Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu về cây keo giậu 1. Tên gọi Keo giậu là một cây thuộc bộ họ đậu, sống ở vùng 0nhiệt đới, có tên khoa học là Leucaena leucocephala (Lam) de - Wit. Tên gọi “Le1ucaena” là danh pháp quốc tế gọi chung cho loài cây này.
Ngoài ra, keo giậu còn có các tên khác như: Leucaena Glauca (Wind) Benth, Mimosa leucocephala Lam, Mimosa glauca L, Acacia glauca (L. Ở các quốc gia khác nhau, keo giậu còn có các tên khác nhau. Ở Trung Mỹ, keo giậu có tên là Huakin; Moxico và Tây Ban Nha gọi là Guaje; Philippine gọi là Ipil - ipil; Ấn Độ gọi là Kubabul hoặc Subabul; Inđonexia gọi là Lamtoro; Hawaii gọi là Kao haole; Trung Quốc gọi là Yin hue huan và Quần đảo Thái Bình Dương gọi là Tanggantangan…. Ở Việt Nam, keo giậu được phân bố ở khắp nơi trên đất trung du và đồng bằng từ Bắc vào Nam, tỉnh nào cũng có keo giậu và keo giậu đã trở thành cây mọc tự nhiên ở một số địa phương (Nguyễn Đăng Khôi, 1979 [16]).
Ở các địa phương khác nhau, keo giậu cũng có các tên khác nhau. Miền Bắc gọi là keo giậu; Miền Trung gọi là táo nhơn; Miền Nam gọi là bình linh. Giống keo giậu mọc hoang ở nước ta thuộc kiểu Hawaii (Dương Hữu Thời và cs, 1982 [30]), năng suất không cao (Ngô Văn Mận, 1977 [22]). Nguồn gốc lịch sử Keo giậu được xác định có nguồn gốc từ Trung Mỹ và Mexico (NAS, 1984) [92].
Phần lớn các vùng đất này có độ cao trung bình dưới 1500m so với mặt biển, đất nửa khô hạn, hơi kiềm hay axít nhẹ. Năm 1965, Người Tây Ban Nha đưa keo giậu từ Mexico vào Philippin để trồng làm thức ăn cho đàn dê của họ (Brewbaker, 1985 [56] ; Oakes, 1968) [93]. Cuối thế kỷ VXII và đầu thế kỷ XIX, keo giậu đã được đưa tới các nước nhiệt đới 5 ven bờ biển Thái Bình Dương: Inđonexia, Malaysia, Paypua New Guinea, Tây và Nam Phi (NAS, 1984) [92]. Keo giậu được nhập vào Hawaii, Fijii, bắc Austrailia, Ấn Độ, Đông Phi, vùng biển Caribbean.
Đông Nam Á là vùng phát triển keo giậu tương đối sớm và nhiều. Trong những năm 70 của thế kỷ XX, các nước Ấn Độ, Inđonexia, Philippin, Thái Lan đã trồng nhiều keo giậu và sử dụng chúng như một nguồn thức ăn trong chăn nuôi. Phân loại Keo giậu thuộc giới thực vật (Botany), ngành thực vật có hoa (Flowering Botany), lớp 2 lá mầm (Dicotyledom), bộ đậu (Leguminosales), họ trinh nữ (Mimosacea), chi Leucaena, Loài Leucaena leucocephala là quan trọng nhất. Đến nay người ta đã phát hiện thấy có trên 18.
Các loài keo giậu khác nhau có sự khác nhau về độ cao, hình dáng (phenotype), tuổi thành thục, sức sống và năng suất. Sự khác nhau này phản ánh tính không đồng nhất về kiểu gen giữa các loài keo giậu. Người ta chia keo giậu thành 3 kiểu chính: - Kiểu keo giậu Hawaii: Tầm vóc cây bé và đỉnh tròn, chiều cao từ 5 - 8m, lá, quả và hạt to, cây ra hoa kết trái 2 vụ trong năm, cây thích ứng với vùng khô hạn và ven biển nhiệt đới. - Kiểu keo giậu Salvado: Kiểu này cao và mảnh, chiều cao có thể đạt tới 20m và đường kính thân có thể tới 40cm, thân phân cành ít, lá chép, quả có hạt lớn và dày, ra hoa và kết hạt 1 - 2 lần/năm.
