Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Cây lạc (Arachis hypogaea L.) thuộc họ Đậu (Fabaceae), có nguồn gốc từ Nam Mỹ, là cây công nghiệp ngắn ngày, cây thực phẩm và cây lấy dầu có giá trị kinh tế cao. Trên thế giới, trong nhóm cây có dầu ngắn ngày, lạc đứng thứ hai sau đậu tương về diện tích và sản lượng; đứng thứ tư về nguồn dầu thực vật, thứ ba về nguồn cung cấp protein và thứ 13 trong nhóm cây lương thực - thực phẩm quan trọng. Lạc có khả năng cộng sinh với vi khuẩn nốt sần để cố định nitơ tự do, giúp cải tạo độ phì nhiêu của đất và thích hợp trong các hệ thống luân canh tăng vụ. Tại Việt Nam, sản xuất lạc đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu nông sản nhưng đang đối mặt với nhiều hạn chế: thiếu bộ giống thích nghi chuyên biệt cho từng vùng sinh thái, trình độ thâm canh chưa đồng đều và đặc biệt là tổn thất năng suất do khô hạn khi chưa có bộ giống chịu hạn hoàn chỉnh cũng như các biện pháp kỹ thuật canh tác ứng phó hạn phù hợp. Việc tìm kiếm các giải pháp sinh lý - sinh hóa nhằm tăng cường tính chịu hạn của cây lạc là yêu cầu thực tiễn cấp thiết.

Khóa luận được thực hiện nhằm giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Mục đích: Đánh giá ảnh hưởng của hạn và axit salicylic (SA) tới sinh trưởng, phát triển và năng suất của lạc, từ đó góp phần làm cơ sở khoa học cho việc xây dựng biện pháp kỹ thuật canh tác hợp lý cho cây lạc trong điều kiện hạn.
  2. Nhiệm vụ nghiên cứu (yêu cầu của đề tài):
    • Nhiệm vụ 1: Xác định được khả năng sinh trưởng, phát triển và khả năng hình thành năng suất của cây lạc trong điều kiện hạn.
    • Nhiệm vụ 2: Xác định được ảnh hưởng của axit salicylic đến khả năng sinh trưởng, phát triển và khả năng hình thành năng suất của cây lạc trong điều kiện hạn.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Khả năng sinh trưởng, phát triển và hình thành năng suất của cây lạc dưới tác động của các liều lượng phun axit salicylic khác nhau trong điều kiện tưới nước hạn chế; giống lạc thực nghiệm là giống L18.
  • Phạm vi không gian: Khu thí nghiệm nhà lưới của Bộ môn Sinh lý thực vật, Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Vụ gieo trồng từ tháng 5 năm 2021 đến tháng 9 năm 2021 (thời điểm gieo hạt vào ngày 7 tháng 5 năm 2021).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận dựa trên cơ sở sinh lý thực vật về cơ chế phản ứng của cây trồng đối với stress phi sinh học (abiotic stress) và vai trò của chất điều hòa sinh trưởng thực vật. Axit salicylic (SA) là một hợp chất phenol nội sinh có cấu trúc tương tự hormone thực vật, đóng vai trò tín hiệu điều hòa quá trình sinh trưởng, quang hợp, đóng mở khí khổng, thoát hơi nước, hấp thụ ion và kích hoạt hệ thống enzyme chống oxy hóa để bảo vệ tế bào trước các tác nhân bất lợi như hạn, mặn, nhiệt độ cao và kim loại nặng. Khóa luận kế thừa các quy chuẩn kỹ thuật chuyên ngành nông học, đặc biệt là Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng của giống lạc (QCVN 01-57: 2011/BNN&PTNT) để đánh giá khả năng chống chịu sâu bệnh hại.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm được thiết kế theo mô hình thí nghiệm hai yếu tố, bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB) gồm 6 công thức với 5 lần nhắc lại:

  • Yếu tố nước tưới (nhân tố phụ): Gồm 2 mức ẩm độ:
    • Công thức H0 (đối chứng độ ẩm): Duy trì độ ẩm đất khoảng 70% độ ẩm bão hòa trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển của cây.
    • Công thức H1 (gây hạn): Duy trì ẩm độ bình thường, đến giai đoạn quả phát triển (giai đoạn quả chắc, tính khoảng 7 ngày sau khi tắt hoa) thì ngừng tưới nước hoàn toàn cho đến khi xuất hiện trên 50% số lá bị héo rũ mất sức trương thì tiến hành tưới nước trở lại để phục hồi.
  • Yếu tố axit salicylic (nhân tố chính): Thực hiện phun SA ở nồng độ thực nghiệm ngoại sinh với 3 mức xử lý: SA1 (đối chứng, chỉ phun nước lã); SA2 (phun SA 1 lần trước khi gây hạn 1 tuần); SA3 (phun SA 2 lần: lần 1 trước khi gây hạn 2 tuần và lần 2 trước khi gây hạn 1 tuần). Nồng độ SA được mô tả trong văn bản là 0,5 mM (tại mục Tóm tắt và Nội dung) và ghi nhận mức 0,25 mM tại bảng bố trí chi tiết các công thức: H0SA1, H0SA2, H0SA3, H1SA1, H1SA2, H1SA3.

Quy trình kỹ thuật và nguồn dữ liệu:

  • Cây lạc được trồng trong chậu chứa giá thể đất phù sa sàng kỹ trộn cát và bón lót phân khoáng (supe lân: 1,9 g/chậu; vôi bột: 28,6 g/chậu). Bón thúc sau trồng 20 ngày gồm kali sulphat (3,4 g/chậu) và urê (1,7 g/chậu) hòa tan vào nước tưới. Mật độ gieo ban đầu 3 hạt/chậu, sau khi cây đạt 2-3 lá thật tiến hành tỉa định cây còn 2 cây/chậu.
  • Dữ liệu thu thập trực tiếp qua các chỉ tiêu: Chiều cao thân chính, chiều dài cành cấp 1 (đo định kỳ 7 ngày/lần từ sau mọc 35 ngày), động thái ra lá, diện tích lá (xác định bằng phương pháp cân nhanh diện tích mẫu lá ở giai đoạn trước gây hạn 1 tuần và sau tưới phục hồi 2 tuần), động thái nở hoa hàng ngày, chỉ số diệp lục (đo bằng máy SPAD tại lá thứ 3 từ ngọn), sinh khối chất khô tích lũy (sấy khô cân khối lượng), mức độ nhiễm sâu bệnh hại theo thang điểm QCVN 01-57:2011/BNN&PTNT, và các chỉ tiêu cấu thành năng suất (số cành cấp 1, số quả/cây, số quả chắc/cây, khối lượng 100 quả, khối lượng 100 hạt, tỷ lệ nhân, năng suất cá thể).
  • Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu thực nghiệm được xử lý thống kê sinh học bằng phần mềm Microsoft Excel 2007 và phần mềm IRISTAT để phân tích phương sai (ANOVA), so sánh sai khác giữa các giá trị trung bình bằng chỉ số LSD ở mức ý nghĩa 5% (LSD0,05) và hệ số biến động (CV%).

Nội dung chính theo từng chương

Mở đầu và Đặt vấn đề

Phần này trình bày tầm quan trọng kinh tế - dinh dưỡng của cây lạc, tính cấp thiết của việc nghiên cứu các giải pháp sinh lý cải thiện tính chịu hạn trong bối cảnh biến đổi khí hậu và thiếu nước tưới tại Việt Nam. Tác giả xác định rõ mục tiêu tổng quát là đánh giá tác động của SA đối với sinh trưởng và năng suất lạc bị hạn, xác định 2 nhiệm vụ cụ thể gắn với điều kiện thí nghiệm có kiểm soát.

Chương 2: Tổng quan tài liệu

Tác giả tổng hợp dữ liệu sản xuất và các công trình khoa học trong và ngoài nước thành 3 nhóm nội dung chính:

  • Tình hình sản xuất lạc: Giai đoạn 2006-2016 trên thế giới, diện tích lạc dao động từ 21,576 đến 27,660 triệu ha, sản lượng đạt từ 33,413 đến 46,418 triệu tấn (theo FAOSTAT). Các quốc gia dẫn đầu gồm Trung Quốc (năng suất 36,74 tạ/ha, sản lượng 16,69 triệu tấn năm 2016), Ấn Độ (diện tích lớn nhất 5,80 triệu ha nhưng năng suất thấp 11,82 tạ/ha), Mỹ (năng suất 41,19 tạ/ha) và Israel (năng suất cao nhất thế giới đạt 51,61 tạ/ha năm 2016). Tại Việt Nam, diện tích lạc năm 2009 đạt đỉnh 245,0 nghìn ha nhưng giảm dần còn 184,8 nghìn ha vào năm 2016 do thu hẹp đất nông nghiệp, song năng suất tăng lên mức 23,1 tạ/ha. Vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung chiếm tỷ trọng diện tích lớn nhất (Nghệ An dẫn đầu với 16,2 nghìn ha năm 2015).
  • Tình hình nghiên cứu dinh dưỡng khoáng và axit salicylic: Điểm lại các nghiên cứu về vai trò của đạm, lân, kali, phân hữu cơ, vi lượng (Mo, B) đối với sự phát triển nốt sần và năng suất lạc. Khái quát cơ chế của axit salicylic trong việc kích hoạt tính kháng stress nhiệt, mặn, hạn và kim loại nặng; trích dẫn các kết quả ứng dụng SA trên lúa mạch, ngô, lúa mì, đậu xanh (Vũ Tiến Bình và cs.), dưa chuột (Nguyễn Thị Phương Dung và cs.), và đậu đũa (Trần Anh Tuấn và cs.).
  • Giới thiệu giống lạc L18: Giống do Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Đậu đỗ chọn lọc quần thể từ dòng lạc nhập nội số 7, được công nhận chính thức năm 2009. L18 thuộc dạng hình thực vật Spanish, thân cứng, chiều cao 35-45 cm, thời gian sinh trưởng 120-130 ngày (vụ Xuân) và 100-105 ngày (vụ Thu đông), tiềm năng năng suất 50-70 tạ/ha, khối lượng 100 quả đạt 168-178 g, tỷ lệ nhân 69-71%.

Chương 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết địa điểm thực nghiệm tại nhà lưới Bộ môn Sinh lý thực vật - Học viện Nông nghiệp Việt Nam (tháng 5 đến tháng 9/2021). Mô tả quy chuẩn vật liệu gồm giống L18, các dạng phân bón (đạm urê 46% N, supe lân 16% P2O5, kali clorua 60% K2O, vôi bột CaO). Trình bày cách thức phối trộn giá thể (tỷ lệ cát:đất), kỹ thuật bón phân chậu, các đợt chăm sóc xới xáo (3 lần), phương pháp ngắt nước gây hạn khi quả hình thành, quy trình đo đạc các chỉ tiêu hình thái, sinh lý (diện tích lá, chỉ số diệp lục SPAD), chỉ tiêu sâu bệnh theo QCVN 01-57:2011/BNN&PTNT, các thông số cấu thành năng suất và phương pháp tính toán thống kê.

Chương 4: Kết quả và thảo luận

Chương này phân tích các dẫn liệu thực nghiệm thu được từ 6 công thức thí nghiệm:

  • Động thái tăng trưởng chiều cao thân chính: Thân chính tăng trưởng liên tục từ 35 ngày sau mọc đến khi thu hoạch. Tại thời điểm 35 ngày sau gieo (trước khi gây hạn), chiều cao dao động từ 27,2 cm đến 34,6 cm. Khi quả chín, hạn hán làm giảm chiều cao thân chính đáng kể: công thức hạn không phun SA (H1SA1) có chiều cao thấp nhất (57,0 cm). Việc xử lý SA giúp cải thiện chiều cao thân cây trong điều kiện hạn: H1SA2 đạt 61,0 cm và H1SA3 đạt 58,8 cm; ở điều kiện đủ nước, H0SA3 đạt 63,1 cm và H0SA2 đạt 62,5 cm (so với H0SA1 đạt 58,9 cm).
  • Động thái tăng trưởng chiều dài cành cấp 1: Ở giai đoạn quả chín, cành cấp 1 ở công thức H1SA1 ngắn nhất, chỉ đạt 60,4 cm. Các công thức hạn có xử lý SA giúp cành phát triển dài hơn: H1SA2 đạt 65,8 cm và H1SA3 đạt 66,3 cm. Trong điều kiện đủ nước, H0SA3 đạt cành dài nhất với 70,1 cm (H0SA1 đạt 61,2 cm).
  • Động thái ra lá trên thân chính: Hạn hán làm giảm số lá tích lũy. Khi thu hoạch, công thức H1SA1 đạt số lá thấp nhất là 21,3 lá/cây. Phun SA làm tăng số lá ở các công thức bị hạn: H1SA2 đạt 22,4 lá/cây và H1SA3 đạt 24,0 lá/cây. Công thức đủ nước phun SA 2 lần (H0SA3) đạt số lá cao nhất với 25,0 lá/cây (đối chứng H0SA1 đạt 23,0 lá/cây).
  • Động thái ra hoa: Cây lạc bắt đầu nở hoa từ ngày thứ 24 sau gieo ở tất cả các công thức, sau 4-6 ngày thì bước vào giai đoạn nở hoa rộ. Tổng số hoa nở trên cây dao động từ 42,4 đến 62,0 hoa/cây. Trong đó, công thức H0SA2 có tổng số hoa cao nhất (62,0 hoa/cây), tiếp theo là H0SA3 (59,8 hoa/cây), H0SA1 (57,8 hoa/cây), H1SA3 (52,6 hoa/cây), H1SA1 (50,4 hoa/cây) và thấp nhất là H1SA2 (42,4 hoa/cây).
  • Diện tích lá: Trước khi gây hạn 1 tuần, diện tích lá dao động hẹp từ 2,4 đến 2,9 dm2/cây. Sau khi tưới nước phục hồi 2 tuần, diện tích lá tăng vọt ở tất cả các công thức. Việc bổ sung SA giúp phục hồi bộ lá tốt hơn: H1SA1 chỉ đạt 6,3 dm2/cây, trong khi H1SA2 đạt 6,9 dm2/cây và H1SA3 đạt 7,7 dm2/cây. Ở công thức đủ nước, H0SA3 đạt diện tích lá cao nhất với 8,3 dm2/cây.
  • Tích lũy chất khô và năng suất: Hạn hán kìm hãm tích lũy chất khô và năng suất quả. Tuy nhiên, xử lý SA giúp cây bù đắp đáng kể: tích lũy chất khô ở công thức hạn không phun SA (H1SA1) chỉ đạt 41,5 g/cây, nhưng khi phun SA 1 lần (H1SA2) tăng lên 43,4 g/cây và phun SA 2 lần (H1SA3) đạt 46,94 g/cây. Năng suất cá thể của cây lạc bị hạn tăng dần tương ứng: H1SA1 đạt 31,9 g/cây, H1SA2 đạt 32,8 g/cây và H1SA3 đạt 33,7 g/cây.
Chỉ tiêu theo dõi (Lúc quả chín / Thu hoạch) H0SA1 (Đủ nước, không SA) H0SA2 (Đủ nước, SA 1 lần) H0SA3 (Đủ nước, SA 2 lần) H1SA1 (Hạn, không SA) H1SA2 (Hạn, SA 1 lần) H1SA3 (Hạn, SA 2 lần) Sai khác ý nghĩa (LSD0,05)
Chiều cao thân chính (cm) 58,9 62,5 63,1 57,0 61,0 58,8 2,1 (H*SA)
Chiều dài cành cấp 1 (cm) 61,2 67,1 70,1 60,4 65,8 66,3 1,9 (H*SA)
Số lá trên thân chính (lá/cây) 23,0 23,5 25,0 21,3 22,4 24,0 1,9 (H*SA)
Tổng số hoa nở (hoa/cây) 57,8 62,0 59,8 50,4 42,4 52,6 -
Diện tích lá sau tưới phục hồi (dm2/cây) 6,3 7,8 8,3 6,3 6,9 7,7 0,5 (H*SA)
Tích lũy chất khô (g/cây) - - - 41,50 43,40 46,94 -
Năng suất cá thể (g/cây) - - - 31,9 32,8 33,7 -

Kết quả và đóng góp

Khóa luận cung cấp các bằng chứng thực nghiệm định lượng về khả năng chống chịu hạn của giống lạc L18 dưới tác động của chất kích kháng axit salicylic:

  • Định lượng hóa tác hại của hạn: Khi bị hạn ở giai đoạn phát triển quả mà không được xử lý SA (công thức H1SA1), sinh trưởng sinh dưỡng và sinh thực của cây bị suy giảm nghiêm trọng nhất: chiều cao cây chỉ đạt 57,0 cm, chiều dài cành cấp 1 đạt 60,4 cm, số lá đạt 21,3 lá/cây, diện tích lá sau phục hồi chỉ đạt 6,3 dm2/cây, khối lượng chất khô tích lũy dừng ở mức 41,5 g/cây và năng suất cá thể thấp nhất trong các công thức đạt 31,9 g/cây.
  • Hiệu quả giảm thiểu bất lợi của axit salicylic: Phun SA ngoại sinh thể hiện vai trò bảo vệ và kích thích phục hồi rõ rệt. Xử lý SA 2 lần trước hạn (H1SA3) mang lại hiệu quả vượt trội hơn so với xử lý 1 lần (H1SA2):
    • Tăng khả năng tích lũy chất khô của cây bị hạn từ 41,5 g/cây (không phun SA) lên 43,4 g/cây (phun 1 lần) và đạt 46,94 g/cây (phun 2 lần).
    • Tăng năng suất cá thể ở điều kiện hạn từ 31,9 g/cây lên 32,8 g/cây (phun 1 lần) và 33,7 g/cây (phun 2 lần).
    • Cải thiện tốc độ phục hồi diện tích quang hợp của bộ lá sau khi tưới nước trở lại, đạt 7,7 dm2/cây (ở công thức H1SA3) so với 6,3 dm2/cây (ở công thức H1SA1).
  • Kiến nghị kỹ thuật canh tác: Tác giả đề xuất định hướng áp dụng biện pháp phun bổ sung axit salicylic ngoại sinh như một giải pháp can thiệp kỹ thuật trước các thời kỳ dự báo xảy ra thiếu nước hoặc khô hạn cục bộ nhằm giảm thiểu thiệt hại về năng suất quả cho người sản xuất lạc.
  • Đóng góp khoa học: Khóa luận đóng góp dẫn liệu thực nghiệm cụ thể trên giống lạc L18 chọn tạo tại Việt Nam, làm sáng tỏ thêm cơ sở ứng dụng của nhóm hợp chất phenol điều hòa sinh trưởng trong nông học, nối tiếp các công bố trước đó về SA trên cây họ đậu và cây rau màu.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tồn tại một số hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện thực nghiệm:

  • Nghiên cứu mới dừng lại ở quy mô thí nghiệm chậu vại đặt trong điều kiện nhà lưới bán tự nhiên, chưa tiến hành khảo nghiệm trực tiếp ngoài đồng ruộng với các điều kiện thổ nhưỡng, tiểu khí hậu phức tạp và ẩm độ đất biến động tự nhiên.
  • Thí nghiệm mới khảo sát trên một giống lạc duy nhất (L18) trong một vụ gieo trồng (vụ Hè Thu từ tháng 5 đến tháng 9), chưa so sánh phản ứng chịu hạn giữa nhiều giống có phổ di truyền khác nhau.
  • Dải nồng độ SA khảo nghiệm còn hẹp, chưa khảo sát ngưỡng nồng độ tối ưu chi tiết hơn cũng như các phương thức xử lý khác (như xử lý ngâm hạt giống trước khi gieo kết hợp phun lá).

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng khảo nghiệm đồng ruộng diện rộng để đánh giá tương tác giữa các chế độ tưới nước, liều lượng phân bón và thời điểm phun SA đến năng suất thực thu và hiệu quả kinh tế.
  • Phân tích sâu hơn các chỉ tiêu hóa sinh như hàm lượng proline, malondialdehyde (MDA), hoạt độ các enzyme chống oxy hóa (CAT, SOD, POD) và khả năng giữ nước của mô lá để giải thích thấu đáo cơ sở sinh lý phân tử của tính chịu hạn ở giống lạc L18.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Giảng viên, sinh viên và học viên cao học ngành Nông học, Khoa học cây trồng, Sinh lý thực vật: Cung cấp tài liệu tham khảo về phương pháp luận thiết kế thí nghiệm hai nhân tố (hạn và nồng độ chất kích kháng) bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB), quy trình xử lý số liệu bằng IRISTAT và cách thức theo dõi các chỉ tiêu nông học từ giai đoạn mọc đến thu hoạch.
  • Cán bộ kỹ thuật nông nghiệp và khuyến nông: Tham khảo các thông số kỹ thuật về giống lạc L18 (mật độ, phân bón khoáng, thời gian sinh trưởng) và cơ sở thực nghiệm để xây dựng quy trình canh tác ứng phó với hạn hán cục bộ trong vụ gieo trồng Hè Thu/Thu Đông.
  • Phần đáng tham khảo nhất: Hệ thống số liệu chi tiết về động thái tăng trưởng chiều cao thân chính, chiều dài cành cấp 1, diện tích lá phục hồi và năng suất cá thể của cây lạc dưới các công thức kết hợp độ ẩm và tần suất phun SA tại Chương 4.

