Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Cây dừa (Cocos nucifera L.) là cây công nghiệp lâu năm giữ vai trò kinh tế then chốt tại các vùng nhiệt đới ven biển. Tại Việt Nam, dừa được trồng tập trung chủ yếu ở Duyên hải miền Trung và Đồng bằng sông Cửu Long, trong đó tỉnh Bến Tre chiếm diện tích lớn nhất cả nước với 72.770 ha đến 73.997 ha, sản lượng hàng năm ước đạt trên 645.000 tấn (niên vụ 2019 - 2020). Tuy nhiên, sản xuất dừa liên tục đối mặt với áp lực từ nhiều loài dịch hại nguy hiểm như bọ cánh cứng hại dừa (Brontispa longissima Gestro), đuông dừa (Rhynchophorus ferrugineus O.), và đặc biệt là sâu đầu đen (Opisina arenosella Walker, thuộc họ Xyloryctidae, bộ Lepidoptera) – một loài dịch hại xâm lấn mới xuất hiện.
Sâu đầu đen được ghi nhận lần đầu tiên tại Việt Nam vào tháng 7 năm 2020 tại huyện Bình Đại và huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Loài sâu này cắn phá lớp biểu bì mặt dưới lá chét, thải phân và nhả tơ kết dính các mảnh vụn lá tạo thành đường hầm trú ẩn, khiến toàn bộ tàu lá bị cháy khô, làm rụng quả non và suy giảm nghiêm trọng khả năng quang hợp. Theo thống kê của Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ Thực vật tỉnh Bến Tre, tính đến tháng 6 năm 2022, diện tích nhiễm sâu đầu đen trên địa bàn toàn tỉnh đã lên tới 864,6 ha, gây thiệt hại trên 70% số lá và giảm hơn 80% năng suất ở các vườn nhiễm nặng. Trước tình hình lây lan nhanh chóng sang các vùng chuyên canh dừa như huyện Mỏ Cày Bắc, việc điều tra chính xác mức độ phân bố và đánh giá các biện pháp phòng trừ hóa học kết hợp bảo tồn thiên địch bắt mồi là yêu cầu cấp thiết.
Tác giả xác định 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Xác định hiện trạng gây hại của sâu đầu đen ở 30 vườn thuộc 3 xã Tân Thành Bình, Tân Phú Tây và Tân Bình, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.
- Xác định hiệu lực kiểm soát sâu đầu đen của 6 hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật bao gồm: Azadirachtin, Emamectin benzoate, Dinotefuran, Bacillus thuringiensis var. kurstaki, Flubendiamide và Petroleum Spray Oil 99% trong điều kiện phòng thí nghiệm.
- Xác định ảnh hưởng của 2 hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật có hiệu lực cao (Emamectin benzoate, Flubendiamide) đến khả năng sống sót của bọ đuôi kìm (Chelisoches sp.) ở các thời điểm phóng thích khác nhau.
Phạm vi và giới hạn của đề tài:
- Không gian điều tra thực địa: 30 vườn dừa tại 3 xã (Tân Thành Bình, Tân Phú Tây, Tân Bình) thuộc huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.
- Thời gian thực hiện: Từ tháng 5 năm 2022 đến tháng 10 năm 2022, trong đó công tác điều tra thực địa diễn ra vào tháng 7 năm 2022.
- Đối tượng thử nghiệm sinh học: Pha ấu trùng sâu đầu đen tuổi 2 và tuổi 5; pha ấu trùng tuổi 4 của bọ đuôi kìm vàng (Chelisoches sp. / Chelisoches variegatus). Thí nghiệm hóa học và độc học sinh thái được thực hiện tại phòng thí nghiệm Trung tâm Nông nghiệp Ứng dụng Công nghệ cao tỉnh Bến Tre.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận vận dụng hệ thống phân loại học côn trùng, độc chất học thuốc bảo vệ thực vật và nguyên lý quản lý dịch hại tổng hợp (IPM). Cơ sở lý thuyết tập trung vào đặc tính hình thái, chu kỳ sinh học của sâu đầu đen Opisina arenosella (vòng đời từ 49 - 72 ngày, giai đoạn ấu trùng trải qua 5 tuổi kéo dài 36 - 54 ngày) và bọ đuôi kìm Chelisoches variegatus thuộc họ Chelisochidae, bộ Dermaptera (ấu trùng qua 4 tuổi, vòng đời khoảng 70 ngày, có khả năng tiêu thụ 1,88 - 5,34 cá thể sâu hại/ngày). Cơ chế tác động của 6 hoạt chất thử nghiệm được phân tích rõ:
- Emamectin benzoate: Kích thích thụ thể GABA, mở kênh ion Cl- làm tê liệt thần kinh cơ.
