CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1- Lịch sử sử dụng thuốc bảo vệ thực vật. Từ thời Hy Lạp và La Mã cổ đại con người đã nói đến việc sử dụng một số chất hoá học để diệt côn trùng. Homer đã nói tới tác dụng của Lưu huỳnh bằng cách xông hơi, Pliny cũng dã đề cập đến việc diệt côn trùng bằng Asen và xử lý hạt rau giống bàng Dầu ôliu và Soda. Vào đầu thế kỷ 19, người ta đã dùng Pyrethrum (được chiết xuất từ một loại hoa cúc khô) phối họp với Thuốc lá, Lưu huỳnh, Vôi dược dùng để diệt côn trùng và nấm.
Cuối thế kỷ 19, người ta mới nghiên cứu có hệ thống vi ệc s ử d ụng hoá ch ất b ảo v ệ mùa màng. Năm 1867 các họp chất của Asen như Asenua đồng được nghiên cứu và sử dụng rộng rãi ở Hoa Kỳ dể diệt loài gián. Đến năm 1900 người ta bắt đầu ban hành các điều luật qui định sử dụng hoá chất trừ sâu và đây có lẽ là điều luật đầu tiên trên thế giới về hoá chất trừ sâu. Từ chiến tranh thế giới lần thứ nhất tới nay, Hoá chất trừ sâu (Pesticide) được nghiên cứu và ứng dụng rất nhiều trên thế giới.
Trong quá trình nghiên cứu và phát triển, thời kỳ đầu các Hoá chất trừ sâu được sử dụng hầu hết là các chất sẵn có trong tự nhiôn như hợp chất vò cơ (Hợp chất Asen, Fluor, Sulfur) và các sản phẩm thực vật (Nicotin, Pyrethrum, Rotenon) là những họp chất tiêu biểu cho cái gọi là thế hệ thứ nhất của thuốc trừ sâu, thời kỳ thứ hai được đại diện bời các họp chất tổng hợp, mà đại diện liêu biểu nhất là DDT được Seidler tổng họp năm 1874, tác dụng diệt côn trùng của nó được P.Muller phát hiện năm 1936 và được bán ra th ị tr ường năm 1945. T ừ đó, nhiều loại Hoá chất trừ sâu lân hữu cơ, clo hữu cơ và các chất tổng họp khác dã dược tổng hợp và sử dụng trên toàn thế giới [ 58], 1.2- Khái niệm và phân loại thuốc bảo vệ thục vật. Xuất phát từ thuật ngữ “Pesticide” của tiếng Anh có nghĩa là hoá chất để diệt loài gây hại. Dịch sang liếng Việt các tác giả sử dụng nhi ều thuật ngữ khác nhau nh ư: Hoá ch ất tr ừ sâu [58], thuốc trừ sâu, hóa chất bảo vê thực vật, thuốc bảo vê thực vât [19].
5 -Khái niệm Hoá chất irừ sâu (íiCl'8) được Tố chức Nông lương thế giới (FAO, 1986) định nghĩa như sau: “Hoá chất trừ sâu là bất kỳ một chất nào hay h ỗn h ợp các ch ất nào đ ược dùng đ ể phòng, phá huỷ hay diệt bất kỳ một vật hại nào (Pest), kể cả các vector của người hay súc vật, những loại cây cỏ dại hoặc các động vật gây hại trong hoặc can thiệp trong quá trình sàn xuất, lưu kho, vận chuyển hoậc tiếp thị sản phẩm hoậc tiếp thị thực phẩm, lương thực, g ỗ và s ản ph ẩm, thức ăn gia súc [52, 58], Còn khái niệm Thuốc bảo vệ thực vật được hiểu trong phạm vi hẹp hon Hoá chất trừ sâu: ‘Thuốc bảo vệ thực vật là những họp chất độc nguồn gốc tự nhiên ho ặc l ổng h ọp hoá h ọc đ ược dùng để phòng và trừ sâu, bênh, cỏ dại, chuột. hại cây trồng và nông s ản đ ược g ọi chung là sinh vật hại cây trồng và nông sản” [19], Theo khái niệm này thì thuốc BVTV không bao gổm thuốc trừ các loài ve, bét, rệp hại vật nuôi và trừ cỏn trùng y tế, thu ốc làm rung lá cây, thu ốc di ều hoà sinh trưởng cây trổng. Theo Pháp lệnh bảo vê và kiểm dịch ngày 25-7-2001 thì “Thu ốc b ảo vệ th ực v ật là ch ế phẩm có nguồn gốc từ hoá chất, thực vật, động vật, vi sinh v ật và các ch ế ph ẩm khác dùng đ ể phòng, trừ sinh vật gây hại tài nguyên thực vật” Đây là khái niêm chu ẩn cho m ọi văn b ản, qui định. của Nhà nước về thuốc BVTV [12], -Khái niệm về dư lượng thuốc trừ sâu của FAO : Mức tổn lượng tối đa là lượng thuốc độc cao nhất, được phép tổn lưu trong nông sản mà không gây ảnh hưởng đến cơ thể người và vật nuôi khi sử dụng nông sản đó làm thức ăn, dược tính bằng số miligam chất độc trên một kilogam nông sản [52, 69].
