ĐẶT VẤN ĐỀ Chăn nuôi gia cầm từ lâu đã gắn bó với đời sống của người nông dân và đóng một vai trò quan trọng trong việc cung cấp thịt, trứng cho nhu cầu tiêu dùng của xã hội. Theo số liệu thống kê của 3 năm (2016-2018) của Cục Chăn nuôi thì tổng sản lượng thịt gia cầm chiếm 17,5-19% so với tổng sản lượng thịt các loại, tăng trưởng bình quân qua 3 năm đạt 6,83%; thịt gà tăng trưởng bình quân 6,46%, trong đó thịt gà nuôi công nghiệp tăng trưởng bình quân là cao nhất 8,89%; thịt thủy cầm tăng cao tới 8,09% trong đó thịt vịt tăng 8,75%, ngan tăng trưởng bình quân 5,49%, ngỗng tăng trưởng cao nhất là gần 22%. Sản lượng thịt gia cầm đạt gần 1,1 triệu tấn, thịt gà gần 840 ngàn tấn chiếm 76,5%, thịt thủy cầm gần 258 ngàn tấn chiếm 23,5%. Hiện nay, nhu cầu sử dụng các thực phẩm an toàn và có chất lượng tốt, giảm thiểu các chất không có lợi cho sức khỏe của người tiêu dùng ngày càng tăng, đặc biệt đối với các loại thực phẩm sử dụng hàng ngày như thịt và trứng.
Trứng gà là một loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, dễ chế biến và được sử dụng trong nhiều món ăn hàng ngày, tuy nhiên, do có hàm lượng cholesterol cao, nếu sử dụng nhiều, hàng ngày sẽ có nguy cơ mắc các bệnh tim mạch, vì vậy, để tăng khả năng sử dụng trứng trong các bữa ăn hàng ngày cần phải nâng cao chất lượng trứng bằng việc tạo ra sản phẩm trứng có hàm lượng cholesterol thấp hơn, đây là một trong những vấn đề cấp thiết của ngành chăn nuôi. Một trong các giải pháp đem lại hiệu quả và an toàn là sử dụng các chủng vi sinh vật hữu ích kết hợp với sử dụng các chế phẩm từ các thực vật có nguồn gốc tự nhiên để nâng cao sức đề kháng vừa giúp cải thiện chất lượng trứng như cải thiện màu lòng đỏ trứng, giảm hàm lượng cholesterol trong trứng. 1 Carotenoid là nhóm chất cần phải có trong thức ăn cho gà đẻ, ngoài tác dụng cung cấp chất tiền vitamin A, carotenoid còn là chất chống oxi hóa sinh học để bảo vệ tế bào, buồng trứng, làm tăng năng suất và sản lượng trứng. Tuy nhiên nguồn nguyên liệu chủ yếu trong thức ăn chăn nuôi như ngô, sắn, cám gạo v.v… hàm lượng carotenoid thấp chưa đáp ứng đủ nhu cầu, do đó, gia cầm thường bị thiếu sắc tố vàng nên sức đề kháng yếu, dễ sinh bệnh tật, giảm tỷ lệ đẻ và chất lượng trứng thấp.
Trong số các vi sinh vật có khả năng tổng hợp carotenoid thì nấm men đỏ Rhodotorula có khả năng sản xuất carotenoid trong đó có β-carotene đã được nghiên cứu sản xuất ở quy mô công nghiệp. Trong số các thực vật vật biển ở nước ta, rong Mơ là loài rất phổ biến và có chứa các hợp chất với các đặc tính hypocholesterolemic, hypolipidemic như các axit béo không bão hòa đa, polysaccharide (agar, carrageenans, axit alginic và fucans) và sterol (fucosterol, desmosterol, sargasterol), estigmasterol và β- sitosterol và nhiều hoạt chất sinh học quý khác có các tác động tích cực với các quá trình sinh lý, chuyển hóa trong cơ thể người và động vật. Chế phẩm sinh học VNUA-VP18 với thành phần chủ yếu từ bột rong Mơ và nấm men đỏ Rhodotorula là một sản phẩm đã được tạo ra từ đề tài khoa học nhằm cải thiện, nâng cao chất lượng trứng gà, việc nghiên cứu sử dụng thích hợp trong thức ăn cho gà đẻ là một nhiệm vụ cấp bách, vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Ảnh hưởng của chế phẩm sinh học VNUA-VP18 đến năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ Ai Cập” 1. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI - Đánh giá sản lượng trứng, chất lượng trứng lô ĐC và TN của gà Ai Cập Lai - Đánh giá hiệu quả sử dụng thức ăn 2 PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 GIỚI THIỆU VỀ GIỐNG GÀ ĐẺ AI CẬP TRẮNG Gà siêu trứng ai cập lông trắng là một giống gà có nguồn gốc từ vùng Ai Cập và được nhân giống từ lâu.