- Flubendiamide: Kích hoạt thụ thể ryanodine, giải phóng ion Ca2+ nội bào gây co cứng cơ.
- Dinotefuran: Thuộc nhóm neonicotinoid, ức chế thụ quan nicotinic acetylcholine ở xinap thần kinh trung ương.
- Bacillus thuringiensis var. kurstaki: Độc tố sinh học phá vỡ màng ruột giữa côn trùng.
- Azadirachtin: Hoạt chất chiết xuất từ cây Neem làm rối loạn lột xác và ức chế cảm giác ăn.
- Petroleum Spray Oil 99%: Dầu khoáng làm tắc nghẽn lỗ thở, cản trở hô hấp cơ học.
Khóa luận kết hợp hai phương pháp nghiên cứu thực nghiệm chính:
-
Phương pháp điều tra dịch hại ngoài đồng ruộng:
Tiến hành theo tiêu chuẩn điều tra dịch hại và thang phân cấp hại (5 cấp: C0 đến C5) của Cục Bảo vệ Thực vật (2020). Tại 3 xã, mỗi xã chọn ngẫu nhiên 10 vườn (diện tích tối thiểu 5.000 m²/vườn). Mỗi vườn lấy 5 điểm theo 2 đường chéo góc, mỗi điểm điều tra 10 cây (tổng số 50 cây/vườn). Trên mỗi cây, thu ngẫu nhiên 30 lá chét ở giữa tán để đếm mật số sâu non và nhộng dưới kính lúp cầm tay. Các chỉ tiêu thu thập gồm: Tỷ lệ cây bị hại (%), Tỷ lệ tàu lá bị hại (%), Mật độ sâu non (con/30 lá chét), Mật độ nhộng (nhộng/30 lá chét) và Chỉ số hại (DI, %).
-
Phương pháp thử nghiệm sinh học trong phòng thí nghiệm (In vitro):
- Thí nghiệm 1 & 2 (Hiệu lực trừ sâu tuổi 2 và tuổi 5): Bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên đơn yếu tố (CRD), gồm 7 nghiệm thức (6 loại thuốc và 1 đối chứng nước), lặp lại 3 lần. Sử dụng phương pháp nhúng lá dừa sạch (cắt đoạn 10 - 13 cm) vào dung dịch thuốc trong 3 giây, để khô tự nhiên 15 - 25 phút rồi đưa vào hộp nhựa (mỗi hộp 10 ấu trùng). Đánh giá tỷ lệ chết tại các thời điểm 12, 24, 48 và 72 giờ sau xử lý. Tính toán hiệu lực theo công thức Abbott.
- Thí nghiệm 3 (Tác động đến bọ đuôi kìm tuổi 4): Bố trí CRD đơn yếu tố, 3 nghiệm thức (Emamectin benzoate 0,5 g/L, Flubendiamide 0,4 g/L, Đối chứng nước), lặp lại 3 lần. Mỗi nghiệm thức gồm 7 lá dừa nhúng thuốc, thả 50 sâu đầu đen các tuổi (10 con/tuổi từ tuổi 2 đến tuổi 6) làm thức ăn, sau đó phóng thích 20 ấu trùng bọ đuôi kìm tuổi 4 ở 3 mốc thời gian cách ly: sau xử lý thuốc 1 giờ, 24 giờ và 72 giờ. Ghi nhận tỷ lệ chết của bọ đuôi kìm tại các mốc 12, 24, 48 và 72 giờ.
Xử lý số liệu: Dữ liệu thô được tính toán trên Microsoft Excel; phân tích phương sai (ANOVA) và kiểm định phân hạng trung bình LSD bằng phần mềm RStudio. Số liệu tỷ lệ phần trăm được chuyển đổi dạng arcsin(√x) hoặc √(x + 0,5) trước khi phân tích thống kê.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương này tổng thuật toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về tình hình sản xuất dừa và dịch hại dừa:
- Sản xuất dừa toàn cầu đạt diện tích 11,57 triệu ha, sản lượng 61,5 triệu tấn vào năm 2020 (FAO, 2020), trong đó Philippines, Indonesia và Ấn Độ dẫn đầu; Việt Nam xếp thứ 6 với khoảng 163,5 - 170 nghìn ha. Tại Bến Tre, dừa công nghiệp chiếm 80 - 85%, kim ngạch xuất khẩu năm 2020 đạt 346,9 triệu USD.