-Khái niệm về thời gian cách ly: Thời gian cách ly của một loại hoá chất trừ sâu là thời gian chấp nhân được kể từ lúc xử lý hoá chất trừ sâu lần cu ối đ ến ngày thu ho ạch nông s ản đ ể ng ười tiêu thụ nông sản đó không bị ảnh hưởng độc hại [52], Mỗi loại thuốc khác nhau, có thời gian cách ly khác nhau, theo qui định thời gian cách ly là 20-25 ngày [10, 52].2- Phán loại chung. Có nhiều cách phân loại như: theo mức độ tác hại, phân loại dựa vào thực nghiệm trên súc vật, theo vật đích, theo cách tác động, theo cấu tạo hoá h ọc [58] và theo các d ạng thu ốc d ược s ử dụng [19]. Trong dó, phân loại theo mức độ lác hại của 6 thuốc dựa vào LD50 (Liều chết 50%) được dùng nhiều trong các nghiên cứu về sự dộc hại của thuốc BVTV.1: Phàn loại thuốc BVTV theo mức độ tác hại (WHO 1990). LD 50 (chuột) - mg/kg thể trọng Phàn loại tác hại Qua tiêu hoá Qua da Chát rắn Chất lỏng Chất rán Chất lỏng la.
Cực độc 5 hay ít hơn 20 hay ít hơn 10 hay ít hon 40 hay ít hon Ib. Độc tính cao 5-50 20 - 200 10-100 40 - 400 II. Độc tính vừa 50 - 500 200-2. Độc tính nhẹ Trên 500 Trên 2.3- Lợi ích cửa việc dùng thuốc BVTV.
Thuốc BVTV đã giúp con người tăng đáng kể sản lượng cây trồng. Theo thống kê sâu bọ gây thiệt hại khoảng 40-70 % cây trồng ở các nước đang phát triển; ỏ Nhật, Châu Âu: vào khoảng 10-30% bị thiệt hại do sâu bệnh [58], Đồng thời thuốc BVTV còn giúp tăng châì lượng sản phẩm và sức khoẻ vật nuôi được bảo đảm làm tăng thu nhập cho nông dân [58]. Thuốc BVTV còn được dùng nhiều để diệt các sinh vật trung gian truyền bênh cho người và vật nuôi như muỗi, ruồi, dán, bọ chét ,.Chỉ tính riêng bênh do muỗi truyền bệnh như: sốt rét, sốt xuất huyết, viêm não Nhật Bản.dã có phạm vi ánh hưởng đến hàng tỷ dân trên thế giới. Tất cả các lợi ích và triển vọng ứng dụng to lớn của thuốc BVTV đã tạo nên một thị trường thuốc BVTV khổng lổ.