Gà Ai Cập có tầm vóc trung bình, con cái có thân hình nhỏ nhẹ. Gà này có chân cao, rất nhanh nhẹn, thịt săn chắc và ngon, chúng có bộ lông trắng, chân chì, cổ dài, lông đuôi mào cờ đỏ tươi, da trắng, chân màu vàng. Đây là giống gà cao sản và cho năng suất cao về trứng. Gà mái lúc 19 tuần tuổi chỉ đạt hơn 1kg đến 1,5kg, lúc này nó đã bắt đầu đẻ.
Gà có khả năng chống chịu bệnh tật tốt, chịu được kham khổ, có thể nuôi nhốt hoặc thả vườn. Ghép gà trống với gà mái theo tỷ lệ 1/8 đến 1/10. Gà đẻ chỉ cho năng suất cao trong vòng một năm đầu. Theo một số tài liệu giống Gà Ai Cập cho năng suất trứng đạt 250-280 quả/mái/năm, trung bình từ 200-210 trứng/năm.
Sản lượng trứng chỉ đạt 141 quả, năng suất trứng có thể đạt 195-205 quả ở mức 72 tuần tuổi, tỷ lệ đẻ trứng cao, thời kỳ sinh sản đạt tỷ lệ 85% trong đó khoảng trên 80% trứng to và đều.Trứng chúng rất ngon, ngon hơn các loại trứng gà khác, tỷ lệ lòng đỏ cao, trứng có tỷ lệ lòng đỏ chiếm 34%. Như vậy, giống Gà Ai Cập trắng cho năng suất và chất lượng trứng tốt, đáp ứng được nhu cầu về sản xuất trước mắt cũng như về lâu dài.2 KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA GIA CẦM Sinh sản là chỉ tiêu cần được quan tâm lâu dài trong công tác giống gia cầm, nhằm tăng số lượng và chất lượng con giống. Các tính trạng sinh sản như: tuổi thành thục sinh dục, năng suất trứng, khối lượng trứng, tỷ lệ ấp nở…là khác nhau giữa giống hướng trứng với giống hướng thịt và giống kiêm dụng. 3 Khả năng sinh sản của gia cầm phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: yếu tố di truyền, giống, dòng, thức ăn, chăm sóc nuôi dưỡng, chế độ chiếu sáng, phương thức nuôi,.1 Các chỉ tiêu đánh giá khả năng đẻ trứng - Tuổi thành thục sinh dục Tuổi thành thục sinh dục là tuổi mà gia cầm mái đẻ quả trứng đầu tiên, gia cầm trống đạp mái có thể cho trứng thụ tinh, Tuổi thành thục sinh dục sớm hay muộn do yêu tố di truyền quy định.
Tuy vậy, tuổi thành thục sinh dục của gia cầm trống ít có ý nghĩa còn đối với gia cầm mái lại có ý nghĩa rất quan trọng trong chăn nuôi. Theo Brandsch and Bilchel (1978) cho biết tuổi đẻ quả trứng đầu và khối lượng cơ thể có tương quan nghịch. Ngoài yếu tố giống thì sự khác nhau về phương thức nuôi dưỡng, chế độ chiếu sáng (là mùa vụ đối với chăn thả tự nhiên) có ảnh hưởng tới tuổi đẻ đầu của gia cầm Gia cầm đẻ càng sớm thì càng có khả năng đẻ trứng nhiều và hiệu quả kinh tế càng cao. Nhưng nếu đẻ quá sớm thì ảnh hưởng đến khối lượng trứng, thời gian khai thác trứng giảm đi vì khi đó gia cầm chưa đạt đến khối lượng nhất định.
