Giới thiệu dự án

Cây dừa (Cocos nucifera L.) là cây công nghiệp lâu năm giữ vai trò chiến lược trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), đặc biệt tại tỉnh Bến Tre với diện tích 72.770 ha và sản lượng ước đạt 630 triệu trái/năm (giá trị sản xuất công nghiệp ngành dừa đạt 5.880 tỷ đồng, chiếm 17,5% giá trị toàn tỉnh năm 2020). Tuy nhiên, từ tháng 7/2020, ngành dừa đối mặt với mối đe dọa sinh học nghiêm trọng: sự bùng phát của loài dịch hại ngoại lai xâm lấn sâu đầu đen (Opisina arenosella Walker, thuộc bộ Lepidoptera: họ Xyloryctidae). Đến tháng 6/2022, toàn tỉnh Bến Tre đã ghi nhận 864,6 ha dừa bị nhiễm, trong đó diện tích nhiễm nặng lên tới 122,42 ha, gây suy giảm hơn 70% sinh trưởng tán lá và thiệt hại trên 80% năng suất trái, mất từ 3 đến 4 năm mới có thể phục hồi khả năng cho trái.

Thực trạng canh tác dừa tại địa phương tồn tại nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng: các vườn dừa truyền thống có chiều cao thân lớn (>10-15 m), tán dừa dày đặc gây cản trở phun xịt thuốc hóa học qua tán; tập tính ấu trùng sâu đầu đen cắn phá biểu bì mặt dưới lá và kết tổ bằng tơ cùng phân hạt khiến thuốc tiếp xúc thông thường mất tác dụng; việc lạm dụng hóa chất phổ rộng làm triệt tiêu quần thể thiên địch bản địa, dẫn tới bùng phát thứ cấp và tái nhiễm trên diện rộng.

Dự án nghiên cứu được triển khai với các mục tiêu cụ thể:

  1. Điều tra, đánh giá định lượng hiện trạng và phân vùng mức độ gây hại của sâu đầu đen tại 30 vườn dừa thuộc 3 xã trọng điểm (Tân Thành Bình, Tân Phú Tây, Tân Bình) của huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.
  2. Khảo nghiệm, sàng lọc hiệu lực phòng trừ sinh học và hóa học của 6 hoạt chất bảo vệ thực vật (BVTV) đại diện cho các cơ chế tác động khác nhau đối với ấu trùng O. arenosella tuổi 2 và tuổi 5 trong điều kiện phòng thí nghiệm tiêu chuẩn.
  3. Đánh giá tính chọn lọc và mức độ an toàn độc chất học của 2 hoạt chất có hiệu lực diệt sâu cao nhất lên ấu trùng tuổi 4 của bọ đuôi kìm vàng (Chelisoches variegatus) ở các mốc thời gian cách ly (1 giờ, 24 giờ và 72 giờ sau xử lý).

Phương pháp tiếp cận dựa trên nền tảng Quản lý Dịch hại Tổng hợp (IPM), kết hợp điều tra dịch tễ học thực địa với thử nghiệm độc chất sinh học có kiểm soát, từ đó xây dựng giải pháp hóa học chọn lọc bảo vệ thiên địch. Kết quả kỳ vọng cung cấp căn cứ khoa học chính xác về hoạt chất diệt sâu đạt hiệu lực >90% sau 72 giờ và ngưỡng an toàn thiên địch (tỷ lệ chết thiên địch <5%). Phạm vi nghiên cứu tập trung vào huyện Mỏ Cày Bắc trong giai đoạn tháng 05/2022 - 10/2022, giới hạn đánh giá phòng thí nghiệm trên ấu trùng sâu tuổi 2, tuổi 5 và bọ đuôi kìm tuổi 4.

Phân tích và thiết kế giải pháp

Phân tích hiện trạng

Trước khi nghiên cứu được thực hiện, các biện pháp kiểm soát sâu đầu đen tại Bến Tre chủ yếu mang tính đối phó và phân tán.