Câu hỏi thường gặp

1. Thí nghiệm gây hạn cho cây lạc được thực hiện ở giai đoạn sinh trưởng nào và theo tiêu chí nào?
Gây hạn được tiến hành ở công thức H1 vào giai đoạn quả phát triển (giai đoạn quả chắc, tính khoảng 7 ngày sau khi tắt hoa). Tiêu chí gây hạn là ngừng tưới nước hoàn toàn và theo dõi cho đến khi xuất hiện trên 50% số lá bị héo rũ do mất sức trương thì mới tiến hành tưới nước trở lại để phục hồi.

2. Giống lạc L18 sử dụng trong nghiên cứu có nguồn gốc từ đâu và mang những đặc điểm nông học cơ bản nào?
Giống lạc L18 do Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Đậu đỗ (Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm / Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam) chọn lọc quần thể từ dòng lạc nhập nội số 7, công nhận chính thức năm 2009. Giống thuộc dạng hình Spanish, thân cứng, cao 35-45 cm, vỏ lụa màu hồng, thời gian sinh trưởng 120-130 ngày (vụ Xuân) và 100-105 ngày (vụ Thu đông), tiềm năng năng suất đạt 50-70 tạ/ha, khối lượng 100 quả đạt 168-178 g và tỷ lệ nhân đạt 69-71%.

3. Tác động của việc phun axit salicylic đến khả năng tích lũy chất khô của cây lạc bị hạn diễn ra như thế nào?
Hạn hán làm giảm khả năng tích lũy chất khô, nhưng việc phun SA giúp gia tăng sinh khối khô rõ rệt. Cụ thể ở các cây bị hạn: công thức đối chứng không phun SA chỉ đạt 41,5 g/cây; khi phun SA 1 lần trước hạn 1 tuần đạt 43,4 g/cây; và khi phun SA 2 lần (trước hạn 2 tuần và 1 tuần) tích lũy chất khô đạt mức cao nhất là 46,94 g/cây.

4. Axit salicylic ảnh hưởng thế nào đến năng suất cá thể của cây lạc trong điều kiện hạn?
Xử lý SA giúp hạn chế sự suy giảm năng suất do thiếu nước gây ra. Trong điều kiện gây hạn, năng suất cá thể của cây không phun SA đạt 31,9 g/cây; công thức phun SA 1 lần đạt 32,8 g/cây; và công thức phun SA 2 lần đạt 33,7 g/cây.

5. Động thái ra hoa của các công thức thí nghiệm có đặc điểm gì giống và khác nhau?
Tất cả các công thức thí nghiệm đều bắt đầu nở hoa vào ngày thứ 24 sau gieo và bước vào giai đoạn hoa nở rộ sau đó 4-6 ngày. Điểm khác nhau nằm ở tổng số hoa nở: công thức đủ nước phun SA 1 lần (H0SA2) đạt tổng số hoa cao nhất (62,0 hoa/cây), trong khi công thức hạn phun SA 1 lần (H1SA2) đạt tổng số hoa thấp nhất (42,4 hoa/cây); công thức hạn phun SA 2 lần (H1SA3) đạt 52,6 hoa/cây.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Thúy Quỳnh đã đánh giá một cách có hệ thống tác động bất lợi của hạn hán và vai trò phục hồi của axit salicylic đối với sinh trưởng, sinh lý và năng suất của giống lạc L18. Kết quả nghiên cứu chứng minh hạn hán tại thời kỳ hình thành quả làm suy giảm nghiêm trọng chiều cao cây, cành cấp 1, số lá, diện tích quang hợp và năng suất cá thể, nhưng việc xử lý axit salicylic ngoại sinh (đặc biệt là nghiệm thức phun 2 lần trước khi gây hạn) đã kích thích sinh trưởng, tăng lượng chất khô tích lũy lên 46,94 g/cây và cải thiện năng suất cá thể lên 33,7 g/cây. Đây là nguồn dẫn liệu học thuật thực nghiệm có giá trị, đóng góp cơ sở sinh lý tin cậy cho việc nghiên cứu và hoàn thiện các biện pháp canh tác lạc bền vững trong điều kiện tài nguyên nước hạn chế.