CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về hoa hòe 1. Cây hoa hòe: Cây hòe có tên khoa học là Sophora japonica L, còn được gọi là hòe mễ, hòe hoa hay hòe hoa mễ. Cây thuộc chi Styphnolobium, tông Sophoreae thuộc họ đậu (Fabaceae), phân bộ Đậu Fabales, lớp Ngọc Lan (Magnoliosida), ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta) (Võ Văn Chi, 2015; Đỗ Tất Lợi, 2011).
Mô tả cây Trồng hòe bằng cách dâm cành hoặc gieo hạt. Cây hoa hòe cao từ 5 đến 7m, cao có thể đến 15m. Thân thang hơi nứt nẻ, cành hình trụ nằm ngang, nhẵn, màu lục nhạt, có những chấm trắng. Lá kép lông chim lẻ, mọc so le, có cuống chung mình và ngắn, mỗi lá gồm 11 đến 17 lá chét, mọc đối, hình bầu dục, mặt trên lá hơi có lông (Đỗ Tất Lợi, 2011).
Hoa nhỏ, hình cánh bướm hoặc chùm ở đầu cành dài 20cm, phân thành nhiều nhánh, có màu vàng trắng hay vàng nhạt. Cánh hoa có móng ngắn, hình tím cụt ở gốc, mép cong lên, nhị rời nhau, bao phấn hình bầu dục. Quả đậu, hình tràng hạt, nhẵn, thắt lại không đều giữa các hạt, đầu quả có mũi nhọn ngắn. Mỗi quả có từ 2 đến 5 hạt; hạt hình bầu dục, hơi dẹt, màu nâu vàng bóng.
Cây ra hoa vào tháng 5 đến 8 và ra quả vào tháng 9 đến 11 (Bộ Y tế, 2009). 1 Luan van Trong dân gian, người ta chia hòe thành hai loại là hòe nếp và hòe té. Hòe nếp có hoa to, nhiều, đều, nở cùng một lúc, có màu nhạt, cuống ngắn, cây phát triển nhanh, phân nhiều cành. Hòe té có hoa nhỏ, thưa thớt, không đều, nở nhiều đợt, có màu sẫm hơn, cuống dài, cây cao, phân ít cành (Trần Việt Hưng, 2002; Nguyễn Tiến Bân, 1997).
Phân bố và thu hái hoa hòe Cây hòe mọc hoang và được trồng khắp nơi ở nước ta để làm thuốc, nhiều nhất ở Thái Bình và ở một số tỉnh đồng bằng và trung du Bắc bộ như Hải Hưng (Nam Định), Hải Phòng, Nghệ An. Từ 1976, cây được đưa vào trồng ở nhiều tỉnh miền Trung và Tây Nguyên (Nguyễn Tiến Bân, 1997). Cây hòe cũng được trồng ở một số nước như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật. và trong những công viên ở Châu Âu và Bắc Mỹ.
Cây hòe trồng từ hạt sau 3 đến 4 năm thì bắt đầu thu hoạch, mỗi cây có thể cho từ 5 đến 10 kg nụ hoa tươi hàng năm. Thu hoạch từ tháng 7 đến tháng 9. Hoa phải hái lúc còn nụ do nụ chứa nhiều hoạt chất. Hái hoa vào buổi sáng khi trời khô ráo.
Hoa sau khi hái được phơi nắng hoặc sấy ngay. Hoa có vị đắng, hơi nhẫn. Quả có vị đắng (Nguyễn Tiến Bân, 1997). Hoa hòe dùng trong dược liệu phải đạt tiêu chuẩn như có màu vàng, vị đắng, cánh hoa vàng nâu, đài hoa vàng xám, nụ có màu vàng nhạt, không mốc, độ ẩm không quá 12%.
Hoa đã nở không quá 10%, tạp chất (cuống hoa, lá) không quá 2%, phải chứa ít nhất 20% rutin (Viện Dược Liệu, 2003). Thành phần có hoạt tính sinh học trong hoa hòe: Hoa hòe được biết đến như là một loại cây có giá trị dược liệu quý (Võ Văn Chi, 2015). Giá trị dược liệu của cây được cung cấp bởi nhiều thành phần có hoạt tính sinh học có trong các bộ phận khác nhau, đặc biệt là trong hoa hòe. Flavonoid là nhóm chất có hoạt tính sinh học cao, chiếm số lượng lớn trong thành phần hóa học của cây.