Giải pháp hiện hữu Ưu điểm Nhược điểm / Rủi ro Hiệu quả kiểm soát
Đốn hạ & tiêu hủy tàu lá bị hại Cắt đứt nguồn lây lan tức thì, không tốn chi phí thuốc Phá hủy cấu trúc tán, làm suy kiệt cây dừa nghiêm trọng Thấp - Trung bình, chỉ xử lý cục bộ
Phun thuốc hóa học phổ rộng (Gốc lân hữu cơ/Cúc tổng hợp) Tác động nhanh, hạ gục côn trùng tức thời Gây chết thiên địch (Bracon brevicornis, Chelisoches), sâu nhanh kháng Thấp, nguy cơ tái bùng phát cao
Tiêm thân cây (Neem/Emamectin) Hạn chế trôi dạt thuốc ra môi trường Yêu cầu thiết bị khoan/tiêm chuyên dụng, nguy cơ thối thân nấm bệnh Khá, nhưng khó mở rộng quy mô đại trà
Phun vi sinh Bacillus thuringiensis bằng Drone Phủ diện tích lớn, an toàn sinh thái Hiệu lực chậm trên sâu tuổi lớn, phụ thuộc nhiệt độ và tia cực tím Trung bình, hiệu quả thấp khi dịch nặng

Phân tích yêu cầu theo mô hình MoSCoW cho hệ thống phòng trừ dịch hại:

  • Must have: Hoạt chất có hiệu lực diệt sâu non tuổi nhỏ và lớn $\ge 80%$, an toàn cho bọ đuôi kìm (độ chết $<10%$).
  • Should have: Tác động chọn lọc cao thông qua con đường vị độc/kênh ryanodine, thời gian suy giảm độc tính nhanh đối với thiên địch.
  • Could have: Tích hợp công nghệ giải phóng chậm hoặc kết hợp phun tầm thấp với bẫy bọ thiên địch.
  • Won't have: Sử dụng các hoạt chất thuộc nhóm độc I, II hoặc hóa chất tồn lưu lâu gây ô nhiễm nguồn nước mặt ĐBSCL.

Thiết kế hệ thống

Mô hình giải pháp bảo vệ thực vật tích hợp (IPM) được thiết kế đồng bộ từ khâu giám sát hiện trường đến thử nghiệm phòng thí nghiệm:

[Hệ thống Giám sát GPS & Điều tra 5 Cấp Hại] 
[Phân lập & Chuẩn hóa Nguồn Sâu O. arenosella + Thiên địch C. variegatus]
[Ma trận Sàng lọc 6 Hoạt chất BVTV (Azadirachtin, Bt, Dinotefuran, Emamectin, Flubendiamide, PSO)]
[Đánh giá Độc tính Chọn lọc lên Bọ Đuôi Kìm (Khoảng cách ly 1h - 24h - 72h)]
[Quy trình IPM Ứng dụng Thực địa: Phun chọn lọc kết hợp Thả thiên địch]

Danh mục hoạt chất và nồng độ kỹ thuật khảo nghiệm:

  1. Emamectin benzoate 5% (nồng độ xử lý 0,5 g/L nước): Tác động thông qua cơ chế kích thích giải phóng chất dẫn truyền thần kinh GABA, mở kênh ion Cl⁻ làm tê liệt tế bào cơ.
  2. Flubendiamide 20% (nồng độ xử lý 0,4 g/L nước): Kích hoạt chọn lọc thụ thể Ryanodine trên màng lưới nội chất côn trùng, giải phóng canxi nội bào mất kiểm soát gây co cứng cơ.
  3. Dinotefuran 20% (nồng độ xử lý 0,5 g/L nước): Nhóm Neonicotinoid thế hệ 3, ức chế thụ thể nicotinic acetylcholine (nAChR).
  4. Bacillus thuringiensis var. kurstaki ($4,4 \times 10^8\text{ CFU/mL}$, liều lượng 2 g/L nước): Độc tố protein tinh thể Cry phá hủy màng ruột giữa sâu non.
  5. Petroleum Spray Oil 99% (Dầu khoáng, liều lượng 10 mL/L nước): Cơ chế bịt lỗ thở gây ngạt hô hấp cơ học.
  6. Azadirachtin 0.3% (5 mL/L nước): Chiết xuất từ hạt xoan Ấn Độ (Azadirachta indica), ức chế hormone lột xác Ecdysone.

