Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ AN TOÀN LAO ĐỘNG VÀ PHÁP LUẬT AN TOÀN LAO ĐỘNG THEO PHÁP LUẬT LAO ĐÔNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1. Khái quát chung về an toàn lao động 1. Khái niệm an toàn lao động Từ năm 1995, khi Bộ Luật lao động có hiệu lực, tên gọi "An toàn, vệ sinh lao động” chính thức được sử dụng làm tiêu đề của Chương IX trong Bộ luật Lao động; hai thuật ngữ Bảo hộ lao động và An toàn vệ sinh lao động đều phổ biến trong trong văn bản pháp luật với ý nghĩa tương đồng, chưa có các khái niệm độc lập về ATLĐ. Ngày 25 tháng 6 năm 2015, Luật An toàn vệ sinh lao động số 84/2015/QH13 được Quốc hội nước Việt Nam thông qua ngày và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2016, tại điều 3, Luật an toàn vệ sinh lao động lần đầu tiên đề cập đến khái niệm an toàn lao động riêng biệt "An toàn lao động là giải pháp phòng, chống tác động của các yếu tố nguy hiểm nhằm bảo đảm không xảy ra thương tật, tử vong đối với con người trong quá trình lao động".
Bên cạnh khái niệm về an toàn lao động còn có một số khái niệm liên quan có tác dụng làm rõ hoặc chỉ ra các nguyên nhân, nguy cơ gây ra tai nạn lao động, như: - Yếu tố nguy hiểm là yếu tố gây mất an toàn, làm tổn thương hoặc gây tử vong cho con người trong quá trình lao động. - Sự cố kỹ thuật gây mất an toàn lao động là hư hỏng của máy, thiết bị, vật tư, chất vượt quá giới hạn an toàn kỹ thuật cho phép, xảy ra trong quá trình lao động và gây thiệt hại hoặc có nguy cơ gây thiệt hại cho con người, tài sản và môi trường. 6 n - Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động. Từ khái niệm về an toàn lao động, khái niệm tai nạn lao động, điều kiện hưởng chế độ tai nạn lao động "Kể cả khi đang thực hiện các nhu cầu sinh hoạt cần thiết tại nơi làm việc hoặc trong giờ làm việc mà Bộ luật lao động và nội quy của cơ sở sản xuất, kinh doanh cho phép, bao gồm nghỉ giải lao, ăn giữa ca, ăn bồi dưỡng hiện vật, làm vệ sinh kinh nguyệt, tắm rửa, cho con bú, đi vệ sinh; trên tuyến đường đi từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc từ nơi làm việc về nơi ở trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý"[19,tr.31] cho thấy khái niệm về an toàn lao động chưa thể hiện rõ các nội dung tương ứng với điều kiện chi trả chế độ tai nạn lao động.
Do đó, theo tác giả nên bổ sung để đảm bảo tính thống nhất trong pháp luật an toàn lao động với khái niệm như sau"An toàn lao động là giải pháp phòng, chống tác động của các yếu tố nguy hiểm nhằm bảo đảm không xảy ra thương tật, tử vong đối với con người trong quá trình lao động và quá trình thực hiện các công việc liên quan trực tiếp đến nhiệm vụ được giao". Đặc điểm của an toàn lao động [16, tr.11] - Mang tính pháp luật: Tất cả những chế độ, chính sách, quy phạm, tiêu chuẩn của Nhà nước về an toàn lao động đã ban hành đều mang tính pháp luật. Pháp luật an toàn lao động được ban hành nhằm bảo vệ người lao động trong sản xuất, nó là cơ sở pháp lý bắt buộc các tập thể cá nhân có tham gia vào hoạt động lao động phải có tránh nhiệm nghiêm chỉnh thực hiện. - Tính khoa học - kỹ thuật: Mọi hoạt động trong công tác an toàn lao động từ điều tra, khảo sát điều kiện lao động, phân tích đánh giá các yếu tố nguy hiểm, độc hại và ảnh hưởng của chúng đến an toàn lao động cho đến việc đề xuất và thực hiện các giải pháp phòng ngừa, xử lý khắc phục đều phải 7 n vận dụng các kiến thức lý thuyết và thực tiễn trong các lĩnh vực khoa học - kỹ thuật chuyên ngành hoặc tổng hợp nhiều chuyên ngành, nhiều lĩnh vực như thông gió, chiếu sáng, cơ khí, tâm sinh lý học lao động.
- Mang tính xã hội rộng rãi: An toàn lao động liên quan đến tất cả mọi người tham gia sản xuất. Người lao động chính là người vận hành, sử dụng các dụng cụ, thiết bị máy móc, nguyên vật liệu nên họ có thể phát hiện được những thiếu sót trong công tác an toàn lao động, đóng góp xây dựng các biện pháp ngăn ngừa, đóng góp xây dựng hoàn thiện các tiêu chuẩn, quy phạm an toàn lao động. Pháp luật an toàn lao động ở Việt Nam hiện nay 1. Khái niệm pháp luật an toàn lao động Pháp luật về an toàn lao động là toàn bộ các quy phạm pháp luật để điều chỉnh các mối quan hệ, xác định trách nhiệm, quyền hạn, nghĩa vụ của các cấp chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội, người sử dụng lao động, người lao động, các cơ sở sản xuất kinh doanh, cơ quan, đơn vị, người quản lý trong lĩnh vực an toàn lao động [16,tr.