Flavonoid được chia làm 4 nhóm là eucoflavonoid, isoflavonoid, neoflavonoid, triflavonoid. Trong đó, nhóm eucoflavonoid có các nhóm như flavon, flavonol, flavanol, chalon. Rutin là một chất thuộc nhóm eucoflavonoid trong nhóm flavon và flavonol (Nguyễn Huy Công, 2005). Hàm lượng rutin nhiều nhất ở nụ hoa, cánh hoa (cánh hoa chứa đến 70% hàm lượng rutin trong hoa) (Ngô Văn Thu, 2004).
Rutin là thành phần được quan tâm nhiều nhất trong hoa hòe do có hoạt tính sinh học cao, có màu vàng và vị đắng đặc trưng. Rutin Rutin là một glucoside có công thức hóa học là C27H30O16. Rutin có tên IUPAC: 2-(3,4- dihydroxyphenyl) - 5,7 – dihydroxy – 3 - {[(2S,3R,4S,5S,6R) - 3,4,5 – trihydroxy - 6 ({[(2R,3R,4R,5R,6S) - 3,4,5 – trihydroxy – 6 – methyloxan – 2 - yl]oxy}methyl)oxan – 2 - yl]oxy} - 4H – chromen – 4 - one. Hay, rutin có tên khác là 3.
Rutin là một chất thuộc nhóm Flavon, có phần aglyol là Quercetin thuộc nhóm Flavonol (Wei Zhi và cộng sự, 2010). Công thức cấu tạo của rutin được thể hiện ở hình 2.2: Công thức cấu tạo của rutin Về tính chất vật lý, rutin ở dạng bột kết tinh có màu vàng hay vàng lục (Kreft và Knapp, 1999). Rutin tan trong methanol và trong các dung dịch alkali hydroxide, tan ít trong ethanol. Rutin không tan trong nước và dichloromethane.
Phổ của rutin có λmax ở 362,5nm và 258nm, ở 1% λ = 362,5 thì có 𝐸1𝑐𝑚 = 325 (ethanol) (Krewson và cộng sự, 1952; Ngô Văn Thu, 2004). Về hoạt tính sinh học, rutin là chất có hoạt tính chống oxy hóa, chống viêm, chống nghẽn mạch, bảo vệ tế bào và thành tế bào, chống ung thư (J. Hoạt tính chống oxy hóa của rutin đã được chứng minh ở một vài nghiên cứu. Rutin có hoạt tính chống oxy hóa do có khả năng tạo phức chelat với ion kim loại và có khả năng thu dọn các gốc tự do superoxide.
Trong tế bào sinh vật, hoạt tính chống oxy hóa của rutin là do phần aglycol. Quercetin là sản 3 Luan van phẩm chuyển hóa tiếp theo của rutin trong cơ thể được tạo ra từ phần aglycol sau khi tách gốc đường ra khỏi rutin (Kee Chang Huang, 1999). Một vài thí nghiệm tiến hành trên động vật cho thấy rutin có khả năng chống viêm. Rutin có khả năng phòng và chữa bệnh viêm ruột kết.
Tác dụng này có thể được giải thích là do rutin làm tăng nồng độ glutathione liên kết, từ đó làm giảm các chuỗi oxy hóa gây viêm. Rutin được dùng làm thuốc chữa trĩ, thuốc trị dị ứng và chống thấp khớp. Ngoài ra, rutin còn dùng trong các trường hợp da bị tổn thương. Rutin có tác dụng làm nhanh liền sẹo (Shim và cộng sự, 2005).
Một số thí nghiệm trên súc vật cũng cho thấy, rutin có thể hạn chế một vài bệnh ung thư và các yếu tố gây ung thư (Nguyễn Văn Đàn, Nguyễn Viết Tựu,1985). Rutin là một dạng bioflavonol, có hoạt tính của vitamin P nên có tác dụng tăng cường sức chịu đựng của mao mạch. Từ đó, rutin có tác dụng làm bền thành mạch, chống nghẽn mạch, bảo vệ tế bào và thành tế bào (Đỗ Huy Bích, 1995). ❖ Định tính rutin: Theo Dược điển Việt Nam IV (2009), các phương pháp dùng để định tính rutin bao gồm: Phương pháp A: So sánh phổ hồng ngoại với phổ chuẩn.
Phổ hồng ngoại của chế phẩm phải phù hợp với phổ hồng ngoại của rutin chuẩn (Đối chiếu). Phương pháp B: Xác định bằng phương pháp quang phổ so màu Hòa tan 50mg chế phẩm trong methanol và pha loãng thành 250ml với cùng dung môi, lọc nếu cần. Pha loãng 5ml dung dịch này thành 50ml bằng methanol. Đo phổ hấp thụ tử ngoại trong khoảng từ 210nm đến 450nm, dung dịch phải cho hai cực đại hấp thụ ở 257nm và 358nm.
