Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI BÒ THỊT TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 1. Tình hình chăn nuôi bò thịt trên thế giới Chăn nuôi gia súc trên toàn thế giới có xu hướng tăng trong những năm trở lại đây, cụ thể số lượng gia súc toàn thế giới năm 2010 là 1,416 tỷ gia súc thì năm 2016 là 1,475 tỷ gia súc, tăng 59 triệu, theo http://www. Số lượng và mức tiêu thụ thịt bò Số lượng bò trên thế giới theo USDA thống kê năm 2016 là 998.313 nghìn con, trong đó tập trung nhiều nhất tại Ấn Độ là 303.350 nghìn con chiếm 30.39%; thứ 2 là Brazil với 226.037 nghìn con chiếm 22.64% và thứ 3 là Trung Quốc với 100.085 nghìn con chiếm 10,03%, cụ thể trong bảng 1.
Bảng xếp hạng mười nước đứng đầu thế giới về số lượng bò năm 2016 ĐVT: 1000 con Xếp hạng Nước Số lượng bò năm 2016 % so với thế giới 1 Ấn Độ 303,350 30,39% 2 Brazil 226,037 22,64% 3 Trung Quốc 100,085 10,03% 4 Mỹ 93,500 9,37% 5 EU 89,250 8,94% 6 Argentina 53,515 5,36% 7 Úc 27,750 2,78% 8 Nga 18,430 1,85% 9 Mexico 16,500 1,65% 10 Thổ Nhĩ Kỳ 14,047 1,41% Các nước còn lại 55,849 5,58% Tổng cả thế giới 998.313 100% Nguồn:USDA, 2016 Theo USDA năm 2016 cả thế giới đã tiêu thụ 129,5 tỷ pound tương đương 58,275 tỷ kg thịt bò, trung bình mỗi người tiêu thụ là 7,83 kg/người/năm. Trong đó 5 Uruguay tiêu thụ thịt bò bình quân đầu người cao nhất trên thế giới, sau đó là Argentina và Hồng Kông. Người Việt Nam tiêu thụ 2,57 kg thịt bò/người/năm. Riêng Pháp trong những năm qua thì lượng tiêu thụ thịt bò có giảm 2-3%/năm, trung bình mỗi năm Pháp tiêu thụ 1,55 triệu tấn thịt bò, trung bình một người Pháp tiêu thụ 1,5 kg thịt mỗi tuần tương đương 78,21 kg/người/năm.
Các nhà dinh dưỡng ở Pháp khuyến nghị chỉ nên dùng 500 gam trong một tuần, vì ăn quá nhiều sẽ gây bệnh về tim mạch và béo phì. Bên cạnh đó, các nhà bảo vệ môi trường và rừng của Pháp cũng đã đưa ra các con số cảnh báo như: Để sản xuất ra 1 kg thịt bò cần 323 m2 đất và 15.000 lít nước, gây ô nhiễm môi trường do phân gia súc và phát thải khí nhà kính, cứ sản xuất ra 1 kg thịt thì chịu trách nhiệm cho việc phát thải ra 34,2 kg CO2 (Theo https://www. Tiêu thụ thịt bò trên thế giới theo quốc gia năm 2016 Tiêu thụ Dân số Mức tiêu thụ Xếp hạng Nước (Pound/nước) (người/nước) thịt bò (kg/người) 1 Uruguay 427. Giống bò thịt Những giống bò thịt nổi tiếng đều có nguồn gốc từ châu Âu như giống Charolais, Limousin của Pháp; Hereford, Shorthorn, Angus của Anh, Simmental 6 của Thụy Sĩ, BBB của Bỉ.
Sau này, các giống chuyên thịt khác cho vùng nhiệt đới và á nhiệt đới được tạo ra từ bò Brahman (có u) với các giống bò chuyên thịt châu Âu (không có u) như Santa Gertrudis, Brangus, Braford, Beefmaster (Mỹ), Brahmousin, Chabray (Pháp); Droughtmaster (Úc). Đặc điểm nổi bật của giống bò chuyên dụng thịt là có thân hình to, con cái trưởng thành nặng từ 500 - 800 kg; con đực trưởng thành nặng từ 900 - 1.400 kg, tỷ lệ thịt xẻ đạt từ 60 - 65%, thích nghi với nuôi chăn thả và vỗ béo. Giống bò nuôi lấy thịt ở các nước khu vực châu Á là các giống bò địa phương nhiệt đới có u và không có u kiêm dụng cày kéo, thịt và sữa. Một số nước vùng Trung và Nam Á có giống bò năng suất cao như bò Red Sindhi, Sahiwal, Tharparkar (theo Trịnh Văn Tuấn, 2015) 1.
