Chương 1 TỔNG QUAN VỀ AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG 1. Tổng quan công tác quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh lao động 1. Khái niệm quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh lao động Quản lý nhà nước (QLNN) thường được hiểu: là sự tác động thực tế mang tính tổ chức và điều chỉnh của nhà nước (thông qua hệ thống các cơ cấu của nhà nước) lên sinh hoạt xã hội, cá nhân, tổ chức của con người nhằm mục đích chấn chỉnh trật tự, duy trì hoặc cải tạo nó, dựa trên cơ sở quyền lực của nhà nước. Đây thực chất là sự biểu hiện khả năng của nhà nước trong việc tổ chức và điều chỉnh đời sống xã hội.
Để quản lý, Nhà nước cần đặt ra các quy tắc hành vi ứng xử của con người và ban hành các quyết định quản lý tác động trực tiếp và tạo ra những thay đổi thật sự trong đời sống của toàn xã hội. Vậy QLNN về an toàn vệ sinh lao động là gì? Để hiểu khái niệm công tác QLNN về an toàn vệ sinh lao động, trước hết phải hiểu các vấn đề về an toàn vệ sinh lao động. An toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) là các hoạt động đồng bộ trên các mặt pháp luật, tổ chức quản lý, kinh tế xã hội, khoa học công nghệ nhằm cải thiện điều kiện lao động, bảo đảm an toàn và vệ sinh lao động, phòng chống TNLĐ và BNN, bảo vệ tính mạng và sức khỏe cho con người trong lao động [14]. Cải thiện điều kiện lao động cho người lao động làm việc trong môi trường lao động an toàn có ý nghĩa cực kỳ to lớn.
Bởi lẽ, cải thiện điều kiện lao động là đang cải thiện tổng thể các yếu tố về kinh tế, xã hội, tổ chức, kỹ thuật, tự nhiên thể hiện qua quá trình công nghệ, công cụ lao động, đối tượng lao động, môi trường lao động, con người lao động, và sự tác động qua lại giữa chúng tạo nên những điều kiện cần thiết cho hoạt động của con người trong quá trình sản xuất. Hay nói khác, muốn tiến hành sản xuất được thuận lợi thì phải tiến hành công tác an toàn, vệ sinh lao động cho người lao động. Cải thiện điều kiện lao động không những bảo vệ sức khỏe, tránh 8 BNN cho người lao động mà còn nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm. Để cải thiện điều kiện làm việc cần phải làm thay đổi tính chất công việc cũng như cải thiện tình trạng vệ sinh môi trường làm việc.
Đây chính là mục tiêu chủ yếu của công tác đảm bảo ATVSLĐ trong các doanh nghiệp nói chung. Về khái niệm hệ thống quản lý ATVSLĐ: Tổ chức Lao động thế giới (ILO) định nghĩa như sau: “Hệ thống quản lý ATVSLĐ là tập hợp các yếu tố (thành phần) liên quan và tương tác lẫn nhau để thiết lập chính sách và các mục tiêu, và đạt được các mục tiêu đó” [3]. Viện Tiêu chuẩn Vương quốc Anh (BSI) cũng đã định nghĩa về hệ thống an toàn, vệ sinh lao động trong Tiêu chuẩn OHSAS 1800:2017 như sau: “Hệ thống quản lý an toàn, vệ sinh lao động là một phần của hệ thống quản lý của tổ chức được sử dụng để xây dựng và thực hiện chính sách về an toàn, vệ sinh lao động và quản lý các rủi ro an toàn, vệ sinh lao động của tổ chức đó” [18]. Nội dung các định nghĩa trên đều cho thấy quản lý ATVSLĐ mang tính tổ chức để xây dựng và thực hiện các chính sách tác động đến vấn đề an toàn, vệ sinh lao động.
Kết hợp với khái niệm quản lý nhà nước, quản lý nhà nước không chỉ mang tính tổ chức mà còn mang tính chất quyền lực, nhà nước thông qua các cơ quan có thẩm quyền, sử dụng các chính sách đã được xây dựng để tác động trực tiếp vào đời sống xã hội. Từ những vấn đề nêu trên, có thể hiểu: QLNN về an toàn, vệ sinh lao động là sự tác động mang tính tổ chức và điều chỉnh của nhà nước (thông qua hệ thống các cơ quan nhà nước) trong việc bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động nhằm bảo đảm điều kiện lao động không gây ra sự nguy hiểm cho người lao động trong sản xuất, chấn chỉnh trật tự, duy trì, hoạt động bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động dựa trên cơ sở quyền lực của nhà nước bằng các chính sách do nhà nước ban hành. Đặc điểm của quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh lao động Quản“lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động là việc nhà nước thông qua các cơ quan có thẩm quyền thực hiện quản lý các hoạt động an toàn, vệ sinh lao động. Từ khái niệm trên, có thể thấy, tính chất của QLNN về ATVSLĐ có sự liên quan mật thiết và hỗ trợ lẫn nhau bao gồm: Thứ nhất, tính pháp lý (tính quyền lực nhà nước): Vì đây là QLNN nên những quy định và nội dung về ATVSLĐ phải được thể chế hóa thành những luật lệ, chế độ chính sách và được hướng dẫn cho mọi cấp ngành, mọi tổ chức và cá nhân nghiêm chỉnh chấp hành.