Độ hấp thụ riêng ở bước sóng cực đại 358nm phải từ 305 đến 330. tính theo chế phẩm khan (Dược điển Việt Nam IV, 2009). Phương pháp C: Phương pháp sắc ký lớp mỏng. Bản mỏng sử dụng là silica gel GF254.
Dung môi sử dụng là N-butanol, acid acetic khan, nước, methyl ethyl ceton, ethyl acetat (5 : 10 : 10 : 30 : 50). Pha dung dịch thử bằng cách hòa tan 25mg chế phẩm trong methanol và pha loãng thành 10ml với cùng dung môi. Dung dịch đối 4 Luan van chiếu được pha bằng cách hòa tan 25mg rutin chuẩn trong methanol và pha loãng thành 10ml với cùng dung môi (Stalikas, 2007). Tiến hành chấm riêng biệt lên bản mỏng 10µl mỗi dung dịch trên.
Triển khai sắc ký đến khi dung môi đi được 10cm. Để khô bản mỏng ngoài không khí. Phun lên bản mỏng hỗn hợp gồm 7,5ml dung dịch kali fericyanid 1% (Thuốc thử) và 2,5ml dung dịch sắt (III) clorid 10,5% (Thuốc thử). Quan sát bản mỏng trong vòng 10 phút.
Vết chính trên sắc ký đồ thu được của dung dịch thử tương ứng về vị trí, màu sắc và kích thước với vết chính trên sắc ký đồ thu được của dung dịch đối chiếu (Stalikas, 2007). Phương pháp D: Hòa tan 10mg chế phẩm trong 5ml ethanol 96% (Thuốc thử). Phương pháp E: Phản ứng với hơi amoniac. Nhiều flavonoid thay đổi màu khi gặp hơi NH3.
Có thể quan sát sự biến đổi màu này bằng mắt thường hoặc dưới ánh sáng tử ngoại (Phạm Gia Điền, 1996). Phương pháp F: Phản ứng cyanidin. Phản ứng do sự có mặt nhân γ-penzopyron trong đa số flavonoid. Thuốc thử là HCl đặc và bột Magie kim loại.
Phản ứng bằng thuốc thử Sibata và dung dịch H2SO4 đậm đặc. Cho dịch chiết vào ống nghiệm, thêm vài mililit H2SO4 đậm đặc, sau đó cho thêm 0,1g Magie, tiếp theo thêm từ từ rượu isoamylic theo thành ống nghiệm. Đun nóng, có màu hồng từ từ xuất hiện rồi chuyển sang đỏ cam hoặc đỏ tím (Phạm Gia Điền, 1996). Phương pháp G: Phản ứng với dung dịch sắt (III) clorid 5%.
Cho dịch chiết vào ống nghiệm, thêm vài giọt dung dịch sắt (III) clorid 5%, lắc sẽ xuất hiện màu xanh đen (Dược điển Việt Nam IV, 2009). ❖ Định lượng rutin: Có nhiều phương pháp để định lượng rutin: 5 Luan van Đo bằng quang phổ kế: Nguyên tắc dựa vào phổ của rutin có λmax ở 362,5 và 258nm, ở λ = 362,5 thì có E (1%, 1cm) = 325 (ethanol), Đo quang phổ kế để tính nồng độ dựa trên E (1%, 1cm) (Dược điển Việt Nam IV, 2009). Đo màu: Nguyên tắc dựa vào màu của rutin khi tác dụng với AlCl3 hoặc tiến hành phản ứng Cyanidin rồi đo màu. Phương pháp cân: nguyên tắc của phương pháp là chiết xuất rutin bằng cồn nóng, sau đó thuỷ phân bằng dung dịch acid sunfuric, quercetin ít tan được lọc và cân rồi tính ra rutin.
Cân chính xác 2g bột dược liệu, ngâm với 20 ml HCl 0,5%, thỉnh thoảng khuấy mạnh. Sau 2 giờ, gạn lọc bỏ phần dung dịch. Rửa bột nhiều lần với nước, nước rửa mỗi lần lại lọc qua phễu cho đến khi dịch lọc trung tính với giấy quỳ. Giấy lọc và bột được chiết với 20ml cồn 95° trong một bình đặt trên nồi cách thủy và có lắp ống hoàn lưu.
Sau 15 phút, lọc gạn qua phễu vào một cốc. Bột lại được chiết với 20ml cồn 95° và tiến hành làm như trên. Tiếp tục chiết cho đến khi dịch chiết không màu và không cho màu vàng với dung dịch NaOH 0,1N. Rửa bình và phễu với 10 ml cồn 95° nóng.
Tập trung các dịch chiết và dịch rửa lại, làm bốc hơi trên nồi cách thủy đến gần khô.