Tình hình chăn nuôi bò thịt ở Việt Nam Trong 3 năm gần đây chăn nuôi bò phát triển ổn định và có xu hướng tăng. Chăn nuôi bò thịt tăng lên do nhiều doanh nghiệp đang thực hiện và hoàn thiện các dự án chăn nuôi bò quy mô lớn, nhu cầu thị trường có cả trong nước và xuất khẩu tiểu ngạch sang Trung Quốc. Theo Cục chăn nuôi (2016) tại thời điểm 01/10/2016 đàn bò có gần 5,5 triệu con, tăng 2,4%, trong đó đàn bò sữa là 282,9 nghìn con, tăng 2,8% so với cùng kỳ năm trước, còn lại là bò thịt. Đàn bò phát triển tốt, góp phần tăng thu nhập và tích lũy cho người dân.
Những năm gần đây, quá trình cơ giới hóa nông thôn đã chuyển mục đích nuôi bò từ cày kéo sang mục đích sản xuất thịt và sữa. Mặc dù vậy, chăn nuôi bò vẫn giữ vị trí quan trọng trong hệ thống sản xuất nông nghiệp, vì những lý do sau: - Là vật nuôi xóa đói, giảm nghèo bền vững, có khả năng thích nghi cao với các vùng sinh thái khác nhau. - Tăng sản phẩm thịt cho xã hội. - Tăng thu nhập cho người chăn nuôi.
- Giải quyết sức kéo cho những vùng chưa có điều kiện cơ giới hóa, đặc biệt là vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa và vùng khó khăn. - Khai thác và tận dụng hiệu quả nhất nguồn thức ăn sẵn có, các phụ phẩm nông nghiệp và công nghiệp chế biến (bỗng rượu, bia, bã sắn, mía.) để tạo ra những sản phẩm có giá trị cho xã hội. - Cung cấp phân bón cho trồng trọt, là nguồn phân bón tốt nhất trong các loại 7 phân gia súc. - Góp phần giải quyết việc làm cho lao động nông nhàn, người già, trẻ em và kết hợp việc đi làm đồng với chăn nuôi bò.
- Người Hmông đã kết hợp rất tốt việc đi làm trên nương với “Chăn nuôi bò trên lưng”. Số lượng bò Tổng đàn bò của Việt Nam đến ngày 01/10/2016 cả nước có khoảng 5,5 triệu con bò các loại, trong đó đàn bò thịt khoảng 5,2 triệu con. Số lượng bò có biến động qua các năm và theo các vùng sinh thái có sự khác biệt lớn. Từ năm 2010 đến năm 2013 số lượng đàn bò giảm dần và bắt đầu tăng dần từ 2013 tới năm 2016.
Số lượng bò theo vùng sinh thái qua các năm 2010 - 2016 ĐVT: 1000 con Năm Vùng 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 Cả nước 5.496 Đồng bằng sông Hồng 621 589 501 478 492 496 493 Trung du và miền núi phía Bắc 1.057 914 891 879 889 943 958 Bắc Trung Bộ và Duyên hải 2.238 Miền trung Tây Nguyên 690 684 651 655 660 685 717 Đông Nam Bộ 696 324 293 269 250 376 377 Đồng bằng sông Cửu Long 678 654 615 627 654 689 711 Nguồn: Tổng cục thống kê, 2015 và Cục chăn nuôi, 2016 1. Năng suất và sản lượng thịt bò Ở vùng núi phía Bắc hiện nay có 3 giống bò chính đang được người dân nuôi nhiều đó là bò vàng, bò lai (lai Sind, Droughtmaster, Bradman. Bò vàng: có tầm vóc bé, sinh trưởng chậm và tỷ lệ thịt thấp. Bò vàng 24 tháng tuổi con cái đạt 150 - 160 kg, con đực đạt 175 - 190 kg.
Tăng khối lượng bình quân từ sơ sinh đến 24 tháng tuổi đạt 190 - 220 g/con/ngày, tỷ lệ thịt tinh thấp từ 32 - 33% (Lê Quang Nghiệp, 1984). Khối lượng trưởng thành thấp và tỷ lệ thịt tinh 8 thấp nên sản lượng thịt tinh của một bò thịt chỉ đạt từ 50 - 60 kg. Bò lai Sind: Bò đực lai Sind là bò kiêm dụng trưởng thành nặng 400-450 kg. Bò cái 250-300 kg, bê sơ sinh nặng 18-20 kg.