Tác giả có thể khẳng định đây là khái niệm đầy đủ và bao trùm nhất về phát luật an toàn lao động. Đặc điểm của pháp luật an toàn lao động - Pháp luật về an toàn lao động có tính chất quyền uy và phục tùng, được quy định theo các bước rất chặt chẽ, đòi hỏi phải thực thi nghiêm chỉnh, vì nếu không tuân thủ hoặc tuân thủ không đến nơi, đến chốn sẽ dẫn đến nguy cơ tai nạn lao động. Nội dung quy phạm an toàn lao động không có sự thỏa thuận hay bình quyền mà chỉ có thuộc tính “bắt buộc” hay nghĩa vụ, trách nhiệm thực hiện. Bởi các quy định này liên quan trực tiếp đến sức khỏe, thể lực và sinh mạng con người, liên quan nhiều đến trình tự và thủ tục phức tạp buộc phải tuân thủ nghiêm ngặt, trong quá trình áp dụng nếu không hậu quả sẽ khó lường.
8 n - Pháp luật về ATLĐ chịu sự tác động rất lớn của các văn bản pháp luật của nhiều cơ quan và lĩnh vực khác nhau; vì ở nơi nào có sản xuất, kinh doanh, có lao động thì ở đó có nguy cơ mất ATLĐ cho nên các cơ quan có thẩm quyền phải có các quy định riêng nhằm bảo đảm an toàn lao động cho lĩnh vực đó. Cũng do tính đặc thù của ATLĐ mà phạm vi điều chỉnh rất rộng, phủ kín toàn bộ mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, cả trong các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế trong nước và nước ngoài có sử dụng người lao động; các trang trại, trong nông nghiệp, trong các cơ quan hành chính… miễn là ở đó có hoạt động lao động, làm việc. Đối tượng điều chỉnh của pháp luật về an toàn cũng vì thế rất phong phú bao gồm mọi người lao động có giao kết hay không có giao kết hợp đồng lao động đang làm việc trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Vì vậy pháp luật về an toàn lao động có tác động sâu, rộng đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đòi hỏi, mọi cấp, mọi ngành, mọi cơ quan, tổ chức, hiệp hội, mọi cá nhân có liên quan đều phải thực hiện.
Pháp luật về an toàn lao động vì thế có vị thế quan trọng trong các chính sách của Nhà nước. - Các quy định về ATLĐ có tính phòng ngừa cao, bởi nếu vi phạm các quy định ấy sẽ dẫn đến mất người, mất của, sự thiệt hại cả vật chất và tinh thần là vô cùng lớn, do vậy các quy định về ATLĐ phải chặt chẽ và phải được đảm bảo thực hiện, không để xảy ra mất an toàn. Trong pháp luật về ATLĐ thì tính phòng ngừa có ý nghĩa vô cùng quan trọng vì sự phòng ngừa càng tốt bao nhiêu, càng chuẩn bị kỹ bao nhiêu thì hiệu quả của ATLĐ càng tốt bấy nhiêu. Nguợc lại nếu các biện pháp phòng ngừa không được chuẩn bị kỹ luỡng sẽ gây mất ATLĐ, dẫn đến mất nguời, mất của và sự trả giá là không tính đuợc.
Do tính phòng ngừa là một trong những đặc điểm riêng có của pháp luật về ATLĐ, nên các quy định về an toàn lao động phải tính đến các điều kiện, yếu tố ảnh hưởng, tác động đến điều kiện lao động mà trước khi 9 n hoạt động, những đối tượng liên quan có trách nhiệm phải chuẩn bị và có kế hoạch chu đáo. - Pháp luật về ATLĐ có tính quần chúng. Chỉ khi mọi người lao động và người sử dụng lao động nhận thức rõ tầm quan trọng của ATLĐ và tự giác thực hiện thì mới đạt hiệu quả. Bởi nguời lao động là những người trực tiếp thực hiện quy phạm, quy chuẩn kỹ thuật và các biện pháp kỹ thuật an toàn, tự mình gánh chịu hậu quả nếu vi phạm và cũng thường là người đầu tiên phát hiện sự cố, sai sót để đề xuất cách thức cải tiến kỹ thuật, biện pháp an toàn; do vậy chỉ khi chính họ tự giác thực hiện thì yếu tố phòng ngừa mới hiệu quả.
- Các quy định về an toàn lao động mang tính chất khoa học kĩ thuật rõ nét: Các biện pháp nhằm hạn chế, loại trừ các yếu tố nguy hiểm, tác động đến thân thể người lao động trong quá trình làm việc đều dựa trên những cơ sở khoa học- tự nhiên; bao gồm các hoạt động điều tra, kiểm soát điều kiện lao động; phân tích, đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố nguy hiểm đối với người lao động; giải quyết xử lý điều kiện, môi trường lao động; ban hành các tiêu chuẩn kĩ thuật an toàn lao động đối với từng ngành nghề, lĩnh vực; cải tiến trang thiết bị kĩ thuật, công nghệ sản xuất.Các quy định về tiêu chuẩn kĩ thuật đối với môi trường làm việc, điều kiện làm việc, máy móc thiết bị. là những quy định thể hiện kết quả cuối cùng của việc nghiên cứu các yếu tố khoa học- kĩ thuật, sinh học trong môi trường làm việc và sự ảnh hưởng của nó đến sức khỏe, tính mạng của người lao động trong môi trường tương ứng. Mục đích, ý nghĩa của pháp luật an toàn lao động - Mục đích của pháp luật an toàn lao động: Pháp luật an toàn lao động được xây dựng để mọi người quán triệt và thực hiện nghiêm chỉnh nhằm giảm thiểu tai nạn lao động trong sản xuất, kinh doanh.