Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Đặc điểm sinh trưởng và khả năng cho thịt của lợn 1. Đặc điểm sinh trưởng Sinh trưởng là quá trình tích luỹ chất hữu cơ trong quá trình đồng hoá và dị hoá là sự tăng lên về chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của từng bộ phận và toàn cơ thể.
Phát dục là quá trình thay đổi về chất lượng, tăng thêm, hoàn chỉnh thêm các tính chất chức năng của cơ quan bộ phận cơ thể. Cai sữa sớm cho lợn con là vấn đề mà nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Thông thường đối với các giống lợn ngoại người ta thực hiện cai sữa vào lúc 21-28 ngày tuổi, thay vì tập quán cai sữa 40 - 50 ngày tuổi. Để lợn con cai sữa cần phải có khẩu phần ăn đặc biệt và dựa vào thể trạng lợn con.
Cai sữa muộn làm ảnh hưởng tới khoảng cách giữa 2 lứa đẻ và ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất sinh sản của lợn nái. Muốn có hiệu quả chăn nuôi lợn nái cao thì phải cai sữa sớm cho lợn ở giai đoạn từ 21-28 ngày tuổi có khối lượng trung bình đạt 6,6 - 7,0 kg, khi đó khả năng tiêu hóa thức ăn của lợn con đã hoàn thiện, thức ăn dùng cho lợn con tập ăn thành phần dinh dưỡng phải gần như thành phần của sữa mẹ, để đảm bảo tốc độ sinh trưởng của lợn con sau cai sữa. - Giai đoạn lợn con theo mẹ Giai đoạn này, nguồn dinh dưỡng của lợn con phụ thuộc vào lượng sữa tiết ra từ cơ thể lợn mẹ, nếu thức ăn cung cấp cho lợn mẹ không tốt, dinh dưỡng không cân đối dẫn đến lợn con thiếu sữa heo con còi cọc chậm lớn ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển các giai đoạn sau. Thành phần dinh dưỡng 4 trong sữa mẹ giảm dần trong khi đó nhu cầu lượng sữa cho lợn con tăng lên hàng ngày.
Do đó, lượng sữa mẹ không đáp ứng được nhu cầu cho lợn con nên cần phải cho lợn con tập ăn sớm. Sau 7 ngày tuổi, bắt đầu phải cho lợn con làm quen với thức ăn tập ăn bổ sung, thức ăn bổ sung cho lợn con tập ăn phải đảm bảo cân đối dinh dưỡng tương đương với thành phần dinh dưỡng của sữa lợn mẹ, đảm bảo có mùi, màu hấp dẫn lợn con thích ăn được bổ sung hàng ngày theo nhu cầu của lợn con tránh xa tầm ăn của mẹ đảm bảo theo dõi chính xác lượng thức ăn của lợn con tập ăn hàng ngày. Trong thực tế chăn nuôi lợn nái sinh sản hiện nay, sau khi sinh cần quan tâm nhất là tỷ lệ lợn con mắc bệnh tiêu chảy trong giai đoạn theo mẹ. Lợn con tiêu chảy làm tăng tỷ lệ chết, tăng tỷ lệ còi cọc của lợn con, làm giảm số con cai sữa dẫn đến giảm năng suất chăn nuôi lợn nái.
Việc bổ sung chế phẩm sinh học, có tác dụng hạn chế bệnh tiêu chảy ở lợn con. Lợn con tập ăn rất dễ bị tiêu chảy do hệ tiêu hoá chưa phát triển hoàn thiện, cơ thể còn yếu. Hội chứng tiêu chảy còn khá phổ biến ở lợn nuôi trong các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ và các trang trại nhỏ, hệ thống chuồng hở, đặc biệt khi thời tiết thay đổi thất thường. Gây thiệt hại kinh tế không nhỏ nếu không có biện pháp phòng trị kịp thời và hiệu quả.