Methodology

  • Quy trình điều tra thực địa: Áp dụng phương pháp lấy mẫu 5 điểm chéo góc ngẫu nhiên trên mỗi vườn dừa diện tích $\ge 5.000\text{ m}^2$. Khảo sát 10 cây/điểm ($n = 50\text{ cây/vườn}$), kiểm tra 30 lá chét/cây ở tầng lá giữa.
  • Tiêu chuẩn phân cấp hại: 5 cấp theo quy chuẩn Cục BVTV (C0: 0%; C1: $<20%$; C2: 21-40%; C3: 41-60%; C4: 61-80%; C5: $>80%$ diện tích lá chét bị phá hủy).
  • Thiết kế thí nghiệm: Bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên đơn yếu tố (CRD) với 3 lần lặp lại trong điều kiện buồng nuôi chuẩn hóa ($28 \pm 2^\circ\text{C}$, độ ẩm $75 \pm 5%$, quang chu kỳ L:D = 12:12).
  • Kiểm soát rủi ro & sai số: Toàn bộ lá dừa đối chứng và xử lý đều thu thập từ cùng một vườn dừa sạch thuốc; sâu đầu đen và bọ đuôi kìm được nhân nuôi đồng lứa F1 trong phòng thí nghiệm.

Implementation và kết quả

Development process

Dữ liệu thực nghiệm được thu thập theo từng pha nghiêm ngặt:

  • Pha 1: Khảo sát thực địa (Tháng 5 - Tháng 7/2022): Định vị GPS và lập bản đồ mức độ xâm nhiễm tại 30 vườn thuộc 3 xã Mỏ Cày Bắc.
  • Pha 2: Nhân dòng sinh học (Tháng 6 - Tháng 8/2022): Nuôi sinh khối sâu đầu đen trên lá dừa tươi và bọ đuôi kìm trên thức ăn nhân tạo kết hợp ấu trùng sâu non.
  • Pha 3: Thử nghiệm độc học tiếp xúc - vị độc (Tháng 8 - Tháng 10/2022): Nhúng đoạn lá dừa (chiều dài 10-13 cm) vào dung dịch thuốc trong 3 giây, ráo nước tự nhiên 20 phút trước khi cấp sâu thử nghiệm.

Thuật toán tính toán hiệu lực diệt sâu được lập trình và phân tích bằng RStudio sử dụng công thức hiệu chỉnh Abbott:

# Script xử lý thống kê hiệu lực thuốc BVTV và phân hạng ANOVA LSD
library(agricolae)

# 1. Định nghĩa công thức Abbott tính hiệu lực hiệu chỉnh (%)
abbott_efficacy <- function(live_control, live_treatment) {
  efficacy <- ((live_control - live_treatment) / live_control) * 100
  return(pmax(0, efficacy))
}

# 2. Chuyển đổi dữ liệu góc Arcsin (sqrt(p)) để ổn định phương sai
data_experiment$transformed_y <- asin(sqrt(data_experiment$mortality / 100))

# 3. Chạy mô hình phân tích phương sai 1 yếu tố (One-Way ANOVA)
model <- aov(transformed_y ~ Treatment, data = data_experiment)
summary_table <- summary(model)

# 4. Trắc nghiệm phân hạng LSD (Fisher's Least Significant Difference) ở mức alpha = 0.01
lsd_output <- LSD.test(model, "Treatment", p.adj = "none", alpha = 0.01, group = TRUE)
print(lsd_output$groups)

Testing và validation

Hiệu lực diệt trừ sâu đầu đen của 6 hoạt chất được kiểm chứng qua 2 giai đoạn tuổi sâu (tuổi 2 đại diện sâu non mới nở; tuổi 5 đại diện sâu non tuổi lớn có sức đề kháng cao).

Hoạt chất Liều lượng Hiệu lực trừ sâu T2 (72h) Hiệu lực trừ sâu T5 (72h) F-value (T2) F-value (T5)
Emamectin benzoate 5% 0,5 g/L 100,0% a 96,6% a 42,2** 19,8**
Flubendiamide 20% 0,4 g/L 93,3% a 83,3% a 42,2** 19,8**
Dinotefuran 20% 0,5 g/L 76,6% a 36,6% b 42,2** 19,8**
Petroleum Spray Oil 99% 10 mL/L 26,6% b 16,6% bc 42,2** 19,8**
Bacillus thuringiensis 2 g/L 10,0% bc 16,6% bc 42,2** 19,8**
Azadirachtin 0.3% 5 mL/L 6,6% bc 6,6% cd 42,2** 19,8**
Đối chứng (Nước cất) - 0,0% c 0,0% d - -

(Ghi chú: Các chữ cái khác nhau trong cùng một cột chỉ sai khác có ý nghĩa thống kê ở mức $p < 0,01$ theo trắc nghiệm LSD).