Sản lượng sữa bình quân 800- 1.000 lít/chu kỳ, cá biệt có những con trong một chu kỳ vắt sữa cho đến trên 2. Ngày cao nhất có thể đạt 8-10 lít sữa/con/ngày. Tỷ lệ mỡ sữa rất cao 5,1-5,5%. Tỷ lệ đẻ khá, khoảng cách lứa đẻ 13 tháng.
Tỷ lệ thịt xẻ đạt gần 50%. So với bò Vàng, bò lai Sind có khối lượng tăng 30-35%, sản lượng sữa tăng gấp 2 lần. Từ năm 2010 đến năm 2016, sản lượng thịt tăng chậm với tốc độ tăng bình quân là 6,39 - 6,95%/năm, thấp hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng bình quân của thịt lợn (20,66%/năm) và thịt gia cầm (11,36%). Tổng sản lượng thịt bò hơi năm 2014 của Việt Nam là 293 nghìn tấn, bình quân đầu người là 3,23 kg/người/năm; năm 2015 là 299 nghìn tấn, bình quân đầu người là 3,26 kg/người/năm (Tổng cục thống kê, 2015) và năm 2016 là 308 nghìn tấn, bình quân đầu người là 3,27 kg/năm (Cục chăn nuôi, 2016), trong khi trung bình của thế giới là khoảng 7,8 kg/người/năm (USDA, 2016).
Sản lượng thịt bò hơi bình quân theo đầu người qua các năm Năm Chỉ tiêu 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 Sản lượng thịt bò hơi 278 287 294 285 293 299 308 (1.000 tấn) Dân số 86.000 người) Sản lượng theo đầu 3,21 3,27 3,31 3,18 3,23 3,26 3,27 người (kg/năm) Nguồn: Tổng cục thống kê, 2015 và Cục chăn nuôi, 2016 1. Xu hướng chăn nuôi bò thịt Trong những năm trở lại đây, xu hướng phát triển chăn nuôi bò chuyển dịch từ lấy sức kéo sang nuôi lấy thịt, từ chăn nuôi quảng canh sang chăn nuôi tập trung, chăn nuôi quy mô nhỏ lẻ chuyển sang quy mô lớn, tập trung hơn. Người dân, các THT, HTX, doanh nghiệp đã biết áp dụng TBKH kỹ thuật trong việc quản lý giống, trồng cây thức ăn, phối trộn khẩu phần, phòng trừ dịch bệnh và liên kết lại để phát triển chăn nuôi bò bền vững hơn. Bên cạnh việc chăn nuôi có tổ chức lại, thì khâu 9 lưu thông, vận chuyển và khâu giết mổ, bảo quản, phân phối cũng được quan tâm đầu tư hơn.
Các cơ sở, các khu giết mổ được hình thành có sự tham gia của tư nhân. Hệ thống siêu thị, nhà hàng cùng các cửa hàng thực phẩm có xu hướng tìm nguồn thịt bò chất lượng ổn định, chăn nuôi hướng an toàn, sinh thái, hữu cơ, đồng thời phải đảm bảo các tiêu chuẩn về cơ sở chăn nuôi, an toàn vệ sinh thú ý và ATTP. Thông tin về nguồn gốc xuất xứ, kỹ thuật chăn nuôi chăn nuôi, giết mổ, bảo quản ngày càng được minh bạch hơn với người tiêu dùng. Một số tỉnh đã và đang xây dựng thương hiệu cho sản phẩm bò và thịt bò như Cao Bằng, Hà Giang, Đắk Lắk, Gia Lai và Phú Yên.
Từ năm 2014 tới nay đã có một số doanh nghiệp đầu tư, xây dựng và phát triển trang trại chăn nuôi bò thịt với qui mô lớn 10-20 nghìn con, chủ yếu họ nhập bò từ các nước về vỗ béo 3-4 tháng sau đó bán tại thị trường nội địa, các doanh nghiệp lớn phải kể đến là Hoàng Anh Gia Lai; Lê Dũng Linh – Quảng Bình; Công ty cổ phần chăn nuôi Bình Hà - Hà Tĩnh; Công ty Trung Đồng, tại Đồng Nai; Trang trại Út Huy ở Long An.Tại Quảng Bình, công ty Hòa Phát đang đầu tư xây dựng trang trại 20 nghìn con bò. Tai Quảng Nin, công ty Phú Lâm đang có dự án đầu tư nuôi 40 nghìn con.