Đặc điểm sinh trưởng phát dục của lợn thịt được chia làm 3 giai đoạn: • Giai đoạn 1: Từ lúc bắt đầu đưa vào nuôi thịt đến 7-25 kg Giai đoạn này lợn con chuyển từ thức ăn tập ăn sang thức ăn thông thường. Lợn con sinh trưởng phát dục nhanh, đặc biệt là hệ cơ và xương, cơ quan tiêu hoá đã hoàn chỉnh, khả năng tiêu hoá thức ăn tốt nhưng trong tuần đầu còn bị ảnh hưởng của việc thay đổi thức ăn nên khả năng tiêu hoá hấp thu thức ăn có thể còn kém. Giai đoạn này thức ăn đòi hỏi về chất lượng. Hàm lượng protein trong khẩu phần là 16,8% - 17,5%.
Đối với lợn ngoại nuôi hướng nạc có thể tăng mức protein trong khẩu phần lên từ 5%-10%, canxi 5 0,8%, photpho 0,6%, vật chất khô trong khẩu phần. Ngoài ra cần phải cân đối thành phần các chất khoáng như Fe, Cu và vitamin các loại. • Giai đoạn 2 (giai đoạn lợn choai): từ 25 - 60 kg Giai đoạn này cơ thể phát triển mạnh, hệ cơ phát triển mạnh nhất. Cuối giai đoạn này, thì lợn bắt đầu tích luỹ mỡ nhất là đối với lợn lai ngoại x nội.
Cơ quan tiêu hoá đã phát triển hoàn chỉnh, có khả năng sử dụng nhiều loại thức ăn khác nhau. Tuy nhiên, để tránh lợn béo sớm cần tránh sử dụng các loại thức ăn giàu năng lượng với tỷ lệ % trong khẩu phần thấp. Lượng thức ăn từ 1,2-2,1kg thức ăn hỗn hợp/con/ngày. Protein thô trong khẩu phần chiếm 13-15%, canxi cần 0,6-0,7%, photpho cần 0,4-0,5% vật chất khô.
• Giai đoạn 3 (giai đoạn vỗ béo) từ 60 kg-xuất chuồng Tốc độ phát triển xương và cơ kém trong khi đó khả năng tích luỹ mỡ tăng dần nhất là tháng cuối cùng. Tính thèm ăn giảm dần nên cần tác động cho lợn ăn nhiều hơn. Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng lớn do lợn tích mỡ mạnh và nhất là giai đoạn cuối cùng. Lượng thức ăn cần 2,1-3,5kg thức ăn/con/ngày, nhu cầu protein thấp từ 13-14,5%, canxi chiếm 0,5-0,6%, photpho 0,4-0,5%.
Các chỉ tiêu đánh giá sinh trưởng và những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng + Khối lượng bắt đầu nuôi thịt: Khối lượng bắt đầu nuôi thịt có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tăng trọng sau này. Nếu đàn lợn nào có khối lượng khi bắt đầu đưa vào nuôi thịt cao thì trong quá trình nuôi lợn sẽ tăng trọng nhanh hơn những đàn có khối lượng nhỏ hơn. Khối lượng khi đưa vào nuôi thịt phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: tuổi đưa vào nuôi thịt, trình độ chăm sóc lợn con theo mẹ và lợn con cai sữa, kỹ thuật chế biến thức ăn cho lợn con tập ăn cũng như thức ăn cho lợn con cai sữa. 6 + Kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng lợn thịt : Đối với chăn nuôi lợn thịt, khâu chăm sóc quản lý không đòi hỏi cao như đối với lợn nái và lợn con.
Tuy nhiên để đàn lợn nuôi tăng trọng cao trong một thời gian ngắn thì nhất định phải chú ý đến một số điểm sau : Cung cấp đầy đủ thức ăn cả về số lượng và chất lượng theo nhu cầu của đàn lợn nuôi. Cung cấp nước sạch cho lợn theo nhu cầu. Do lợn nuôi theo hướng công nghiệp nên đòi hỏi lượng nước là rất lớn. Nếu chất lượng nguồn nước cung cấp không đảm bảo sẽ mang theo các tác nhân gây bệnh, hoặc làm giảm khả năng sinh trưởng của lợn nuôi.
Trong quá trình nuôi dưỡng phải đảm bảo vệ sinh chuồng trại thường xuyên. Tạo cho vật nuôi một không gian sống thoáng mát. Có lịch phun sát trùng chuồng trại một cách định kỳ nhằm hạn chế sự tồn tại của mầm bệnh trong khu vực chăn nuôi. Theo dõi sát sự sinh trưởng, phát triển của đàn lợn nuôi.