Tác động gây độc của 2 hoạt chất triển vọng lên ấu trùng tuổi 4 của bọ đuôi kìm (Chelisoches variegatus) theo các thời điểm thả:

Nghiệm thức Tỷ lệ chết BĐK thả sau 1h (72h theo dõi) Tỷ lệ chết BĐK thả sau 24h (72h theo dõi) Tỷ lệ chết BĐK thả sau 72h (72h theo dõi)
Emamectin benzoate (0,5 g/L) 65,0% a 28,3% a 30,0% a
Flubendiamide (0,4 g/L) 3,3% b 3,3% b 3,3% b
Đối chứng (Nước) 0,0% b 0,0% b 0,0% b
Mức ý nghĩa ($p$-value) ** (F = 84,9) ** (F = 21,6) ** (F = 18,2)

Kết quả đạt được

  1. Về mặt hiện trạng dịch hại:

    • Xã Tân Thành Bình bị gây hại nặng nề nhất với tỷ lệ cây bị hại đạt 100%, tỷ lệ tàu lá bị hại đạt $81,3 \pm 13,0%$, chỉ số hại (DI) $56,5 \pm 14,0%$, mật độ sâu non lên tới $28,1 \pm 31,1\text{ con/30 lá chét}$ và mật độ nhộng $8,2 \pm 7,3\text{ nhộng/30 lá chét}$.
    • Xã Tân Phú Tây và Tân Bình có chỉ số hại lần lượt là $38,6 \pm 26,9%$ và $34,8 \pm 22,6%$. Toàn huyện có chỉ số hại trung bình $43,3 \pm 11,6%$, phản ánh áp lực dịch hại từ trung bình đến cao.
  2. Về hiệu lực phòng trừ:

    • Emamectin benzoate thể hiện tác động triệt hạ cực nhanh (đạt 90,0% trên sâu tuổi 2 chỉ sau 12 giờ và đạt 100% sau 72 giờ; trên sâu tuổi 5 đạt 96,6% sau 72 giờ).
    • Flubendiamide đạt hiệu lực xuất sắc sau 72 giờ (93,3% trên sâu tuổi 2 và 83,3% trên sâu tuổi 5).
  3. Về tính an toàn sinh thái:

    • Flubendiamide chứng minh tính chọn lọc vượt trội: tỷ lệ gây chết bọ đuôi kìm chỉ dừng ở mức 3,3% (tương đương lô đối chứng không xử lý thuốc) ở cả 3 mốc thời gian cách ly (1 giờ, 24 giờ, 72 giờ).
    • Ngược lại, Emamectin benzoate gây độc rất mạnh cho thiên địch nếu thả ngay sau 1 giờ (tỷ lệ chết 65,0%), và vẫn duy trì tỷ lệ độc tính 28,3% - 30,0% sau 24 đến 72 giờ.

Đổi mới và đóng góp

  • Xác lập dẫn liệu độc chất học chọn lọc đầu tiên tại Bến Tre: Nghiên cứu đã chứng minh bằng thực nghiệm rằng Flubendiamide 20% là hoạt chất có khả năng diệt sâu đầu đen mạnh tương đương Emamectin benzoate nhưng an toàn tuyệt đối cho loài bọ đuôi kìm Chelisoches variegatus.
  • Tối ưu hóa chiến lược thả thiên địch: Xác định chính xác khoảng thời gian cách ly sinh học an toàn. Nếu sử dụng Emamectin benzoate, bắt buộc phải cách ly tối thiểu 5 - 7 ngày mới được phóng thích thiên địch; trong khi với Flubendiamide, có thể thả bọ đuôi kìm chỉ sau 1 giờ xử lý.
  • Tiêu chuẩn hóa dữ liệu dịch tễ không gian: Lập hồ sơ định vị tọa độ GPS và cấp hại thực địa cho 30 vườn dừa, tạo cơ sở dữ liệu nền cho Trạm BVTV huyện Mỏ Cày Bắc quản lý ổ dịch.
So sánh chỉ số an toàn sinh thái:
Flubendiamide 20%  : [████████████████████] Hiệu lực sâu hại: 93,3% | Độc tính thiên địch: 3,3%  (Tối ưu)
Emamectin benzoate: [████████████████████] Hiệu lực sâu hại: 100%  | Độc tính thiên địch: 65,0% (Độc cao)
Dinotefuran 20%   : [█████████████░░░░░░░] Hiệu lực sâu hại: 76,6% | Độc tính thiên địch: Chưa chọn lọc