Kiểu này bao gồm tất cả các tập đoàn keo giậu lớn như giống K (K8, K28, K67). - Kiểu keo giậu Peru: Chiều cao đạt tới 10 - 15m, đường kính thân cây từ 5- 10cm, sinh trưởng nhanh, phân cành ngay từ gốc, cành nhỏ, lá to và nhiều, hình thành nên đỉnh lá lớn. Đây là kiểu tiềm năng lớn cho thức ăn gia súc, bắt đầu ra hoa lúc 6 - 12 tháng tuổi, cây ra hoa 1 lần/năm. Đặc tính sinh học của keo giậu Keo giậu là một loài cây có biên độ sinh thái rộng, thích ứng với kiểu vùng khí hậu nhiệt đới, có khả năng kết hợp với các loài vi khuẩn Rhizobium và nấm 6 Mycorrhiza cộng sinh nên có thể chịu hạn, sử dụng có hiệu quả nước và muối khoáng nằm sâu trong đất, cũng như nitơ trong không khí để tạo ra bộ lá giầu protein, vitamin, khoáng vi lượng (NAS,1984 [92]).
Những vi khuẩn này Rhizobium này có khả năng hấp thu một số lượng lớn nitơ hoặc hợp chất vô cơ chứa nitơ. Hầu hết nitơ được cố định trong rễ cây đều tìm thấy trong lá và hạt của cây. Do sự giầu có về protein mà keo giậu có thể sử dụng như một nguồn phân hữu cơ có thể cải tạo và tăng độ phì nhiêu trong đất. Ngoài ra, lá và hạt keo giậu còn được sử dụng như một nguồn thức ăn cho động vật và hạt keo giậu còn được sử dụng như một nguồn thức ăn protein cho con người, như ở Trung Mỹ, Inđonexia và Thái Lan.
Keo giậu cũng có một số hạn chế về sinh trưởng và sâu bệnh như: - Lạnh, sương muối và nhiệt độ thấp hơn 100 0C. - Đất chua và có pH ≤ 5. - Giai đoạn đầu dễ bị cỏ dại lấn áp. - Keo giậu ít bị sâu bệnh, chỉ bị bệnh thối rễ, bệnh nấm ở thân, quả và hạt và bị bọ nhảy phá hoại.
Năng suất chất xanh Keo giậu có khả năng sinh trưởng rất nhanh và có khả năng sản sinh ra một khối lượng lớn cành, lá, hoa, quả và hạt mà động vật đều có thể sử dụng làm thức ăn. Người ta còn sử dụng những phần non và lá của keo giậu để chế biến thành bột khô để làm thức ăn cho gia súc, gia cầm, nhất là vào mùa khô khan hiếm thức ăn xanh. Bởi bột này, chứa nhiều vitamin tự nhiên, đặc biệt là caroten và sắc tố vàng cung cấp cho vật nuôi. Trong bột keo giậu còn có vitamin E, C và caroten là những chất chống oxy hóa, ngăn cản tích tụ cholesterol trong máu, ngoài ra còn chứa các chất chống viêm nhiễm và bài tiết chất độc cho động vật như quinol và phenol.
Chính vì vậy, bột cỏ nói chung và bột keo giậu nói riêng được nhiều nước trên thế giới quan tâm sử dụng làm thức ăn chăn nuôi. Ở Việt Nam, keo giậu là loài cây dễ trồng và dễ thích nghi, năng suất chất xanh và vật chất khô khá cao, phù hợp với nhiều loài động vật nên được nhiều nhà 7 khoa học trong nước quan tâm nghiên cứu để đưa vào thực tiễn sản xuất chăn nuôi. Bùi Xuân An và Ngô Văn Mận (1981) [1] cho biết, khi được bón lót 10 tấn phân chuồng/ha và bón thúc bằng 30 kg N, 60 kg P2O5, 40 kg K2O/ha đã đưa năng suất chất khô đạt 4 tấn/ha/năm, trong đó, số lượng lá chiếm tới 46 %. Nguyễn Bách Việt (1994) [48] đã cho biết, năng suất chất khô của keo giậu Peru trồng tại Trại thực tập trường Đại học Nông Nghiệp I ở năm đầu là 10,12 tấn/ha; năm thứ hai là 12,46 tấn/ha.