- Lịch sử bùng phát của O. arenosella tại Sri Lanka, Ấn Độ, Thái Lan và Trung Quốc; mức độ tàn phá làm giảm tới 45,4% - 80% năng suất dừa.
- Các biện pháp quản lý hiện có: Hóa học (phun tán, kỹ thuật tiêm thân với góc nghiêng 45° và độ sâu 3 cm), sinh học (ong ký sinh Goniozus nephantidis, Bracon brevicornis; bọ đuôi kìm Chelisoches variegatus, Euborellia annulipes).
- Đặc điểm phân loại 8 họ bọ đuôi kìm tại Việt Nam (theo Tạ Huy Thịnh, 2009); dẫn chứng nghiên cứu của Bùi Xuân Phong (2013) và Peusens & Gobin (2008) về tác động tiêu cực của một số hoạt chất hóa học đến tỷ lệ sống và tập tính của bọ đuôi kìm.
Chương 2: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
Tác giả trình bày chi tiết điều kiện thực nghiệm, bao gồm:
- Môi trường nuôi giữ côn trùng: Nhiệt độ phòng 28 ± 2°C, độ ẩm 70 - 75%, chu kỳ chiếu sáng 12 giờ sáng : 12 giờ tối (12L:12D).
- Nguồn sâu và thiên địch: Sâu đầu đen thu thập tại xã Tân Thành Bình (tọa độ GPS 10.351745E), nhân nuôi bằng lá dừa tươi định kỳ thay 2 ngày/lần để thu thế hệ F1 đồng đều; bọ đuôi kìm Chelisoches sp. thu thập tại vườn dừa tọa độ GPS 10.351043E, nuôi trong hộp nhựa chứa mụn dừa ẩm và lá dừa khô, thức ăn là ấu trùng sâu đầu đen.
- Thông số kỹ thuật các nghiệm thức thuốc:
- NT1: Azadirachtin (0,3%), liều lượng 5 mL/L nước.
- NT2: Bacillus thuringiensis var. kurstaki (4,4 × 10⁸ CFU/mL), liều lượng 2 g/L nước.
- NT3: Dinotefuran (20%), liều lượng 0,5 g/L nước.
- NT4: Emamectin benzoate (5%), liều lượng 0,5 g/L nước.
- NT5: Flubendiamide (20%), liều lượng 0,4 g/L nước.
- NT6: Petroleum Spray Oil 99%, liều lượng 10 mL/L nước.
- NT7: Nước lã (Đối chứng).
- Quy trình bố trí thí nghiệm độc tính tiếp xúc - vị độc bằng phương pháp nhúng lá cho sâu đầu đen và phương pháp đánh giá dư lượng thuốc qua thức ăn đối với bọ đuôi kìm.
Chương 3: Kết quả và thảo luận
Chương 3 trình bày các phát hiện thực nghiệm qua 3 nội dung:
-
Hiện trạng gây hại tại huyện Mỏ Cày Bắc (tháng 7/2022):
Kết quả khảo sát 30 vườn cho thấy sâu đầu đen xuất hiện phổ biến với tỷ lệ vườn nhiễm cao. Mức độ gây hại có sự phân hóa rõ nét giữa các xã: Tân Thành Bình bị hại nặng nhất do nằm dọc nhánh sông Hàm Luông và có nhiều vườn dừa ta cao tuổi; Tân Phú Tây bị hại trung bình; Tân Bình mới nhiễm nên mức độ hại thấp hơn nhưng có xu hướng lây lan dọc Quốc lộ 57.
-
Hiệu lực trừ sâu đầu đen của 6 hoạt chất:
- Đối với ấu trùng tuổi 2: Emamectin benzoate thể hiện tác động cực nhanh, đạt hiệu lực 90,0% ngay sau 12 giờ và đạt 100% ở 72 giờ. Flubendiamide tác động chậm hơn ở giai đoạn đầu (20,0% sau 12 giờ, 66,6% sau 48 giờ) nhưng tăng mạnh lên 93,3% sau 72 giờ. Dinotefuran đạt mức khá (76,6% sau 72 giờ). Nhóm sinh học và dầu khoáng có hiệu lực thấp: Petroleum Spray Oil (26,6%), Bacillus thuringiensis (10,0%), Azadirachtin (6,6%).