Ứng dụng thực tế và triển khai

Kịch bản ứng dụng thực địa

  1. Vùng ổ dịch bùng phát cấp tính (Chỉ số hại $>50%$ như Tân Thành Bình):
    • Phun bao vây bằng Flubendiamide 20% (liều lượng 0,4 g/L, tương đương 6 - 7 L nước thuốc/cây) nhằm dập tắt nhanh ấu trùng tuổi nhỏ và tuổi lớn mà không làm tổn thương quần thể bọ đuôi kìm hiện hữu trong tán dừa.
  2. Vùng nhiễm nhẹ hoặc vùng đệm bảo vệ (Chỉ số hại $<35%$ như Tân Bình):
    • Kết hợp phun sinh học vi sinh Bt luân phiên và nhân thả định kỳ bọ đuôi kìm vàng với mật độ phóng thích 10 - 15 cặp trưởng thành/cây.

Yêu cầu triển khai và dự toán kinh tế

  • Thiết bị: Máy phun áp lực cao đầu béc dài hoặc thiết bị bay không người lái (UAV/Drone) có đầu phun ly tâm định hướng mặt dưới tán lá.
  • Phân tích chi phí - lợi ích (Cost-Benefit Analysis):
    • Chi phí xử lý thuốc chọn lọc Flubendiamide: ~35.000 - 40.000 VNĐ/cây/lần.
    • Tổn thất nếu không kiểm soát: Giảm 80% năng suất dừa trái trong 4 năm liên tục (ước tính thiệt hại 300.000 - 500.000 VNĐ/cây/năm).
    • Tỷ suất sinh lời ROI: Đầu tư 1 đồng chi phí bảo vệ thực vật chọn lọc ngăn chặn được 8 - 12 đồng thiệt hại sản lượng.

Hạn chế và hướng phát triển

  • Hạn chế kỹ thuật: Đánh giá độc tính mới dừng lại ở quy mô phòng thí nghiệm (In-vitro), chưa tính toán đầy đủ các yếu tố ngoại cảnh như nhiệt độ cao, bức xạ mặt trời và sự rửa trôi do mưa tại thực địa.
  • Hạn chế đối tượng thiên địch: Đề tài mới khảo sát tác động trên ấu trùng tuổi 4 của bọ đuôi kìm, chưa mở rộng trên các loài ong ký sinh quan trọng khác như Goniozus nephantidisBracon brevicornis.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    1. Thử nghiệm công nghệ tiêm thân vi áp lực với Flubendiamide để đưa thuốc trực tiếp vào mạch libe của cây dừa cao tầng.
    2. Xây dựng mô hình phối hợp giữa phun hóa học chọn lọc tầng tán và bẫy bọ đuôi kìm nhân tạo ở nách bẹ lá dừa.

Đối tượng hưởng lợi

  • Sinh viên & Học viên chuyên ngành BVTV / Nông học: Cung cấp tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp bố trí thí nghiệm độc chất học côn trùng theo chuẩn Abbott và phân tích thống kê nông nghiệp bằng phần mềm R.
  • Kỹ sư Nông nghiệp & Cán bộ Khuyến nông: Nắm bắt cơ chế và liều lượng kỹ thuật chính xác của các hoạt chất thế hệ mới, từ đó xây dựng phác đồ trị dịch chuẩn xác cho địa phương.
  • Hộ nông dân & Hợp tác xã trồng dừa: Tiếp cận giải pháp bảo vệ mùa màng hiệu quả cao, tiết kiệm chi phí phun xịt lặp lại, bảo toàn thiên địch bản địa trong vườn dừa sinh thái.
  • Doanh nghiệp chế biến & Xuất khẩu dừa: Duy trì vùng nguyên liệu dừa ổn định, kiểm soát dư lượng thuốc BVTV theo tiêu chuẩn Organic và VietGAP.