Lê Thị Hòa Bình và cộng sự (1990) [4] đã khảo sát năng suất của các giống keo giậu Ipil - ipil, Đồng Mô, Ba Vì hạt lớn, Ba Vì hạt nhỏ, Peru và Ấn Độ. Kết quả khảo sát cho thấy, các giống Ba Vì hạt lớn, Ipil - ipil và Ấn Độ cho năng suất chất xanh cao, lần lượt là 45,05; 43,35 và 40,20 tấn/ha/năm, tương đương khoảng 10. Tuy nhiên, về mùa khô, keo giậu sinh trưởng kém, chỉ đạt gần 50 % so với mùa mưa. Riêng giống Ba Vì hạt lớn, sinh trưởng ở mùa đông có ưu thế hơn các giống khác.
Nguyễn Ngọc Hà (1996) [8] đã thử nghiệm trồng khảo sát tốc độ sinh trưởng của keo giậu trên các loại đất khác nhau cho biết, trong số 12 loài được khảo sát thì loài keo giậu Leucaena leucocephala có nhiều ưu điểm hơn cả. Tốc độ sinh trưởng đạt 1,26 cm/ngày, cao hơn 2 lần tốc độ sinh trưởng trung bình của 12 loài khảo sát. Tác giả cũng cho biết, năng suất chất khô trung bình của keo giậu là 11,5 tấn/ha/năm. Giống Peru - Cunnigham có năng suất chất khô là 13,36 tấn/ha/năm, cao hơn giống Salvador - Mỹ là 3,62 tấn.
Tuy nhiên, năng suất chất khô của keo giậu còn phụ thuộc khá nhiều vào độ chua của đất, vì ở đất chua khả năng cộng sinh của vi khuẩn Rhyzobium với keo giậu kém, làm cho keo giậu thiếu đạm, năng suất thấp. Từ các kết quả nghiên cứu trên cho thấy, keo giậu là một loại cây có khả năng sinh trưởng nhanh, cho năng suất chất xanh cao, giầu protein, vitamin, sắc tố và các khoáng vi lượng rất phù hợp trong chăn nuôi. Tuy nhiên, năng suất của keo giậu còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: pH, độ phì của đất, lượng mưa, cường độ bức xạ mặt trời, nhiệt độ…và các đặc tính của từng loài, giống keo giậu. Thành phần hóa học của bột lá keo giậu Thành phần các chất dinh dưỡng có trong keo giậu vừa phong phú vừa rất biến động và phụ thuộc vào nhiều yếu tố.
Nhìn chung các kết quả phân tích cho thấy, keo giậu là một loại cây giàu protein, khoáng, vitamin và các chất sắc tố. * Protein Hàm lượng protein thô trung bình trong bột lá keo giậu biến động từ 24,0 - 34,4 %, trong hỗn hợp cành và lá từ 10 - 30 % VCK. Như vậy, hàm lượng protein trong BLKG là khá cao và có thể so sánh với bột cỏ Medi (là một cây họ đậu có hàm lượng protein cao (Garcia và cs, 1996) [72]. Hàm lượng protein cũng biến động giữa các phần của cây.
Lá non của keo giậu chứa nhiều protein và có khả năng tiêu hóa cao, lá ở đỉnh ngọn có hàm lượng protein cao nhất từ 28,4 - 30,0 % VCK (Deshumkh và cs, 1987) [63]. Ronia và cs (1979) [104] cho biết, hàm lượng protein trong lá non cao gấp 1,5 lần so với lá già, các phần lá phân bố ở giữa có hàm lượng protein là 23,8 - 28,2 % VCK, phần lá bên dưới có hàm lượng protein là 17,4 - 24,1 % VCK. Người ta nhận thấy, protein của lá và hạt keo giậu khá giầu các axit amin không thay thế như isoleucin, leucin, phenylalanin và histidin, còn hàm lượng lysin và methionin ở mức tương đối thấp so với một số loại thức ăn có nguồn gốc động vật. Dhamothiran và cs (1991) [64] cho biết, hàm lượng protein thô trong hạt keo giậu là 21,3 % VCK, còn Shejav và Prasad (1995) [106] cho rằng, hàm lượng protein thô trong hạt đạt 32,3 % VCK.
Keo giậu trồng tại Việt Nam có hàm lượng protein thô khá cao. Lê Thị Hòa Bình và cs (1990) [4] cho biết, hàm lượng protein thô trong lá keo giậu trồng tại Việt Nam dao động từ 20,8 - 26,6 % VCK.