- Đối với ấu trùng tuổi 5: Khả năng kháng thuốc tự nhiên của sâu tuổi lớn tăng lên rõ rệt. Sau 72 giờ, Emamectin benzoate duy trì hiệu lực cao nhất (96,6%), Flubendiamide đạt 83,3%. Dinotefuran giảm xuống còn 36,6%. Các hoạt chất B. thuringiensis, dầu khoáng và Azadirachtin chỉ đạt hiệu lực từ 6,6% đến 16,6%.
- Tác động của thuốc đến bọ đuôi kìm tuổi 4:
- Thả sau xử lý thuốc 1 giờ: Emamectin benzoate gây độc nặng cho bọ đuôi kìm, tỷ lệ chết đạt 30,0% sau 48 giờ và tăng lên 65,0% sau 72 giờ. Ngược lại, Flubendiamide thể hiện độ an toàn cao, tỷ lệ chết chỉ ở mức 3,3% sau 72 giờ (tương đương đối chứng).
- Thả sau xử lý thuốc 24 giờ và 72 giờ: Độc tính tồn lưu của Emamectin benzoate giảm dần nhưng vẫn làm chết 28,3% (thả sau 24 giờ) và 30,0% (thả sau 72 giờ) số cá thể bọ đuôi kìm sau 72 giờ theo dõi. Trong khi đó, ở cả hai thời điểm thả này, Flubendiamide duy trì tỷ lệ gây chết bọ đuôi kìm rất thấp, chỉ 3,3% sau 72 giờ theo dõi, không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê so với công thức đối chứng.
Kết quả và đóng góp
Số liệu kết quả thực nghiệm
Bảng 1: Hiện trạng gây hại của sâu đầu đen tại 3 xã thuộc huyện Mỏ Cày Bắc (tháng 7/2022)
| Xã điều tra |
Tỷ lệ cây bị hại (%) (TB ± SD) |
Tỷ lệ tàu lá bị hại (%) (TB ± SD) |
Chỉ số hại (%) (TB ± SD) |
Mật độ sâu non (con/30 lá chét) |
Mật độ nhộng (nhộng/30 lá chét) |
| Tân Thành Bình |
100 ± 0,0 |
81,3 ± 13,0 |
56,5 ± 14,0 |
28,1 ± 31,1 |
8,2 ± 7,3 |
| Tân Phú Tây |
97,0 ± 6,0 |
63,3 ± 29,2 |
38,6 ± 26,9 |
13,0 ± 8,7 |
4,0 ± 3,6 |
| Tân Bình |
96,0 ± 6,1 |
62,5 ± 26,2 |
34,8 ± 22,6 |
18,4 ± 16,5 |
2,7 ± 3,2 |
| Trung bình chung |
97,6 ± 2,1 |
69,0 ± 10,6 |
43,3 ± 11,6 |
19,8 ± 7,7 |
5,0 ± 2,9 |
(Ghi chú: n = 10 vườn/xã, tổng số 30 vườn điều tra).
Bảng 2: Hiệu lực phòng trừ (%) của 6 hoạt chất trên sâu đầu đen tuổi 2 và tuổi 5 sau 72 giờ
| Hoạt chất |
Liều lượng |
Hiệu lực trên sâu tuổi 2 (%) |
Hiệu lực trên sâu tuổi 5 (%) |
| Emamectin benzoate |
0,5 g/L |
100,0 a |
96,6 a |
| Flubendiamide |
0,4 g/L |
93,3 a |
83,3 a |
| Dinotefuran |
0,5 g/L |
76,6 a |
36,6 b |
| Petroleum Spray Oil 99% |
10 mL/L |
26,6 b |
16,6 bc |
| Bacillus thuringiensis |
2 g/L |
10,0 bc |
16,6 bc |
| Azadirachtin |
5 mL/L |
6,6 bc |
6,6 cd |
| Đối chứng (Nước) |
- |
0,0 c |
0,0 d |
(Ghi chú: Các chữ cái đi kèm trong cùng cột biểu thị sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức α = 0,05).