Tuổi đẻ quả trứng đầu tiên phụ thuộc vào nhiều yếu tố ngoài yếu tố di truyền đó là chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng trong giai đoạn hậu bị, cần phải chăm sóc gia cầm giai đoạn hậu bị sao cho tuổi đẻ quả trứng đầu tiên phù hợp với sự phát triển của cơ thể, đạt khối lượng theo yêu cầu của giống để khi đẻ gia cầm vừa cho năng suất cao vừa đạt khối lượng trứng theo yêu cầu lại có thời gian khai thác trứng dài. Trong một đàn giống gia cầm quần thể, tuổi đẻ của đàn giống được xác định là lúc đàn đẻ được 5% tổng số cá thế mái trong đàn. Tuổi đẻ từng giống khác nhau thì khác nhau. Gia cầm hướng trứng có tuổi đẻ sớm hơn gia cầm kiêm dụng và hướng thịt.
- Năng suất trứng Năng suất trứng là chỉ tiêu quan trọng nhất đối với gia cầm hướng trứng, 4 và cũng là chỉ tiêu quan trọng đối với gia cầm kiêm dụng và hướng thịt. Đồng thời đây cũng là đặc điểm sinh vật học quan trọng nhất đối với con mái và là chỉ tiêu kinh tế quan trọng để đánh giá hiệu quả kinh tế của chăn nuôi. Năng suất trứng là số trứng gia cầm mái đẻ ra trong một đơn vị thời gian. Thông thường người ta tính năng suất trứng cho một năm, cũng có khi tính năng suất trứng trong một năm sinh học (365 ngày hoặc 500 ngày kể từ khi gia cầm nở ra).
Các hãng gia cầm nổi tiếng trên thế gới như Shaver, Lohman. sản lượng trứng tính phổ biến nhất dến 70, 80 tuần tuổi. Năng suất trứng phụ thuộc vào loài, giống, đặc điểm cá thể, hướng sản xuất, tuổi, chế độ dinh dưỡng, các điều kiện ngoại cảnh khác. Theo Fairful and Growe (1990), khi điều kiện môi trường thích hợp (nhiệt độ, ánh sáng, dinh dưỡng.) nhiều gen tham gia điều khiển tất cả các quá trình liên quan đến sản xuất trứng hoạt động cho phép gia cầm phát huy được đầy đủ tiềm năng di truyền của chúng.
- Tỷ lệ đẻ Là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá sức sản xuất trứng. Tỷ lệ đẻ tính bằng tỷ lệ phần trăm giữa khối lượng trứng đẻ ra của đàn gà thương phẩm và số gà có mặt tại thời điểm đó. Cường độ đẻ trứng phụ thuộc vào chu kỳ đẻ trứng, chu kỳ đẻ trứng chính là thời gian gia cầm đẻ liên lục không ngắt quãng. Một số chỉ tiêu về chất lượng trứng Khối lượng trứng Khối lượng trứng là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng trứng và cả sản lượng trứng tuyệt đối của gia cầm.
Hai giống gà có sản lượng trứng giống nhau nhưng khối lượng trứng khác nhau thì tổng khối lượng trứng rất khác nhau, do đó ảnh hưởng đến thu nhập, sản lượng và giá cả (Bùi Hữu Đoàn và CS, 2011). Khối lượng trứng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như loài, giống, hướng sản xuất, cá thể, chế độ dinh dưỡng, tuổi gà mái, khối lượng gà 5 mái. Sản lượng trứng có hệ số di truyền tương đối cao (h 2 > 0,6). Khối lượng trứng tăng dần từ khi đẻ bói, cho đến khi đẻ đỉnh cao thì ổn định.
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khối lượng trứng gà. Gà đẻ sớm trứng sẽ nhỏ, tuổi càng cao khối lượng trứng càng lớn. Chế độ chiếu sáng cũng ảnh hưởng đến khối lượng trứng gà. Dinh dưỡng cũng ảnh hưởng rõ rệt đến khối lượng trứng gà.
Nhiều nghiên cứu cho thấy khi khẩu phần ăn thiếu lysine hoặc methionine hay thiếu cả hai axit amin này khối lượng trứng gà sẽ giảm rõ rệt. Thiếu lysine ảnh hưởng chủ yếu đến lòng đỏ, còn thiếu methionine ảnh hưởng chủ yếu tới lòng trắng. Thiếu vitamin B ảnh hưởng tới sản lượng trứng, thiếu vitamin D ảnh hưởng tới độ dày của vỏ trứng.