Nếu phát hiện cá thể nào bị bệnh cần kịp thời cách ly, chẩn đoán và điều trị bệnh kịp thời. + Khối lượng kết thúc nuôi thịt: Khối lượng kết thúc nuôi thịt phụ thuộc vào đặc điểm của giống, khả năng tăng trọng của lợn nuôi. Tuỳ theo đặc điểm của từng giống lợn mà định ra khối lượng kết thúc nuôi khác nhau. Lợn ngoại và lợn có máu ngoại có khối lượng kết thúc nuôi cao hơn so với lợn nội.
Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu về probiotic 1. Khái niệm probiotic Theo ngôn ngữ Hi Lạp, probiotic có nghĩa là “vì sự sống”. Thuật ngữ probiotic được Parker đề nghị sử dụng lần đầu tiên vào năm 1974 để chỉ “những vi sinh vật và những chất làm cân bằng hệ vi sinh vật ruột”. Từ đó đến nay, thuật ngữ probiotic đã được sử dụng rộng rãi trên thế giới để chỉ 7 những chế phẩm VSV sống hữu ích, khi được đưa vào cơ thể động vật thông qua thức ăn hoặc nước uống tạo nên những ảnh hưởng có lợi cho vật chủ.
Kể từ khi xuất hiện, khái niệm probiotic vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất. Tuy nhiên, hiện có hai định nghĩa được cho là phản ánh khá đầy đủ bản chất của probiotic và được sử dụng nhiều trong các ấn phẩm khoa học. Theo Fuller (1989)[32], probiotic là “chất bổ sung vi sinh vật sống vào thức ăn giúp cải thiện cân bằng của hệ vi sinh vật đường tiêu hóa theo hướng có lợi cho vật chủ”; Theo tổ chức y tế thế giới WHO (2001), probiotic là “các vi sinh vật sống khi đưa vào cơ thể theo đường tiêu hoá với một số lượng đủ sẽ đem lại sức khoẻ tốt cho vật chủ”. Hệ vi sinh vật ruột và sức khỏe của hệ thống tiêu hóa ở vật nuôi Hiện nay, trong dinh dưỡng gia súc hiện đại, sức khoẻ của hệ tiêu hoá đang là vấn đề được cả thế giới quan tâm.
Một khẩu phần ăn lý tưởng sẽ không có nhiều ý nghĩa đối với một hệ tiêu hóa không lành mạnh. Sức khoẻ của hệ tiêu hoá ở vật nuôi phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó sự cân bằng của hệ vi sinh vật cộng sinh có ý nghĩa quyết định. Khi còn ở trong bào thai, đường tiêu hoá của vật nuôi ở trạng thái vô trùng, nhưng chỉ vài giờ sau khi sinh, các vi sinh vật đã bắt đầu cư trú và trở thành những “cư dân” bình thường trong đường tiêu hoá. Theo thời gian, do tiếp xúc trực tiếp với môi trường, đặc biệt là qua thức ăn và nước uống, số lượng và tính đa dạng sinh học của các vi sinh vật cộng sinh không ngừng tăng lên.
Số lượng tế bào vi sinh vật cư trú trong đường tiêu hóa của vật nuôi có thể cao gấp 10 lần số lượng tế bào cấu tạo nên cơ thể chúng. 8 Số lượng loài có thể lên tới từ 400-500. Tuy nhiên, mật độ vi sinh vật ở các phân đoạn khác nhau của đường tiêu hóa (dạ dày; tá tràng; ruột non và ruột già) ở loài động vật dạ dày đơn rất khác nhau (khoảng 101-103; 101-104; 105-108 và 109-1012 cfu/ml chất chứa tương ứng). Sức khỏe của hệ thống tiêu hoá ở vật nuôi phụ thuộc vào 3 yếu tố chính: trạng thái sinh lý của vật chủ, khẩu phần thức ăn và hệ vi sinh vật.
Các yếu tố này chịu tác động của môi trường, của các stress và tác động qua lại lẫn nhau.