Bảng 3: Tác động của 2 hoạt chất đến tỷ lệ chết (%) của bọ đuôi kìm tuổi 4 sau 72 giờ theo dõi
| Nghiệm thức |
Liều lượng |
Thả sau xử lý 1 giờ (%) |
Thả sau xử lý 24 giờ (%) |
Thả sau xử lý 72 giờ (%) |
| Emamectin benzoate |
0,5 g/L |
65,0 a |
28,3 a |
30,0 a |
| Flubendiamide |
0,4 g/L |
3,3 b |
3,3 b |
3,3 b |
| Đối chứng (Nước) |
- |
0,0 b |
0,0 b |
0,0 b |
Giải pháp và kiến nghị của tác giả
- Khi bùng phát dịch sâu đầu đen, ưu tiên sử dụng hoạt chất Flubendiamide 20% (liều lượng 0,4 g/L nước) vì thuốc đạt hiệu lực diệt sâu cao (93,3% ở tuổi 2 và 83,3% ở tuổi 5 sau 72 giờ), đồng thời có tính chọn lọc cao, hầu như không gây hại cho bọ đuôi kìm (tỷ lệ chết chỉ 3,3%).
- Hạn chế sử dụng Emamectin benzoate tại các vườn dừa đang ứng dụng biện pháp phóng thích thiên địch sinh học, do hoạt chất này gây chết từ 28,3% đến 65,0% ấu trùng bọ đuôi kìm. Trong trường hợp bắt buộc phải phun Emamectin benzoate để dập dịch khẩn cấp, chỉ nên phóng thích bọ đuôi kìm sau thời điểm phun ít nhất 72 giờ để giảm thiểu tỷ lệ chết của thiên địch.
Đóng góp của đề tài
Khóa luận cung cấp bộ dữ liệu thực địa cập nhật về mức độ gây hại của sâu đầu đen tại huyện Mỏ Cày Bắc sau 2 năm loài này xâm nhiễm vào Bến Tre. Nghiên cứu xác lập bằng chứng thực nghiệm về tính chọn lọc của Flubendiamide đối với bọ đuôi kìm bản địa (Chelisoches sp.), cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng quy trình kết hợp hài hòa giữa thuốc bảo vệ thực vật và biện pháp sinh học trong quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) trên cây dừa.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận ghi nhận các hạn chế và hướng mở sau:
- Phạm vi không gian và thời gian: Số liệu điều tra dịch hại chỉ phản ánh hiện trạng tại một thời điểm duy nhất (tháng 7 năm 2022) trên địa bàn 3 xã của huyện Mỏ Cày Bắc, chưa theo dõi biến động mật số theo các mùa trong năm hoặc mở rộng ra toàn tỉnh Bến Tre.
- Điều kiện thử nghiệm: Các đánh giá hiệu lực thuốc và tác động lên thiên địch mới được thực hiện trong điều kiện phòng thí nghiệm (In vitro), chưa qua khảo nghiệm đồng ruộng diện rộng để đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố ngoại cảnh (nhiệt độ ngoài trời, ánh sáng mặt trời, mưa rửa trôi và sự phân tầng tán dừa).
- Phạm vi đối tượng sinh học: Đề tài chỉ đánh giá trên ấu trùng sâu đầu đen tuổi 2, tuổi 5 và ấu trùng bọ đuôi kìm tuổi 4; chưa đánh giá tác động của thuốc lên các pha phát triển khác (trứng, nhộng, thành trùng) cũng như các loài thiên địch quan trọng khác trong hệ sinh thái vườn dừa như ong ký sinh (Goniozus nephantidis, Bracon brevicornis).
- Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiến hành khảo nghiệm thực địa hiệu lực của Flubendiamide bằng các phương pháp phun tán cơ giới, phun bằng thiết bị bay không người lái (drone) hoặc kỹ thuật tiêm thân; tiếp tục đánh giá tác động bán trường diễn của thuốc đến khả năng sinh sản và tuổi thọ thành trùng của bọ đuôi kìm.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo chuyên môn phù hợp cho:
- Sinh viên, học viên cao học ngành Bảo vệ Thực vật, Nông học, Quản lý Sinh thái Nông nghiệp: Tham khảo chi tiết phương pháp điều tra sâu bệnh hại dừa theo tiêu chuẩn phân cấp 5 cấp của Cục Bảo vệ Thực vật; kỹ thuật thu mẫu, nhân nuôi sâu đầu đen và bọ đuôi kìm trong phòng thí nghiệm; quy trình bố trí thí nghiệm độc học sinh thái đánh giá tác động của hóa chất đến côn trùng có ích.
- Cán bộ kỹ thuật nông nghiệp, cán bộ Trạm Trồng trọt và Bảo vệ Thực vật tại các vùng trồng dừa: Tham khảo dữ liệu đối chứng về mức độ mẫn cảm của sâu đầu đen với các nhóm hoạt chất hóa học và sinh học, từ đó đưa ra khuyến cáo sử dụng thuốc bảo vệ thực vật có tính chọn lọc cao nhằm bảo vệ quần thể thiên địch tự nhiên.