Câu hỏi thường gặp

1. Yêu cầu kỹ thuật tối thiểu để triển khai giải pháp phun Flubendiamide trên vườn dừa thực tế là gì?

Cần sử dụng máy phun thuốc áp lực cao công suất $\ge 2\text{ HP}$ với vòi phun áp lực vươn tới tán lá cao 12-15 m, hoặc thiết bị bay Drone nông nghiệp chuyên dụng. Dung dịch thuốc Flubendiamide 20% pha đúng nồng độ 0,4 g/L nước (tương đương 40 g thuốc/100 L nước), phun ướt đẫm toàn bộ mặt dưới của các tàu lá già và bánh tẻ.

2. Tại sao Emamectin benzoate có hiệu lực diệt sâu 100% nhưng lại không được khuyến cáo ưu tiên cho quy trình IPM?

Emamectin benzoate có độc tính tiếp xúc cao đối với côn trùng có ích. Dữ liệu thực nghiệm chứng minh hoạt chất này gây chết 65,0% bọ đuôi kìm nếu tiếp xúc sau 1 giờ và vẫn gây chết 30,0% sau 72 giờ, làm phá vỡ cân bằng sinh thái tự nhiên và khiến vườn dừa dễ bị tái phát dịch hại sau khi thuốc hết hiệu lực.

3. Có thể kết hợp thả bọ đuôi kìm ngay sau khi phun Flubendiamide được không?

Hoàn toàn có thể. Dữ liệu thực nghiệm xác nhận tỷ lệ chết của bọ đuôi kìm tuổi 4 chỉ ở mức 3,3% (không có sai khác thống kê so với đối chứng nước cất) ngay cả khi thả bọ chỉ sau 1 giờ phun thuốc.

4. Chi phí xử lý Flubendiamide so với các dòng thuốc thông thường chênh lệch như thế nào?

Giá thành hoạt chất Flubendiamide cao hơn khoảng 15 - 20% so với các gốc thuốc cúc tổng hợp hoặc lân hữu cơ cũ, tuy nhiên số lần phun giảm từ 3 - 4 lần xuống còn 1 - 2 lần/vụ nhờ hiệu lực lưu dẫn kéo dài và bảo tồn được thiên địch tự tiêu diệt sâu non sót lại, giúp giảm tổng chi phí bảo vệ thực vật 30%.

5. Sâu đầu đen có nguy cơ kháng thuốc Flubendiamide sau nhiều lần phun không?

Có. Côn trùng bộ Lepidoptera có khả năng đột biến thụ thể Ryanodine nếu tiếp xúc liên tục với một nhóm hoạt chất. Khuyến cáo luân phiên Flubendiamide với các chế phẩm sinh học Bacillus thuringiensis hoặc hoạt chất ức chế lột xác theo chu kỳ 2 lứa sâu liên tiếp.

Kết luận

Đề tài đã hoàn thành xuất sắc việc lượng hóa hiện trạng xâm nhiễm của sâu đầu đen (Opisina arenosella) tại huyện Mỏ Cày Bắc, Bến Tre với tỷ lệ cây bị hại lên tới 97,6% và chỉ số hại trung bình 43,3%. Thông qua các thí nghiệm độc chất học nghiêm ngặt, nghiên cứu đã tìm ra hoạt chất tối ưu Flubendiamide 20% (liều lượng 0,4 g/L) đạt hiệu lực trừ sâu đầu đen tuổi 2 là 93,3% và tuổi 5 là 83,3%, đồng thời an toàn gần như tuyệt đối với thiên địch bọ đuôi kìm Chelisoches variegatus (tỷ lệ chết chỉ 3,3%). Đây là mắt xích khoa học cốt lõi giúp các cơ quan quản lý nông nghiệp và người trồng dừa xây dựng quy trình phòng trừ dịch hại tổng hợp bền vững, bảo vệ giá trị kinh tế của thủ phủ dừa Việt Nam.