Công tác QLNN về ATVSLĐ là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước đảm bảo ATVSLĐ trong các doanh nghiệp. Thông qua phương tiện nhất định, trong đó cơ bản và đặc biệt quan trọng là các văn bản quy phạm pháp luật, quyền lực nhà nước trong quản lý hành chính nhà nước về ATVSLĐ được thể hiện ở việc các chủ thể có thẩm quyền thực hiện ý chí nhà nước. Các chủ thể này ban hành văn bản quản lý hành chính nhà nước, qua đó thể hiện ý chí của mình dưới dạng các chủ trương, chính sách pháp luật nhằm định hướng cho hoạt động xã hội và áp dụng pháp luật. 10 Thứ hai, tính khoa học kỹ thuật: Cơ sở của khoa học kỹ thuật là nguồn gốc của mọi hoạt động trong công tác ATVSLĐ nhằm loại trừ các yếu tố nguy hiểm, có hại, phòng chống TNLĐ, các BNN.
Hầu hết các hoạt động từ điều tra, khảo sát, phân tích điều kiện lao động đến các hoạt động đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố độc hại để đưa ra giải pháp chống ô nhiễm, bảo đảm an toàn đề là những hoạt động khoa học kỹ thuật. Trên thực tế, muốn biết điều kiện lao động cực nhọc thành điều kiện làm việc thoải mái, loại trừ vĩnh viễn TNLĐ trong sản xuất, không chỉ phải hiểu biết về kỹ thuật chiếu sáng, kỹ thuật thông gió, cơ khí hóa, tự động hóa… mà còn cần những kiến thức về tâm lý lao động, thẩm mỹ công nghiệp, xã hội học lao động… Có thể thấy, việc vận dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật mới vào công tác đảm bảo an toàn kỹ thuật ngày càng phổ biến. Thứ ba, tính quần chúng: ATVSLĐ có liên quan đến tất cả mọi người tham gia sản xuất. Không chỉ NLĐ mà những người chủ sử dụng lao động cũng đều là những đối tượng cần được bảo vệ.
An toàn lao động là hoạt động hướng về cơ sở sản xuất và trước hết là người trực tiếp lao động. Họ là những người thường xuyên tiếp xúc với máy móc, trực tiếp thực hiện quy trình công nghệ… do đó họ có nhiều khả năng phát hiện những sơ hở trong công tác đảm bảo an toàn lao động, tham gia góp ý kiến về mẫu mã, quy cách về dụng cụ phòng hộ lao động. Do vậy, các quy trình lao động đề ra cần được phổ biến rộng rãi đến toàn thể NLĐ, để họ hiểu được tầm quan trọng của an toàn trong lao động. Muốn làm tốt công tác này, các vấn đề về ATVSLĐ phải nhận được sự quan tâm của mọi cấp, ngành, nhận được sự tham gia hợp tác tích cực của mọi NLĐ.
Chỉ khi hiểu được nó, cùng sống trong nó thì công tác thực hiện mới có hiệu quả. Thứ tư, tính thống nhất: QLNN về ATVSLĐ đối với doanh nghiệp là hoạt động đòi hỏi tính thống nhất, tổ chức chặt chẽ để đảm bảo tính pháp chế trong hoạt động hành pháp. Bộ máy các cơ quan hành pháp ở một quốc gia thường được tổ chức thành một khối thống nhất từ Trung ương tới địa 11 phương, đứng đầu là Chính phủ, điều hành thống nhất, bảo đảm lợi ích chung của cả nước, bảo đảm sự liên kết, phối hợp nhịp nhàng giữa các địa phương tạo ra sức mạnh tổng hợp trong QLNN về ATVSLĐ, tránh được sự cục bộ phân hóa giữa các địa phương hay vùng miền khác nhau. Tuy nhiên, ở các địa phương khác nhau, vùng miền khác nhau đều có những đặc thù riêng về điều kiện kinh tế, điều kiện xã hội, nên để có thể phát huy tối đa những yếu tố của từng địa phương, tạo sự năng động sáng tạo trong quản lý điều hành trong công tác ATVSLĐ, bộ máy hành chính nhà nước còn được tổ chức theo hướng phân cấp, phân quyền, chính quyền trung ương trao quyền tự quyết, tạo sự chủ động sáng tạo cho chính quyền địa phương trong thực hiện việc Quản lý nhà nước về ATVSLĐ đối với các doanh nghiệp trên địa bàn quản lý, nâng cao hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp và cải thiện đời sống người dân xung quanh.
Thứ năm, tính ổn định và liên tục: QLNN về ATVSLĐ trong các doanh nghiệp đòi hỏi tính ổn định và liên tục, bởi lẽ, nó luôn tôn trọng chỉ một điều là phục vụ người dân hay NLĐ và NSDLĐ, lấy phục vụ, công vụ và nhân dân là công việc hàng ngày, thường xuyên.” Mỗi hình thức quản lý, mỗi hành động quản lý đều vì mục tiêu và trách nhiệm đối với NLĐ. Thực thi công tác QLNN về ATVSLĐ cũng chỉ với mục tiêu cao nhất là nâng cao chất lượng cuộc sống cho NLĐ, doanh nghiệp đạt được hiệu quả cao nhất cả về kinh tế và xã hội. Do đó cần phải liên tục thực hiện các biện pháp quản lý tích cực để đáp ứng nhu cầu hàng ngày của NLĐ, NSDLĐ và của xã hội, và phải ổn định tương đối trong tổ chức hoạt động để đảm bảo hoạt động không bị gián đoạn trong bất kỳ tình huống chính trị xã hội nào. Ý nghĩa của quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh lao động Quản lý nhà nước về ATVSLĐ là rất cần thiết và quan trọng để góp phần giảm thiểu các rủi ro về ATVSLĐ, giảm thiểu thiệt hại về người và thiệt hại về kinh tế, góp phần ổn định, phát triển nền kinh tế của đất nước theo 12 hướng bền vững.
Với những quyền lực và hệ thống bộ máy hành chính và xuyên suất từ Trung ương đến địa phương nhà nước phải luôn luôn đưa ra những định hướng, quy hoạch tổng thể các hoạt động của doanh nghiệp gắn với công tác ATVSLĐ.