Câu hỏi thường gặp
1. Xã nào tại huyện Mỏ Cày Bắc bị sâu đầu đen gây hại nặng nhất trong đợt điều tra tháng 7/2022?
Xã Tân Thành Bình bị gây hại nặng nhất với 100% số cây bị hại, tỷ lệ tàu lá bị hại đạt 81,3 ± 13,0%, chỉ số hại trung bình đạt 56,5 ± 14,0%, mật độ sâu non đạt 28,1 ± 31,1 con/30 lá chét và mật độ nhộng đạt 8,2 ± 7,3 nhộng/30 lá chét.
2. Hai hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật nào có hiệu lực diệt sâu đầu đen cao nhất trong nghiên cứu?
Đó là Emamectin benzoate (nồng độ 0,5 g/L) đạt hiệu lực 100% trên sâu tuổi 2 và 96,6% trên sâu tuổi 5 sau 72 giờ; và Flubendiamide (nồng độ 0,4 g/L) đạt hiệu lực 93,3% trên sâu tuổi 2 và 83,3% trên sâu tuổi 5 sau 72 giờ.
3. Tại sao Flubendiamide được khuyến cáo ưu tiên hơn Emamectin benzoate khi kết hợp thả bọ đuôi kìm?
Mặc dù cả hai hoạt chất đều có hiệu lực trừ sâu cao, Flubendiamide thể hiện độ an toàn cao đối với thiên địch, chỉ gây chết 3,3% bọ đuôi kìm tuổi 4 sau 72 giờ theo dõi ở tất cả các thời điểm phóng thích (1 giờ, 24 giờ và 72 giờ sau xử lý thuốc). Ngược lại, Emamectin benzoate gây độc mạnh, làm chết tới 65,0% bọ đuôi kìm khi thả sau 1 giờ và 28,3% - 30,0% khi thả sau 24 - 72 giờ.
4. Hiệu lực phòng trừ của các hoạt chất sinh học (Bacillus thuringiensis, Azadirachtin) và dầu khoáng đối với sâu đầu đen đạt mức bao nhiêu?
Trong điều kiện phòng thí nghiệm sau 72 giờ xử lý, các hoạt chất này đạt hiệu lực thấp: trên sâu tuổi 2, Petroleum Spray Oil đạt 26,6%, Bacillus thuringiensis đạt 10,0% và Azadirachtin đạt 6,6%; trên sâu tuổi 5, Petroleum Spray Oil và Bacillus thuringiensis đều đạt 16,6%, còn Azadirachtin chỉ đạt 6,6%.
5. Bọ đuôi kìm vàng và sâu đầu đen được nhân nuôi trong phòng thí nghiệm bằng phương pháp nào?
Sâu đầu đen được nuôi trong hộp nhựa (28,5 × 17 × 9,2 cm), định kỳ 2 ngày thay lá dừa tươi một lần ở điều kiện 28 ± 2°C, độ ẩm 70 - 75%, chiếu sáng 12 giờ cho đến khi thu thế hệ F1. Bọ đuôi kìm được nuôi trong hộp nhựa có lót mụn dừa ẩm và lá dừa khô, có lưới thông khí, được cho ăn trực tiếp ấu trùng sâu đầu đen hàng ngày để nuôi từ trứng lên ấu trùng tuổi 4.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Trần Quốc Đạt đã phản ánh thực trạng xâm nhiễm nghiêm trọng của sâu đầu đen (Opisina arenosella) trên các vườn dừa tại huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre vào tháng 7 năm 2022, trong đó xã Tân Thành Bình ghi nhận mức độ thiệt hại cao nhất. Nghiên cứu thực nghiệm xác định Emamectin benzoate 5% (0,5 g/L) và Flubendiamide 20% (0,4 g/L) là hai hoạt chất có hiệu lực diệt trừ sâu đầu đen vượt trội trên cả ấu trùng tuổi 2 và tuổi 5 sau 72 giờ. Đáng chú ý, Flubendiamide chứng minh được tính chọn lọc cao khi hầu như không gây hại cho ấu trùng bọ đuôi kìm tuổi 4 (Chelisoches sp.), cung cấp cơ sở thực tiễn quan trọng cho việc xây dựng chiến lược quản lý dịch hại tổng hợp kết hợp hóa học và sinh học trên cây dừa.