Trên thế giới thị trường thuốc BVTV năm 1998 sử dụng 3,1 triệu tấn hoạt chất trị giá trên 20 tỷ USD, trong đó thuốc trừ cỏ dại là 8,9 tỷ USD, thuốc trừ sâu là 6,1 tỷ USD, thuốc trừ nấm bệnh là 4,2 tỷ USD và các thuốc khác là 1,3 tỷ USD [19].4- Tác động của thuốc BVTV lên sức khoẻ và môi trường. 7 Thuốc BVTV dã mang lại nhiều lợi ích rõ ràng cho sản xuất nông nghiệp và phòng trừ dịch bệnh, nhưng dồng thời nó cũng gây ra nhiều tác hại cho sức klio ỏ con ng ười và phá ho ại môi trường sống. Sử dụng thuốc BVTV là chấp nhận một trong những nhân tố gây mất ổn định cho môi trường sống [43], Tác hại của thuốc BVTV gây ra bời độc tính sẵn có trong nó, song mức dộ tác hại lại phụ thuộc vào cách mà con người sứ dựng chúng. Điều dáng chú ý là h ầu h ết các lác h ại d ược nhắc đến' hiện nay là do con người sử dụng thuốc BVTV sai và không thực hiện các biện pháp dự phòng cần thiết.
Một diếm dáng chú ý khác là các nước đang phát triển chí dùng có 20% sán lượng hoá chất sử dụng trong nông nghiệp trèn thê' giới nhưng phải gánh chịu tới 99% tỷ l ệ tử vong do nhiễm độc cấp tính thuốc BVTV (Tỷ lệ tưong ứng ở các nước phát tri ển là 80% và 1%) và t ỷ l ệ nhiễm độc cấp do thuốc BVTV ở các nước đang phát triển cũng rất đáng lo ng ại: Theo ước tính (Dharmansjah) ở Indonesia là 28%, ở Brazil (Furtao) khoảng 16% (Tỷ lệ này ở Anh là dưới 5%, ở ức là 3%, và Mỹ là 0,08%) [26]. Do vậy vấn đề nhi ễm đ ộc thu ốc BVTV là v ấn đ ề ưu tiên c ủa các nước đang phát triển chứ không còn là vấn đề ưu tiên tại các nước phát triển. Thuốc BVTV có tác hại tới sức khoẻ cộng dồng. Tác hại của thuốc BVTV tới sức khoẻ cộng đồng thông qua ti ếp xúc c ố ý và ti ếp xúc ngh ề nghiệp.
Các tiếp xúc cố ý được kể đêri là tự tử, đầu độc. Và tiếp xúc ngh ề nghi ệp bao g ồm nhi ễm độc cấp tính và mãn tính [26, 58]. Theo ước tính (J. Jeyaratnam, 1985) toàn thế giới có khoảng 3 triệu trường hợp vào vi ện hàng năm trong đó 220.000 trường họp tử vong do nhiễm dộc cấp tính thuốc BVTV.
Cũng theo ước tính cưa J. leyaratnam thì 2/3 số trường họp nhiễm dộc tiếp xúc cố ý là tự tử. Ở các nước đang phát triển nhiễm độc cố ý có dặc điểm là tỷ lệ nhiễm lớn và liều cao [58]. Tỷ lệ lử vong do nhiễm độc cố ý tại một vài năm cụ thể cao gấp 2 lần so với tử vong do sốt rét, bại liệt, ho gà, bạch hầu, uốn ván và các vấn dề truyền thống về sức khoẻ công cộng ở các nước đang phát triển [26].
Tuy nhiên vấn đề nhiễm độc cố ý có những nguyên nhân về mặt xã hội, tâm thần. rất phức lạp và khó giải quyết. Do vây vấn đề nhiễm độc do tiếp xúc nghể nghiệp có các nguyên nhân dỗ dự phòng hon được các nhà y tế công cộng quan lâm nghiên c ứu và dã gi ải quy ết có hi ệu qu ả hon. 8 Theo ước tính (ILO, 1980) hàng năm có khoảng 26,5 triệu người bị nhiỗm độc cấp tính do nghề nghiệp [26].
Nhưng những ghi nhận về nhiỗm dộc cấp tính do nghề nghiệp là rất khó khăn do phần lớn các trường hợp nhiễm dộc là nhẹ tự xứ lý dược, r ất ít tr ường h ợp đ ến b ệnh vi ện. Theo một thống kẻ ở 17 nước vào nãm 1986, tỷ lộ mắc mới hàng năm là trong kho ảng 0,3-18 trên 100.000 dân [58], Một nghiên cứu ở Thái Lan cho thấy t ỷ lê m ắc tăng cao g ấp năm l ần ch ỉ sau 10 năm (Từ 1/100. Những tổn thương cấp tính bao gồm bỏng mắt, t ổn th ương da, tác h ại th ần kinh và gan [58].