phục hồi và thích nghi. Trong luận văn này chỉ tập trung vào các tác nhân xã hội bao gồm các yếu tố liên quan đến việc làm, mối quan hệ xã hội tại nơi làm việc, môi trường làm việc và các quan hệ trong gia đình và cộng đồng. Đo lường các khái niệm 14 1.
Stress bên ngoài: chỉ bất cứ sự kiện nào hoặc bất cứ kích thích nào từ môi trường khiến con người cảm thấy bị căng thẳng hoặc bị thức tỉnh. Stress bên trong: là sự nhìn nhận của bản thân dẫn đến lo âu và có cảm xúc tiêu cực. Stress sự kiện cuộc đời: bao gồm các sự kiện xảy ra trong cuộc đời của cá nhân như ly hôn, mất vợ/chồng … sự kiện cuộc đời là sự kiện rất nhạy cảm và khó nói. Các sự kiện mang tính ngẫu nhiên tiêu cực và không kiểm soát được sẽ dẫn đến stress nhiều và ngược lại.
Stress hàng ngày: Diễn ra hàng ngày mặc dù mức tác động có thể nhỏ hơn nhưng theo sự tích lũy của thời gian nó có tác hại đến sức khỏe như xung đột bạn bè, cãi vã trong gia đình. Stress căng thẳng kinh niên: Có những sự kiện tiêu cực xảy ra tạo thành một nỗi ám ảnh trong một thời gian dài và ảnh hưởng đến khả năng phòng tránh bệnh tật của cá nhân đó. Stress xung đột vai trò: Khi một người có quá nhiều vai trò trong một tổ chức và đời sống cá nhân và phải đối mặt với nhiều căng thẳng, họ không thể cân bằng tất cả các vai trò trong một thời gian dài. Và những vai trò họ đảm nhận có thể trở thành mâu thuẫn nhau trong tự nhiên, yêu cầu họ phải lựa chọn vai trò nào đó.
Nữ cán bộ lãnh đạo quản lý vừa đảm nhận vai trò chính trong cơ quan, họ phải đảm nhận nhiều việc quan trọng trong công việc, bên cạnh đó họ còn là người vợ, người mẹ trong gia đình dẫn đến sự xung đột vai trò khi họ phải cố gắng cân bằng tất cả vai trò mà họ đảm nhận trong một khoảng thời gian dài. Mức độ stress: Theo Tô Như Khuê, 1995: Stress bình thường: Là mức độ đảm bảo hoạt động sống hàng ngày, cho dù có chịu tác động bởi những tác nhân gây căng thẳng nhẹ hoặc vừa nhưng cá 15 nhân vẫn giữ được trạng thái cân bằng, không có ảnh hưởng của yếu tố căng thẳng đáng kể. Stress cao: Khi có tác nhân gây căng thẳng đáng kể, cơ thể phải sử dụng thêm một số các năng lượng và cấu trúc lại hệ thống chức năng để thích nghi với những kích thích đó, các phản ứng thích nghi đạt tới mức giới hạn nếu yếu tố gây căng thẳng đến mức tới hạn. Ở mức độ này, mặc dù có những biến đổi của cơ thể nhưng nó sẽ được phục hồi lại sau khi tác nhân ngừng tác động.
Tuy nhiên, nếu mức độ kéo dài hoặc các tác nhân kích thích quá mức hơn nữa thì phản ứng thích nghi sẽ không đáp ứng được nữa, cơ thể sẽ chuyển sang trạng thái bệnh lý. Stress bệnh lý: Ở mức độ này, các phản ứng của cơ thể không còn hiệu quả mong muốn, các hệ thống chức năng mất tính mềm dẻo, môi trường bên trong có nhiều rối loạn và không trở lại bình thường khi kích thích ngừng tác động. Stress cảm nhận: S. Cohen, Kamarck và Mermelstein (1983) đo lường xem cá nhân có cảm nhận mình bị stress hay không.
Theo các nhà nghiên cứu thì phương pháp này được xem là tốt hơn, phương pháp xem xét stress được tạo ra bởi các sự kiện cuộc đời với cá nhân, đồng thời nó cũng là phương pháp tốt hơn trong việc dự báo các tác động về sức khỏe do stress tạo nên. Đối phó với stress: là nhận biết ra các nguyên nhân gây stress trong đời sống chúng ta. Nhận ra stress tác động đến chúng ta như thế nào và hành động để giảm bớt các nguồn gây stress và giữ stress ở mức độ chấp nhận được.Ví dụ như để giảm nguồn stress là thay đổi lối sống, môi trường sống hoặc học cách thư giãn để sự căng thẳng không gây ra và không có hại đến sức khỏe. Nguyên nhân của stress 16 Stress sẽ xảy ra khi áp lực từ môi trường tác động lên cá nhân, vượt quá mức giới hạn chịu đựng của họ bao gồm những nguyên nhân từ môi trường bên ngoài và từ mỗi cá nhân.
Những nguyên nhân nảy sinh từ vấn đề sức khỏe của mỗi người, từ những áp lực trong công việc, học tập; từ môi trường làm việc cũng như môi trường sống và từ những mối quan hệ cá nhân với cộng đồng. Những vấn đề về sức khỏe và thể chất: Sự thay đổi sinh lý của cơ thể trong quá trình hoàn thiện cũng là nguyên nhân gây ra những căng thẳng, mệt mỏi ở từng lứa tuổi. Cơ thể ốm yếu, sức đề kháng yếu, dễ mắc phải những căn bệnh thông thường do chế độ sinh hoạt không hợp lý, ăn uống không đầy đủ dinh dưỡng cũng làm cho chúng ta rơi vào trạng thái mệt mỏi, căng thẳng. Hoặc khi mắc những căn bệnh nghiêm trọng, nan y thời gian điều trị kéo dài, tốn kém người ta thường không ngừng nghĩ về căn bệnh đó, buồn rầu, âu sầu và thường suy nghĩ về những hướng xấu có thể xảy ra cho bản thân điều đó góp phần nảy sinh những căng thẳng.
Những vấn đề từ môi trường bên ngoài: Sự thay đổi của thời tiết, nắng mưa thất thường, không khí oi bức cũng dễ làm chúng ta phát sinh những bực bội, cáu gắt; sự ô nhiễm môi trường như tiếng ồn, khói bụi. cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng stress trong mỗi chúng ta. Môi trường làm việc học tập, không thoải mái, thiếu những tiện nghi cần thiết, không đủ ánh sáng hoặc làm việc hay học tập trong một môi trường mà mọi người không làm hết khả năng của mình, không tập trung vào chuyên môn mà còn làm ảnh hưởng đến hoạt động của người khác cũng là nguyên nhân nảy sinh những bất mãn, chán nản, căng thẳng cho chúng ta.